TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT TỈNH BÌNH THUẬN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 63/2025/HSST Ngày: 19/02/2025 |
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Lưu Triều.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Lê Văn Toàn
- Ông Nguyễn Văn Nghị
- Thư ký phiên toà: Bà Ngô Thái Hà, Thư ký Toà án nhân dân thành phố Phan Thiết – tỉnh Bình Thuận.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết – tỉnh Bình Thuận tham gia phiên toà: Ông Chu Đức Thọ, Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 291/2024/HSST ngày 21 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 35/2025/QĐXXST – HS ngày 20/01/2025 đối với bị cáo:
Thái Minh H, T gọi khác: Không, Giới tính: Nam, Sinh năm 1987, tại Bình Thuận; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nơi ĐKHKTT: khu phố A, phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận; Chỗ ở: thôn T, xã T, thành phố P, tỉnh Bình Thuận; Trình độ học vấn: 06/12; Nghề nghiệp: không; Con ông: Thái Văn N (chết); Con bà: Lê Thị Đ, sinh năm 1956; Vợ: Lê Thị Yến N1, sinh năm 1991 (chưa đăng ký kết hôn); Con: chưa có; Tiền án: Ngày 26/02/2009 bị Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết xử phạt 36 tháng tù treo thử thách 60 tháng về tội “Cướp tài sản” theo Bản án số 21/2009/HS-ST, chấp hành xong ngày 26/02/2014 (chưa thực hiện phần bồi thường dân sự của bản án). Ngày 28/02/2022 bị Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết tuyên phạt 12 tháng tù giam về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 29/2022/HS-ST, chấp hành xong hình phạt tù ngày 31/3/2023; Tiền sự: Ngày 13/3/2021, bị Công an phường P xử phạt hành chính về hành vi “Trộm cắp tài sản” với số tiền phạt 1.500.000 đồng (Một triệu năm trăm nghìn đồng), theo Quyết định số: 0101711, hiện H chưa chấp hành việc đóng phạt; Nhân thân: không.
Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 01/10/2024, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố P, có mặt tại phiên tòa.
Bị hại: Vũ Hoàng Thảo T1, Sinh năm 1995 (vắng mặt).
Nơi cư trú: Khu phố A, phường X, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.
Người làm chứng: Bà Nguyễn Thị Sơn C, S năm 1985 (vắng mặt).
Nơi cư trú: thôn T, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào khoảng 04 giờ 00 phút, ngày 15/4/2024, Thái Minh H điều khiển xe mô tô biển số 86C1-886.63 đi trên các tuyến đường thành phố P để tìm tài sản trộm cắp. Đến khoảng 04 giờ 30 phút cùng ngày, khi đi đến trước cửa hàng H2 thuộc khu phố A, phường X, thành phố P của chị Vũ Hoàng Thảo T1 thì H phát hiện trong kho dựng tạm, không có cửa, phía trước cửa hàng H3 có để 01 tấm bảng quảng cáo, quan sát thấy không có ai trông coi nên H đã lén lút chiếm đoạt, bỏ lên xe mô tô rồi chở đến vựa ve chai của bà Nguyễn Thị Sơn C bán cho bà C với số tiền 20.000 đồng.
Do biết trong kho còn tài sản nên khoảng 04 giờ 00 phút, ngày 16/4/2024, H tiếp tục điều khiển xe mô tô biển số 86C1-886.63 chở theo 01 đối tượng tên thường gọi là N2 (không rõ nhân thân) quay lại địa chỉ trên, sau đó cả hai vào trong kho lấy thêm 01 bàn inox có chậu rửa, 01 kệ sắt rồi bỏ lên xe chở đến bán cho bà C được số tiền 410.000 đồng. Quá trình mua bán bảng quảng cáo, bàn inox và kệ sắt, H nói dối bà C là do sửa nhà, dư đồ không dùng đem đến bán ve chai nên bà C không biết đây là tài sản do trộm cắp mà có.
Toàn bộ quá trình phạm tội của H được camera an ninh tại hiện trường ghi lại. Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố P đã khai nhận hành vi phạm tội như trên.
