|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 THÀNH PHỐ HÀ NỘI Số: 63/2025/HSST Ngày 24/10/2025. |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 - THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Với Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm:
- + Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lã Hùng Cường
- + Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đinh Quang Hòa; Bà Trần Bích Thủy.
Đại diện Viện kiểm sát nhân Khu vực 9 tham gia phiên tòa: Bà Cấn Thùy Dung - Kiểm sát viên sơ cấp.
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn thị Hải Phương – Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 9, thành phố Hà Nội.
Ngày 24 tháng 10 năm 2025 tại phòng xử án hình sự Tòa án nhân dân Khu vực 9, thành phố Hà Nội. Tòa án nhân dân Khu vực 9, thành phố Hà Nội tiến hành mở phiên tòa sơ thẩm công khai xét xử vụ án hình sự thụ lý số: 48/2025/HSST ngày 01 tháng 10 năm 2025 đối với bị cáo: Nguyễn Đình T, sinh năm 1989; Nơi ĐKHKTT và trú tại: Thôn T, xã P, thành phố Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hoá: 09/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Nguyễn Đình T1 ( đã chết); Con bà: Cao Thị H, sinh năm 1969; Vợ, con: Chưa; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: - Năm 2011: TAND quận Đống Đa xử phạt 09 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản ( xóa án tích); - Năm 2016: TAND quận Nam Từ Liêm xử phạt 08 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy ( đã thi hành xong án phí ngày 10/02/2017; chấp hành xong hình phạt tù ngày 26/02/2022- đã được xóa án tích);Năm 2023, cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma túy số 7- Hà Nội; Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 31/7/2025. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam số 1- Công an thành phố H. (Số giam 3978G2, buồng 6)
Người làm chứng:
Ông Khuất Qang H1; Trưởng thôn T, xã P, thành phố Hà Nội .
( Vắng mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Đình T- sinh năm 1989; trú tại: thôn T- xã P- Hà Nội là đối tượng nghiện ma túy. Ngày 29/12/2023, T bị TAND huyện Phúc Thọ (cũ) áp dụng biện pháp đưa đi cai nghiện bắt buộc trong thời hạn 18 tháng tại Cơ sở cai nghiện ma túy số 3- C (Quyết định số 30/2023/QĐ- XLHC). Tháng 5/2025, T hoàn thành việc cai nghiện bắt buộc và trở về địa phương. Sau đó, T được đưa vào diện quản lý sau cai nghiện ma túy tại nơi cư trú theo Quyết định số 174/QĐ- UBND ngày 20/5/2025 của UBND xã T ( nay là xã P)- Hà Nội. Theo đó, thời hạn quản lý sau cai nghiện đối với T là từ ngày 20/5/2025 đến ngày 20/7/2027. Trong thời gian trên, T đã có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy như sau:
Ngày 28/7/2025, T có nhu cầu sử dụng ma túy nên đã đến khu vực bến xe S tìm mua được 01 gói ma túy đá của một người phụ nữ không quen biết với giá 300.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, T đã mang ma túy cùng bộ dụng cụ tự chế (gồm 02 đoạn ống hút nhựa, 01 vỏ chai nước ngọt bằng nhựa và 01 nắp nhựa đục thủng 02 lỗ) ra ven đường nội đồng thuộc cánh đồng Đ- thôn T- P- Hà Nội để sử dụng. T cho ma túy vào ống hút rồi châm lửa tạo khói và hút trực tiếp vào cơ thể. Sau đó, để tránh bị phát hiện, T đã vứt bỏ bộ dụng cụ sử dụng ma túy xuống cống nước ven đường. Ngày 30/7/2025, tổ công tác Công an xã P tiến hành xét nghiệm tìm chất ma túy trong nước tiểu đối với Nguyễn Đình T bằng que thử nhanh ( que thử Drug test loại 4 chân) và cho kết quả dương tính với ma túy loại MDMA và MET. Tổ công tác đã đưa Nguyễn Đình T xác định hiện trường nơi T đã sử dụng ma túy. Qua xác định hiện trường, đã phát hiện và thu giữ:
- - 01 vỏ chai nhựa, bên ngoài in nhãn nước ngọt C2 màu vàng
- - 01 nắp nhựa tròn, màu trắng, mặt nắp có đục 02 lỗ nhỏ, kích thước 0,5 cm. ( T xác định đây là bộ dụng cụ T đã dùng để sử dụng ma túy ngày 28/7/2025).
Ngày 30/7/2025, cơ quan Cảnh sát điều tra- C đã ra Quyết định trưng cầu giám định số B10032 trưng cầu Trung tâm pháp y- Sở Y giám định đối với mẫu nước tiểu thu giữ của Nguyễn Đình T.
Ngày 31/7/2025, Trung tâm pháp y- Sở Y có Bản kết luận giám định số 535 kết luận: Mẫu nước tiểu vụ Nguyễn Đình T có tìm thấy các chất ma tuý là M và A.
