|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NAM TỪ LIÊM THÀNH PHỐ HÀ NỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 63/HNGĐ-ST Ngày: 19/02/2025 V/v tranh chấp hôn nhân gia đình. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NAM TỪ LIÊM – THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Thúy Quỳnh.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Phạm Thị Mai Anh;
Bà Trần Thị Oanh;
Thư ký phiên tòa: Ông Trần Hưng - Thư ký Toà án nhân dân quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội tham gia phiên toà: Bà Lưu Thị Giáng Hương - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 02 năm 2025, tại Trụ sở Toà án nhân dân quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 567/2024/TLST- HNGĐ ngày11/12/2024 về việc “Xin ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 10/2024/QÐST-HNGĐ ngày 09/01/2025, Quyết định hoãn phiên tòa số: 13/2025/QĐST-HNGĐ ngày 24/01/2025, giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Anh Kiều Minh T, sinh năm 1993;
Trú tại: Số A, ngõ D ngách G đường M, quận N, phường M, quận N, thành phố Hà Nội.
* Bị đơn: Chị Đỗ Phương T1, sinh năm 1993;
Trú tại: Số nhà F ngõ C đường M, phường M, quận N, thành phố Hà Nội.
Cùng có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại Đơn khởi kiện, quá trình tố tụng và tại phiên tòa, nguyên đơn anh Kiều Minh T trình bày:
Anh Kiều Minh T và chị Đỗ Phương T1 kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện H, tỉnh Thanh Hóa ngày 16/4/2019.
Sau khi kết hôn vợ chồng về chung sống tại số nhà F ngõ C đường M, phường M, quận N, thành phố Hà Nội.
Thời kỳ đầu chung sống hạnh phúc, đến khoảng đầu năm 2024 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, tính cách không phù hợp. Vợ chồng và gia đình hai bên đã có nhiều lần nói chuyện trao đổi để hàn gắn nhưng không có kết quả. Vợ chồng sống ly thân và từ 25/12/2024, anh T đã thuê nhà ở riêng và đăng ký tạm trú tại số 17a, ngõ D ngách G đường M, quận N, thành phố Hà Nội. Nay anh T xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, đề nghị Tòa án cho anh được ly hôn với chị Đỗ Phương T1 để ổn định cuộc sống.
Về con chung: Anh Kiều Minh T và chị Đỗ Phương T1 có một con chung là cháu Kiều Nhật M, sinh ngày 03/7/2020. Ly hôn, anh T có nguyện vọng được nuôi cháu Nhật M và không yêu cầu chị T1 phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: anh Kiều Minh T không yêu cầu Toà án giải quyết.
Về công nợ: Vợ chồng không nợ ai và không cho ai vay nợ, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Hiện anh Kiều Minh T là sỹ quan công an thành phố H, mức thu nhập trung bình 15.000.000 đồng/ tháng. Về chỗ ở, hiện anh T đang thuê nhà ở tại số 17a, ngõ D ngách G đường M, quận N, thành phố Hà Nội.
Về án phí: Anh Kiều Minh T tự nguyện chịu cả án phí theo quy định pháp luật.
* Bị đơn chị Đỗ Phương T1 trình bày:
Chị thừa nhận lời khai của anh Kiều Minh T về thời gian, điều kiện kết hôn và nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng là đúng. Vợ chồng anh chị đã sống ly thân từ tháng 11 năm 2024 cho đến nay. Từ tháng 12/2024 anh T đã chuyển ra ở riêng. Nay anh T xin ly hôn, chị đồng ý, đề nghị tòa án giải quyết cho chị và anh T ly hôn để ổn định cuộc sống.
Về con chung: Vợ chồng anh chị có một con chung là cháu Kiều Nhật M, sinh ngày 03/7/2020. Ly hôn, chị đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Kiều Nhật M và không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
Hiện chị là nhân viên kinh doanh của Công ty cổ phần D. Mức thu nhập trung bình: 20.000.000 đồng/ tháng. Hiện chị đang ở Số nhà F ngõ C đường M, phường M, quận N, thành phố Hà Nội là nơi anh chị sinh sống từ khi chuyển ra Hà Nội sinh sống và ở ổn định cho đến nay.
Về tài sản chung: chị Đỗ Phương T1 không yêu cầu Toà án giải quyết.
Về công nợ: Vợ chồng không nợ ai và không cho ai vay nợ, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Tại phiên toà: Anh Kiều Minh T giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Chị Đỗ Phương T1 giữ nguyên các ý kiến đã trình bày trước đây về vấn đề tình cảm, tài sản chung và công nợ. Về con chung: chị đề nghị được nuôi con chung và do tính chất công việc của chị không ổn định bằng anh T nên chị yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con chung 5.000.000đồng một tháng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm phát biểu ý kiến:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của pháp luật. Các đương sự đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.
- Ý kiến giải quyết vụ án: Đề nghị chấp nhận đơn khởi kiện của anh Kiều Minh T, xử cho anh T được ly hôn với chị Đỗ Phương T1.Về con chung: Giao cho anh Kiều Minh T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng con chung là cháu Kiều Nhật M, sinh ngày 03/7/2020. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Ghi nhận anh Kiều Minh T không yêu cầu chị Đỗ Phương T1 phải cấp dưỡng nuôi con chung. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung đối với chị Đỗ Phương T1 cho đến khi có sự thay đổi khác. Về tài sản chung: Anh Kiều Minh T và chị Đỗ Phương T1 không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét. Về nợ chung: anh Kiều Minh T và chị Đỗ Phương T1 thừa nhận không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét. Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về tố tụng:
Quan hệ tranh chấp giữa các đương sự trong vụ án là “Tranh chấp về ly hôn, nuôi con chung”. Chị Đỗ Phương T1 hiện đang cư trú tại số nhà F ngõ C đường M, phường M, quận N, thành phố Hà Nội. Căn cứ Điểm a, Khoản 1, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội.