Vật chứng của vụ án: 01 (một) xe mô tô biển số 86C1-886.63, hiệu HonDa Air blade, số khung RLHJF6320KZ094379, số máy JF63E2508172 (thu giữ của Thái Minh H).
Đối với số tài sản H lấy trộm của chị T1 gồm 01 bảng quảng cáo, 01 bàn inox có chậu rửa, 01 kệ sắt, sau khi mua lại từ H, bà C đã bán cho người khác không rõ nhân thân nên Cơ quan điều tra không thu hồi được
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 171/KL-HĐĐGTS ngày 22/8/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố P kết luận:
- Bảng quảng cáo, đã qua sử dụng, thời điểm định giá ngày 15/4/2024, Không có cơ sở xác định được giá trị tài sản;
- Bàn inox có chậu rửa bát, kích thước (180 x 60 x 80) cm, đã qua sử dụng, thời điểm định giá ngày 16/4/2024 có giá trị 2.663.000 đồng;
- Kệ sắt 02 tầng loại 40 vuông, kích thước: 2m5 x 88 cm x 1m03, bên trong có đan sắt vuông 20, dài 80 cm; đã qua sử dụng, thời điểm định giá ngày 16/4/2024, có giá trị 750.000 đồng.
Tổng cộng 3.413.000 đồng.
Xử lý vật chứng:
Đối với xe mô tô biển số 86C1- 88663, quá trình điều tra xác định là tài sản của ông Thái Minh H1 cho H mượn sử dụng. Việc H sử dụng xe trên thực hiện hành vi trộm cắp tài sản thì ông H1 không biết và cũng không được hưởng lợi gì từ hành vi phạm tội của H. Cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại xe mô tô trên cho ông H1.
Về phần dân sự: Thái Minh H đã bồi thường số tiền 3.500.000 đồng cho chị Vũ Hoàng Thảo T1, sau khi nhận tiền, chị T1 không yêu cầu gì thêm về phần dân sự.
Tại bản cáo trạng số 246/CT – VKSPT - HS ngày 31 tháng 10 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết đã truy tố bị cáo Thái Minh H về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa hôm nay, Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị hội đồng xét xử áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Thái Minh H từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù.
Bị cáo Thái Minh H thừa nhận đã thực hiện hành vi đúng như Cáo trạng truy tố. Trong phần trình bày lời nói sau cùng, bị cáo đã nhận thấy hành vi của mình là sai trái, ăn năn hối cải và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Trong các giai đoạn tố tụng từ khi khởi tố vụ án cho đến khi kết thúc việc truy tố, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Cán bộ điều tra, Kiểm sát viên đều thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, bị hại và những người tham gia tố tụng khác không khiếu nại, tố cáo về các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng là hợp pháp.
[2] Về hành vi và hậu quả: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thống nhất thừa nhận vào khoảng 04 giờ, ngày 15/4/2024, tại nhà kho của chị Vũ Hoàng Thảo T1 ở khu phố A, phường X, thành phố P, tỉnh Bình Thuận, Thái Minh H đã có hành vi lén lút chiếm đoạt một bảng quảng cáo của chị Vũ Hoàng Thảo T1. Kết quả định giá không có cơ sở xác định giá trị tài sản bị chiếm đoạt và vào khoảng 04 giờ, ngày 16/4/2024, Thái Minh H đã cùng với đối tượng tên N2 (không rõ nhân thân) tiếp tục đến nhà kho của chị T1 lén lút chiếm đoạt 01 kệ inox có chậu rửa, 01 kệ sắt có tổng giá trị 3.413.000 đồng thì bị phát hiện.
[3] Từ những nhận xét nêu trên có đủ cơ sở kết luận: Giá trị tài sản bị cáo chiếm đoạt là 3.413.000 đồng, Thái Minh H đã bị Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo bản án số 29/2022/HSST ngày 28/2/2022, với tình tiết tăng nặng “Tái phạm”, chưa được xóa án tích nên lần phạm tội này của Thái Minh H thuộc trường hợp “Tái phạm nguy hiểm” là tình tiết định khung tăng nặng hình phạt quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Vì vậy, Bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết truy tố bị cáo phạm tội “trộm cắp tài sản” quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật, không oan sai đối với bị cáo.
