|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẾ VÕ TỈNH BẮC NINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do- Hạnh phúc |
|
Bản án số: 63/2025/HSST Ngày: 24/02/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẾ VÕ, TỈNH BẮC NINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phan Đình Công
- Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Chung, bà Phan Thị Nhụ
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Nam Khánh – Thư ký TAND thị xã Quế Võ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quế Võ tham gia phiên toà: Ông Đoàn Đình Thắng - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 02 năm 2025, tại điểm cầu trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh và điểm cầu Trại tạm giam Công an tỉnh B, Tòa án nhân dân thị xã Quế Võ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 67/2025/TLST - HS ngày 24/01/2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 65/2025/QĐXXST-HS ngày 10/02/2025, đối với:
- Bị cáo: Bạc Cầm T, sinh năm 1992.
HKTT: Bản Coi, xã M, huyện Q, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Lao động tự do; giới tính: Nam; Học vấn: 12/12; quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Thái ; Tôn giáo: Không; Con ông Bạc Cầm K và bà Lò Thị N; Có vợ là Lò Thị C và 01 con, sinh năm 2013; Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân:
Năm 2013, Công an huyện Q, tỉnh Sơn La ra quyết định xử phạt hành chính đối với Bạc C1 T về hành vi đánh bạc trái phép bằng hình thức phạt tiền, số tiền 1.500.000 đồng. Đã nộp phạt ngày 01/10/2013.
Bản án số 10/2016/HSST ngày 22/11/2016 của Toà án nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La xử phạt Bạc Cầm T 09 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 tháng về tội Trộm cắp tài sản. Đã nộp án phí ngày 20/02/2017.
Bản án số 32/2020/HSST ngày 21/9/2020 của Toà án nhân dân huyện Quỳnh Nhai, tỉnh Sơn La xử phạt Bạc Cầm T 20 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý. Đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 18/11/2021 (Được miễn án phí).
Bị can bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/11/2024 đến nay. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B (Có mặt tại phiên tòa).
- Bị hại:
- Anh Nguyễn Văn C2, sinh năm 1975; Địa chỉ: Thôn K, xã Đ, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh.
- Anh Ngô Văn L, sinh năm 1982; Địa chỉ: Thôn Đ, xã Đ, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh.
- Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1980; Địa chỉ: Thôn C, xã C, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh.
- Chị Nguyễn Thị T1, sinh năm 1976; Địa chỉ: Thôn C, xã C, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Anh Nguyễn Văn C3, sinh năm 1993; Địa chỉ: V, phường Đ, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh.
- Anh Lê Đình Mạnh Q, sinh năm 1997; Địa chỉ: Thôn Q, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Ninh.
- Anh Đỗ Văn K1, sinh năm 1977; Địa chỉ: Khu H, phường T, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh.
- Ông Đoàn Đức T2; sinh năm 1969; Địa chỉ: Tổ G, thị trấn A, huyện Q, tỉnh Thái Bình.
- Chị Phạm Thị Phương T3, sinh năm 1993; Địa chỉ: Khu K, phường V, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh.
- Anh Nguyễn Hữu K2, sinh năm 1998; Địa chỉ: Thôn T, xã C, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh.
- Chị Đỗ Thị M, sinh năm 1972; Địa chỉ: Thôn Đ, xã Đ, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh.
- Người tham gia tố tụng khác:
- Ông Nguyễn Kim S - Cán bộ tin học của TAND thị xã Quế Võ.
- Cán bộ phụ trách tin học thuộc Trại tạm giam công an tỉnh B.
Bị cáo T có mặt:
Tất cả các bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đều vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 16 giờ ngày 15/11/2024, tại thôn K, xã Đ, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh, Công an xã Đ, thị xã Q đã phát hiện bắt quả tang B Cầm Tùng có hành vi trộm cắp 01 xe mô tô nhãn hiệu VIET THAI Cub 82R, màu xanh, BKS: 99AE-005.44 của anh Nguyễn Văn C2. Vật chứng thu giữ: 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu VIET THAI Cub 82R, màu xanh, BKS: 99AE-005.44.