Tại Cơ quan Điều tra bị cáo Nguyễn Đình T đã khai nhận hành vi phạm tội của mình.
*Về vật chứng: 01 vỏ chai nhựa, bên ngoài in nhãn nước ngọt C2 màu vàng; 01 nắp nhựa tròn, màu trắng, mặt nắp có đục 02 lỗ nhỏ, kích thước 0,5 cm, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 đã có Quyết định chuyển vật chứng đến phòng thi hành án dân sự khu vực 9, thành phố Hà Nội.
Tại bản cáo trạng số 50/CT-VKS - KV9 ngày 29/9/2025, Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 9, t.p Hà Nội truy tố bị cáo Nguyễn Đình T về tội: "Sử dụng trái phép chất ma túy" theo Đ b Khoản 1 Điều 256 a của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025.
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 9 truy tố; Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 9 tham gia phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Nguyễn Đình T về tội danh, điều luật như cáo trạng đã nêu.
Đề nghị HĐXX áp dụng Điểm b Khoản 1 Điều 256 a của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025. Điểm s Khoản 1 Điều 51; Điều 38 – Bộ luật hình sự năm 2015. Xử phạt bị cáo Nguyễn Đình T từ 30 đến 33 tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bắt bị cáo 31/7/2025.
* Về vật chứng vụ án: Cần áp dụng Điều 47 BLHS năm 2015; Điều 106 BLTTHS năm 2015, đề nghị HĐXX:
- - Tịch thu tiêu hủy: 01 vỏ chai nhựa, bên ngoài in nhãn nước ngọt C2 màu vàng; 01 nắp nhựa tròn, màu trắng, mặt nắp có đục 02 lỗ nhỏ, kích thước 0,5 cm,
- Theo biên bản giao nhận vật chứng đã chuyển đến Thi hành án dân sự thành phố H, thuộc khu vực 9 lập ngày 22/10/2025.
Án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; Căn cứ vào kết quả xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến kiểm sát viên, bị cáo, cùng các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Trên cở sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[ 1] Về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an thành phố H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 9, thành phố Hà Nội, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp, đúng quy định của pháp luật.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo; Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Đình T đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 9, thành phố Hà Nội đã nêu. Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của người bị hại, bản kết luận định giá tài sản, cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ. Như vậy, Hội đồng xét xử đã có đủ cơ sở để xác định:
Ngày 28/7/2025, bị cáo T có nhu cầu sử dụng ma túy nên đã đến khu vực bến xe S tìm mua được 01 gói ma túy đá của một người phụ nữ không quen biết với giá 300.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, bị cáo T đã mang ma túy cùng bộ dụng cụ tự chế (gồm 02 đoạn ống hút nhựa, 01 vỏ chai nước ngọt bằng nhựa và 01 nắp nhựa đục thủng 02 lỗ) ra ven đường nội đồng thuộc cánh đồng Đ- thôn T- P- Hà Nội để sử dụng. Bị cáo T cho ma túy vào ống hút rồi châm lửa tạo khói và hút trực tiếp vào cơ thể. Sau đó, để tránh bị phát hiện, bị cáo T đã vứt bỏ bộ dụng cụ sử dụng ma túy xuống cống nước ven đường. Ngày 30/7/2025, tổ công tác Công an xã P tiến hành xét nghiệm tìm chất ma túy trong nước tiểu đối với bị cáo Nguyễn Đình T bằng que thử nhanh ( que thử Drug test loại 4 chân) và cho kết quả dương tính với ma túy loại MDMA và MET. Tổ công tác đã đưa bị cáo Nguyễn Đình T xác định hiện trường nơi bị cáo T đã sử dụng ma túy. Qua xác định hiện trường, đã phát hiện và thu giữ:
- - 01 vỏ chai nhựa, bên ngoài in nhãn nước ngọt C2 màu vàng
- - 01 nắp nhựa tròn, màu trắng, mặt nắp có đục 02 lỗ nhỏ, kích thước 0,5 cm. ( T xác định đây là bộ dụng cụ T đã dùng để sử dụng ma túy ngày 28/7/2025).
Ngày 30/7/2025, cơ quan Cảnh sát điều tra- C đã ra Quyết định trưng cầu giám định số B10032 trưng cầu Trung tâm pháp y- Sở Y giám định đối với mẫu nước tiểu thu giữ của bị cáo Nguyễn Đình T.
Ngày 31/7/2025, Trung tâm pháp y- Sở Y có Bản kết luận giám định số 535 kết luận: Mẫu nước tiểu vụ Nguyễn Đình T có tìm thấy các chất ma tuý là M và A.