[4] Về lỗi của bị cáo: Khi thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản của bị hại, bị cáo nhận thức được việc làm đó là vi phạm pháp luật, thấy trước hậu quả đồng thời mong muốn chiếm đoạt được tài sản của bị hại để tiêu xài, do đó lỗi của bị cáo là lỗi cố ý trực tiếp. Bị cáo nhận thức được hành vi đó là vi phạm pháp luật, đã nhiều lần bị Tòa án xét xử và kết án về hành vi tương tự; bị cáo biết nếu bị phát hiện sẽ bị xử lý nhưng vì tham lam, tư lợi nên đã cố ý phạm tội. Hành vi của bị cáo thể hiện sự xem thường pháp luật, xem thường quyền sở hữu tài sản của người khác, gây mất an ninh trật tự tại địa phương. Do đó, việc truy tố và đưa bị cáo ra xét xử là cần thiết, cần có mức hình phạt tương xứng để cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian đủ để răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
[5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[6] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã tự nguyện bồi thường khắc phục hậu quả nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
[7] Về mức hình phạt: Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết đề nghị căn cứ vào các điều luật nêu trên để xử phạt bị cáo là phù hợp pháp luật, phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo.
[8] Về trách nhiệm dân sự: Thái Minh H đã bồi thường số tiền 3.500.000 đồng cho chị Vũ Hoàng Thảo T1, sau khi nhận tiền, chị T1 không yêu cầu gì thêm về phần dân sự nên không xem xét.
[9] Về xử lý vật chứng: Đối với xe mô tô biển số 86C1- 88663, quá trình điều tra xác định là tài sản của ông Thái Minh H1 cho H mượn sử dụng. Việc H sử dụng xe trên thực hiện hành vi trộm cắp tài sản thì ông H1 không biết và cũng không được hưởng lợi gì từ hành vi phạm tội của H. Cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại xe mô tô trên cho ông H1 là đúng quy định pháp luật.
[10] Về đối tượng liên quan: Đối với đối tượng tên thường gọi N2, là người cùng thực hiện hành vi trộm cắp tài sản với H vào ngày 16/4/2024 tại khu phố A, phường X, thành phố P, quá trình điều tra chưa xác định được đối tượng N2. Cơ quan điều tra đã ra Quyết định tách vụ án hình sự đối với hành vi trộm cắp tài sản của Nhí ngày 16/4/2024 để tiếp tục điều tra, xác minh làm rõ xử lý sau là đúng theo quy định pháp luật.
[11] Về án phí: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào:
- Điểm g khoản 2 Điều 173; điểm b, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
- Khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự
- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH1430/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Khóa XIV quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Tuyên bố bị cáo Thái Minh H phạm tội trộm cắp tài sản.
Xử phạt bị cáo Thái Minh H 02 (hai) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 01/10/2024.
- Về án phí: Bị cáo Thái Minh H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
3. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.
Nơi nhận:
- - VKSND TP. Phan Thiết;
- - VKSND tỉnh Bình Thuận;
- - TAND tỉnh Bình Thuận;
- - Công an tp Phan Thiết;
- - Người tham gia tố tụng;
- - Thi hành án thành phố Phan Thiết;
- - Lưu hồ sơ.
TM – HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm Phán-Chủ Tọa Phiên Tòa | |
Nguyễn Lưu Triều |
HỘI THẨM NHÂN DÂN | THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
Nguyễn Văn Nghị Lê Văn Toàn | Nguyễn Lưu Triều |
Bản án số 63/2025/HSST ngày 19/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT, TỈNH BÌNH THUẬN về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 63/2025/HSST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT, TỈNH BÌNH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Thái Minh H - trộm cắp tài sản