Quá trình điều tra, ngoài hành vi trộm cắp xe mô tô bị bắt quả tang như trên, T tự thú khai nhận từ ngày 07/11/2024 đến ngày 14/11/2024 còn thực hiện 03 vụ trộm cắp tài sản khác trên địa bàn thị xã Q, Bắc Ninh, cụ thể như sau:
Vụ thứ nhất:
Khoảng 09 giờ ngày 07/11/2024, T đi xe buýt từ nhà nghỉ T5 ở khu phố G, phường P, thị xã Q đến khu vực cây xăng P số 159 trên Quốc lộ A thuộc địa phận xã Đ, thị xã Q. Tại đây, T phát hiện thấy 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu xanh trắng, không lắp biển kiểm soát (sau này xác định của anh Ngô Văn L) dựng tại sân nhà quản trang, cạnh nghĩa trang xã Đ, thị xã Q không có người trông giữ, chìa khoá cắm ở ổ khoá, do vậy T dùng tay mở khóa điện trộm cắp chiếc xe trên. Sau khi trộm cắp xe mô tô trên T đi đến cửa hàng sửa chữa xe “Quyết Chiến” tại khu phố P, phường T, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh của anh Nguyễn Văn C3 và bán cho anh C3 xe mô tô vừa trộm cắp với giá 2.000.000 đồng. Anh C3 đưa trước cho T 1.200.000 đồng và hẹn khi nào mang biển kiểm soát và giấy tờ xe đến thì sẽ trả số tiền còn lại. T nhận tiền và đã tiêu sài cá nhân hết.
Vụ thứ hai:
Khoảng 14 giờ 30 phút ngày 12/11/2024, T đi bộ vào khu dân cư thôn C, xã C, thị xã Q thì phát hiện 01 xe đạp điện màu đỏ đô, nhãn hiệu Stronger, số loại PLBike (sau này xác định là của chị Nguyễn Thị H) dựng ở cửa quán trà chanh “Anh và em” chìa khoá điện vẫn cắm ở ổ khoá, không có người trong coi, do vậy T dùng tay vặn chìa khóa điện trộm cắp chiếc xe trên. Chiếc xe đạp điện này T đi đến quán cầm đồ “H" ở khu phố D, phường P, thị xã Q của anh Lê Đình Mạnh Q cầm cố để vay số tiền 2.000.000 đồng. Số tiền này T đã ăn tiêu hết.
Vụ thứ ba:
Vẫn thủ đoạn như trên, khoảng 14 giờ 15 phút ngày 14/11/2024, tại khu vực thôn C, xã C, thị xã Q, khi phát hiện 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave S, BKS: 99E1 - 160.97 chìa khóa điện vẫn cắm ở ổ khóa (sau này xác định của chị Nguyễn Thị T1) dựng trong sân nhà, cửa cổng không đóng, không có người trong giữ, nên T đã mở cổng trộm cắp chiếc xe trên, rồi mang đến cửa hàng sửa chữa, mua bán xe mô tô “Đỗ Khang” tại khu phố H, phường T, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh của anh Đỗ Văn K1 (trên đường đi T làm rơi mất biển kiểm soát của xe) cầm cố xe mô tô cho anh K1 để vay số tiền 800.000 đồng. Số tiền này T đã tiêu sài cá nhân hết.
- Ngày 20/11/2024, anh C3 tự nguyện giao nộp 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu xanh trắng nêu trên; anh Q tự nguyện giao nộp 01 xe đạp điện màu đỏ đô nêu trên; anh K1 tự nguyện giao nộp 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave S nêu trên.
- Tại Kết luận định giá tài sản số 77/KL-HĐĐGTS ngày 16/11/2024 của Hội đồng định giá tài sản kết luận: Tại thời điểm bị chiếm đoạt, 01 xe mô tô nhãn hiệu VIET THAI Cub 82R, màu xanh, BKS: 99AE-005.44 có trị giá 7.000.000 đồng.