[2]. Về nội dung:
[2.1]. Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
Anh Kiều Minh T và chị Đỗ Phương T1 kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại trụ sở UBND xã T, huyện H, tỉnh Thanh Hóa ngày 16/4/2019, nên quan hệ hôn nhân của anh chị là hợp pháp.
Theo lời khai của anh T sau khi kết hôn, vợ chồng anh chị chung sống đến năm 2024 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, tính cách không phù hợp, mặc dù anh chị và gia đình hai bên đã cố gắng hòa giải để hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng không có kết quả. Vợ chồng đã sống ly thân và từ tháng 12/2024 anh T đã chuyển ra khỏi nhà. Chị Đỗ Phương T1 cũng thừa nhận nguyên nhân mâu thuẫn như anh T trình bày là đúng. Cả hai anh chị cùng xác nhận tình cảm vợ chồng không còn, anh T xin ly hôn, chị T1 đồng ý.
Như vậy có thể khẳng định vợ chồng anh Kiều Minh T và chị Đỗ Phương T1 đã có mâu thuẫn từ năm 2024 và qua nhiều lần hòa giải, anh T vẫn cương quyết xin ly hôn, chị T1 đồng ý ly hôn thể hiện mâu thuẫn vợ chồng anh chị đã rất trầm trọng, tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn, đời sống chung không thể kéo dài.
Vì vậy căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân gia đình, chấp nhận đơn khởi kiện của anh T, xử anh Kiều Minh T được ly hôn với chị Đỗ Phương T1.
[2.2]. Về con chung:
Anh Kiều Minh T và chị Đỗ Phương T1 có 01 (một) con chung Kiều Nhật M, sinh ngày 03/7/2020. Ly hôn, anh Kiều Minh T và chị Đỗ Phương T1 đều có nguyện vọng được nuôi dưỡng và chăm sóc cháu Kiều Nhật M, anh T không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con, còn chị T1 yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung 5.000.000 đồng một tháng.
Hội đồng xét xử nhận thấy, anh Kiều Minh T và chị Đỗ Phương T1 đều có công việc, thu nhập và chỗ ở ổn định. Tuy nhiên, xét tính chất công việc anh Kiều Minh T ổn định hơn chị Đỗ Phương T1. Cháu Kiều Nhật M là con trai, việc ở với bố sẽ giúp cháu M phát triển tâm sinh lý tốt hơn. Mặt khác bà Lê Thị L mẹ đẻ của anh T là người thường xuyên hỗ trợ chăm sóc cháu Kiều Nhật M. Bản thân bà L cùng sinh sống và đăng ký tạm trú cùng với anh T để trực tiếp hỗ trợ chăm cháu M. Trường hợp anh T được giao nuôi dưỡng cháu M bà vẫn ở cùng anh T để cháu M được chăm sóc nuôi dạy tốt nhất.
Như vậy cần giao cháu Kiều Nhật M cho anh Kiều Minh T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi các cháu Kiều Nhật M đủ 18 tuổi hoặc cho đến khi có sự thay đổi khác để đảm bảo cháu Kiều Nhật M được nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục tốt nhất.
Về cấp dưỡng nuôi con: Ghi nhận sự tự nguyện của anh Kiều Minh T không yêu cầu chị T1 phải cấp dưỡng nuôi con chung. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung đối với chị Đỗ Phương T1 cho đến khi có sự thay đổi khác.
[2.3]. Về tài sản chung: Kiều Minh T và chị Đỗ Phương T1 không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không giải quyết. Về nợ chung: Kiều Minh T và chị Đỗ Phương T1 thừa nhận không có, không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không giải quyết.
[3]. Về án phí: Anh Kiều Minh T phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
[4] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 271, Điều 272, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ vào khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTV Quốc hội khóa 14 quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Kiều Minh T, xử anh Kiều Minh T được ly hôn với chị Đỗ Phương T1.
2.Về con chung: Giao con chung là cháu Kiều Nhật M, sinh ngày 03/7/2020 cho anh Kiều Minh T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi cháu Kiều Nhật M đủ 18 tuổi hoặc có quyết định thay đổi khác.
Chị Đỗ Phương T1 có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Ghi nhận sự tự nguyện của anh Kiều Minh T không yêu cầu chị Đỗ Phương T1 phải cấp dưỡng nuôi con chung. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung đối với chị Đỗ Phương T1 cho đến khi có sự thay đổi khác.
3. Về tài sản chung: Anh Kiều Minh T và chị Đỗ Phương T1 không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về nợ chung: Anh Kiều Minh T và chị Đỗ Phương T1 thừa nhận không có, không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
4. Về án phí: Anh Kiều Minh T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, được trừ vào số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) là tiền tạm ứng án phí anh T đã nộp là theo biên lai thu số 0027756 ngày 11 tháng 12 năm 2024 của Chi cục thi hành án dân sự quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội. Xác nhận anh T đã nộp đủ án phí.
5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Thúy Quỳnh |
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Bản án số 63/HNGĐ-ST ngày 19/02/2025 của Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội về tranh chấp về ly hôn, nuôi con chung
- Số bản án: 63/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về ly hôn, nuôi con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/02/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: * Nguyên đơn: Anh Kiều Minh T, sinh năm 1993; Trú tại: Số A, ngõ D ngách G đường M, quận N, phường M, quận N, thành phố Hà Nội. * Bị đơn: Chị Đỗ Phương T1, sinh năm 1993; Trú tại: Số nhà F ngõ C đường M, phường M, quận N, thành phố Hà Nội.