Hành vi của bị cáo Nguyễn Đình T đã cấu thành tội: "Sử dụng trái phép chất ma túy" theo Đ b Khoản 1 Điều 256 a của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025, là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Xét tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi sử dụng phép chất ma túy của bị cáo không những xâm phạm chính sách độc quyền của Nhà nước về việc quản lý chất ma túy mà còn là nguyên nhân phát sinh ra nhiều loại tội phạm và tệ nạn xã hội khác. Ma túy là độc dược, gây tổn hại sức khỏe con người, suy kiệt giống nòi, suy kiệt kinh tế đối với người sử dụng.
Việc sử dụng ma túy Methamphetamine và A, để phục vụ của bản thân, do bị cáo mắc nghiện ma túy nhiều năm nay, do vậy cần phải áp dụng hình phạt nghiêm khắc đối với bị cáo. Tuy nhiên, khi lượng hình, Hội đồng xét xử xem xét đầy đủ, toàn diện, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo để quyết định mức hình phạt phù hợp.
Về tình tiết tăng nặng: Không có.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo tỏ ra thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Do vậy bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại Điểm s Khoản 1 Điều 51- BLHS năm 2015; Bị cáo có nhân thân xấu: - Năm 2011: TAND quận Đống Đa xử phạt 09 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản ( xóa án tích); - Năm 2016: TAND quận Nam Từ Liêm xử phạt 08 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy ( đã thi hành xong án phí ngày 10/02/2017; chấp hành xong hình phạt tù ngày 26/02/2022- đã được xóa án tích);Năm 2023, cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma túy số G- Hà Nội.
Cơ quan điều tra đã tiến hành rà soát camera an ninh tại khu vực bị cáo T mua ma túy ngày 287/2025 và tại khu vực bị cáo T sử dụng ma túy ngày 28/7/2025. Tuy nhiên, tại các khu vực trên không có camera an nình nào. Nên HĐXX không xét.
Đối với người phụ nữ đã bán ma túy cho bị cáo T ngày 28/7/2025: Do bị cáo T không biết họ, tên, địa chỉ của người này nên cơ quan điều tra không có căn cứ xác minh, làm rõ. Nên HĐXX không xét.
* Về vật chứng vụ án: Cần áp dụng Điều 47 BLHS năm 2015; Điều 106 BLTTHS năm 2015:
- - Tịch thu tiêu hủy: 01 vỏ chai nhựa, bên ngoài in nhãn nước ngọt C2 màu vàng; 01 nắp nhựa tròn, màu trắng, mặt nắp có đục 02 lỗ nhỏ, kích thước 0,5 cm,
- Theo biên bản giao nhận vật chứng đã chuyển đến Thi hành án dân sự thành phố H, thuộc khu vực 9 lập ngày 22/10/2025.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
[3] Vụ án không thuộc trường hợp tạm đình chỉ hoặc trả hồ sơ để điều tra bổ sung.
[ 4] Những chứng cứ tài liệu do Cơ quan Điều tra, Điều tra viên, Viện Kiểm sát, Kiểm sát viên thu thập, bị cáo, người tham gia tố tụng khác cung cấp đều là chứng cứ hợp pháp.
[ 5]. Trên cơ sở tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án phản ánh, cũng như kết quả tranh tụng tại phiên tòa. HĐXX không thấy có dấu hiệu vi phạm nên không kiến nghị phòng ngừa tội phạm, khác phục vi phạm .
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH
[ 1] Về tội danh : Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đình T phạm tội: "Sử dụng trái phép chất ma túy" .
[2] Về điều luật áp dụng: Căn cứ Điểm b Khoản 1 Điều 256 a của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025, Điểm s Khoản 1 Điều 51; Điều 38 – Bộ luật hình sự năm 2015.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Đình T 30 (Ba mươi) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 31/7/2025
[3] Về tang vật, vật chứng : Áp dụng Điều 47 BLHS năm 2015; Điều 106 BLTTHS năm 2015:
- - Tịch thu tiêu hủy: 01 vỏ chai nhựa, bên ngoài in nhãn nước ngọt C2 màu vàng; 01 nắp nhựa tròn, màu trắng, mặt nắp có đục 02 lỗ nhỏ, kích thước 0,5 cm,
- Theo biên bản giao nhận vật chứng đã chuyển đến Thi hành án dân sự thành phố H, thuộc khu vực 9 lập ngày 22/10/2025.
[4] Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136- BLTTHS 2015; Điều 23 Nghị quyết số 326 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội buộc bị cáo Nguyễn Đình T phải nộp 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
[5] Về quyền kháng cáo:Căn cứ Điều 331, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.Án hình sự sơ thẩm xét xử công khai. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
“ Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thị hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự“.
|
Nơi nhận
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa Lã Hùng Cường |
Bản án số 63/2025/HSST ngày 24/10/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 - THÀNH PHỐ HÀ NỘI về hình sự (sử dụng trái phép chất ma túy)
- Số bản án: 63/2025/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Sử dụng trái phép chất ma túy)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/10/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 - THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: T sử dụng trái phép chất ma túy