- Tại Kết luận định giá tài sản số 81/KL-HĐĐGTS ngày 22/11/2024 của Hội đồng định giá tài sản kết luận: Tại thời điểm bị chiếm đoạt, 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, số khung: RLHHC1254FY287863, số máy: HC12E7287833, không có biển kiểm soát có trị giá 8.000.000 đồng.
- Tại Kết luận định giá tài sản số 82/KL-HĐĐGTS ngày 22/11/2024 của Hội đồng định giá tài sản kết luận: Tại thời điểm bị chiếm đoạt, 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave S BKS: 99E1-160.97, số khung: 70DY008397, số máy: 52E1111101, không có biển kiểm soát có trị giá 5.000.000 đồng.
- Tại Kết luận định giá tài sản số 83/KL-HĐĐGTS ngày 22/11/2024 của Hội đồng định giá tài sản kết luận: Tại thời điểm bị chiếm đoạt, 01 xe đạp điện màu đỏ đô, nhãn hiệu Stronger, số loại PLBike có trị giá 5.000.000 đồng.
* Xử lý vật chứng:
- Đối với xe mô tô nhãn hiệu VIET THAI Cub 82R; xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave S và xe đạp điện màu đỏ đô, nhãn hiệu Stronger, quá trình điều tra xác định là tài sản thuộc sở hữu của anh C2, chị T1 và chị H. Do vậy, Cơ quan CSĐT Công an thị xã Q đã trả lại tài sản cho anh C2, chị T1, chị H quản lý, sử dụng.
- Đối với xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu xanh trắng, số khung: RLHHC1254FY287863, số mô tô: HC12E7287833, quá trình điều tra xác định: Xe mô tô trên mang BKS: 17B5 - 264.63, giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe mô tô mang tên Đoàn Đức T2, ông T2 cho chị Phạm Thị Hương T4 quản lý, sử dụng chiếc xe trên. Tháng 12/2018, chị T4 bị kẻ gian trộm cắp xe mô tô trên. Đầu năm 2019, anh Nguyễn Hữu K2 mua xe mô tô trên với giá 10.000.000 đồng của một thanh niên không quen biết. Sau đó, anh K2 bán lại cho chị Đỗ Thị M với giá hơn 10.000.000 đồng. Khoảng tháng 8/2021, chị M bán lại cho anh L với giá 14.000.000 đồng. Do xe mô tô trên là vật chứng của vụ án xảy ra trên địa bàn thành phố B, tỉnh Bắc Ninh, ngày 30/12/2024, Cơ quan CSĐT Công an thị xã Q đã bàn giao xe mô tô trên đến Cơ quan CSĐT Công an thành phố B để giải quyết theo thẩm quyền.
* Trách nhiệm dân sự
Anh C2, chị H, chị T1 đã nhận lại tài sản bị trộm cắp và không yêu cầu T bồi thường gì thêm. Anh C3, anh Q, anh K1 sau khi giao nộp xe cũng không yêu cầu T bồi thường gì.
Quá trình điều tra, anh K2 đã bồi thường cho chị M số tiền 9.000.000 đồng, chị M đã bồi thường cho anh L số tiền 9.000.000 đồng. Chị M, anh L đã nhận đủ tiền và không yêu cầu bồi thường gì thêm. Do chưa xác định được người đã bán tài sản trộm cắp cho anh K2 nên anh K2 không đề nghị gì.
Với nội dung trên, Cáo trạng số 14/CT-VKSQV ngày 24/01/2025 của VKSND thị xã Quế Võ đã truy tố Bạc Cầm T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1, Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa hôm nay:
Bị cáo T xác định đã được các cơ quan tố tụng giải thích về quyền nhờ người khác bào chữa, tuy nhiên bị cáo xin giữ nguyên nguyên vọng trước đây, bị cáo không nhờ người khác bào chữa cho mình. Bị cáo T cũng đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng đã truy tố nêu trên. Bị cáo xác định hành vi của mình là phạm tội và hứa sẽ cải tạo tốt, không tái phạm.
Người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đều vắng mặt nhưng có đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt, không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm; đề nghị Tòa án giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo T.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quế Võ thực hành quyền công tố tại phiên tòa phát biểu luận tội, sau khi phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, đã đề nghị HĐXX:
Tuyên bố bị cáo Bạc Cầm T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g, Khoản 1 Điều 52; Điều 38, 47 Bộ luật hình sự; các điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Xử phạt bị cáo Bạc Cầm T từ 21 - 24 tháng tù.
Miễn hình phạt bổ sung và án phí cho bị cáo.
Bị cáo T không tranh luận gì, chỉ đề nghị HĐXX xem xét cho bị cáo được hưởng mức hình phạt nhẹ nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng:
Về quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra; cơ quan truy tố; hành vi tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên: Đã tuân thủ đúng và đầy đủ các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự về: Khởi tố vụ án, khởi tố bị can, phê chuẩn quyết định khởi tố bị can; về các biện pháp điều tra như lấy lời khai bị can, lấy lời khai người chứng kiến, xác định hiện trường vụ án, trưng cầu định giá, xác minh lý lịch, nhân thân của bị can; về việc giao nhận các văn bản tố tụng cho bị can, người liên quan. Các tài liệu điều tra có trong hồ sơ vụ án được thu thập đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự nên là chứng cứ của vụ án.
Tại phiên tòa hôm nay:
Bị cáo T xác định đã được các cơ quan tố tụng giải thích về quyền nhờ người khác bào chữa, tuy nhiên bị cáo xin giữ nguyên nguyên vọng trước đây, bị cáo không nhờ người khác bào chữa cho mình, do vậy cần chấp nhận nguyện vọng này của bị cáo T.
Những người bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đều vắng mặt nhưng có đề nghị xét xử vắng mặt, đồng thời cũng đã có đầy đủ quan điểm liên quan đến quyền lợi của mình. Do vậy, việc vắng mặt họ không ảnh hưởng đến việc xét xử.
[2] Lời khai nhận tội của bị cáo Bạc Cầm T tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà ngày hôm nay phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, các bản
tự khai, biên bản ghi lời khai, kết luận định giá tài sản, biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản thực nghiệm điều tra và các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở để xác định:
Trong khoảng thời gian từ ngày 07/11/2024 đến ngày 15/11/2024, lợi dụng việc các chủ sở hữu tài sản trên địa bàn thị xã Q sơ hở, nên Bạc Cầm T đã thực hiện 04 hành vi trộm cắp với tổng giá trị tài sản là 25.000.000đ cụ thể như sau:
- Khoảng 09 giờ ngày 07/11/2024, tại nghĩa trang xã Đ thuộc địa phận xã Đ, thị xã Q, Bạc C đã có hành vi trộm cắp 01 xe mô tô Honda Wave, số khung: RLHHC1254FY287863, số máy: HC12E7287833, không có biển kiểm soát có trị giá 8.000.000 đồng của anh Ngô Văn L.
- Khoảng 14 giờ 30 phút ngày 12/11/2024, tại cửa quán T6 "A và em” thuộc địa phận thôn C, xã C, thị xã Q, Bạc C đã có hành vi trộm cắp 01 xe đạp điện màu đỏ đô, nhãn hiệu Stronger, số loại PLBike trị giá 5.000.000 đồng của chị Nguyễn Thị H.
- Khoảng 14 giờ 15 phút ngày 14/11/2024, tại sân nhà chị Nguyễn Thị T1 thuộc khu vực thôn C, xã C, thị xã Q, Bạc C đã có hành vi trộm cắp 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave S BKS: 99E1-160.97, số khung: 70DY008397, số máy: 52E1111101, không có biển kiểm soát có trị giá 5.000.000 đồng của chị T1.
- Khoảng 16 giờ ngày 15/11/2024, tại thôn K, xã Đ, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh, Công an xã Đ, thị xã Q, B Cầm T có hành vi trộm cắp 01 xe mô tô nhãn hiệu VIET THAI Cub 82R, màu xanh, BKS: 99AE-005.44 trị giá 7.000.000 đồng của anh Nguyễn Văn C2
Do vậy, có đủ cơ sở để kết luận: Bị cáo Bạc Cầm T phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1, Điều 173 Bộ luật Hình sự, đúng như Cáo trạng của VKSND thị xã Quế Võ đã truy tố.
[3] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm tới quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Do vậy, cần áp dụng hình phạt nghiêm, cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
[4] Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Bị cáo có nhân thân xấu, thực hiện hành vi trộm cắp 04 lần, các lần giá trị tài sản trộm cắp đều trên 2.000.000 đồng nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự "phạm tội 02 lần trở lên" quy định tại điểm g, Khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
- Bị cáo tự thú về hành vi thực hiện 03 vụ trộm cắp tài sản; quá trình điều tra, truy tố, xét xử thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; được các bị hại xin giảm nhẹ hình phcó ông nội là ông Bạc C1 Sính được tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng nhất nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm r, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[5] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo T không có nghề nghiệp, không có tài sản nên miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Các bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đều không có yêu cầu gì như đã nêu trên nên HĐXX không đặt ra xem xét.
[7] Về vật chứng vụ án:
- Đối với xe mô tô nhãn hiệu VIET THAI Cub 82R, màu xanh; xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Svà xe đạp điện màu đỏ đô, nhãn hiệu Stronger, quá trình điều tra xác định là tài sản thuộc sở hữu của anh C2, chị T1 và chị H. Do vậy, Cơ quan CSĐT Công an thị xã Q đã trả lại tài sản cho anh C2, chị T1, chị H quản lý, sử dụng là đúng quy định.
- Đối với xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu xanh trắng, quá trình điều tra xác định: Xe mô tô trên mang BKS: 17B5 - 264.63của ông Đoàn Đức T2, ông T2 cho chị Phạm Thị Hương T4 quản lý, sử dụng chiếc xe trên. Tháng 12/2018, chị T4 bị kẻ gian trộm cắp xe mô tô trên. Đầu năm 2019, anh Nguyễn Hữu K2 mua xe mô tô trên với giá 10.000.000 đồng của một thanh niên không quen biết. Sau đó, anh K2 bán lại cho chị Đỗ Thị M với giá hơn 10.000.000 đồng. Khoảng tháng 8/2021, chị M bán lại cho anh L với giá 14.000.000 đồng. Do xe mô tô trên là vật chứng của vụ án xảy ra trên địa bàn thành phố B, tỉnh Bắc Ninh, ngày 30/12/2024, Cơ quan CSĐT Công an thị xã Q đã bàn giao xe mô tô trên đến Cơ quan CSĐT Công an thành phố B để giải quyết theo thẩm quyền, là đúng quy định.
[8] Ngoài ra, liên quan đến vụ án còn có anh Lê Đình Mạnh Q, anh Đỗ Văn K1, anh Nguyễn Văn C3 không biết các xe T mang đến cửa hàng đến bán, cầm cố để vay tiền là do trộm cắp mà có nên không xem xét, xử lý là phù hợp.
[9] Về án phí: Bị cáo T là người dân tộc thiểu số, sống ở vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, có nguyện vọng được miễn án phí nên miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố bị cáo Bạc Cầm T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g, Khoản 1 Điều 52; Điều 38, 47 Bộ luật hình sự; các điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
- Xử phạt bị cáo Bạc Cầm T 21 (Hai mươi mốt) tháng tù. Thời hạn tù tính ngày 15/11/2024.
- Tạm giam Bạc Cầm T 45 (Bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm để đảm bảo thi hành án.
- Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Bạc Cầm T.
- Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt, có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kết từ ngày nhận được tống đạt hoặc niêm yết bản án.
|
Nơi nhận:
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Phan Đình Công |
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
|
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Đình Công |
Bản án số 63/2025/HSST ngày 24/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẾ VÕ, TỈNH BẮC NINH về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 63/2025/HSST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẾ VÕ, TỈNH BẮC NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
