|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIỀN HẢI TỈNH THÁI BÌNH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 63/2025/HS-ST
Ngày: 30 - 6 - 2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIỀN HẢI, TỈNH THÁI BÌNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Văn Lợi
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Hiểu
Ông Phạm Mã Siêu
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Lê Huy – Thư ký TAND huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Bà Phí Thị Huệ – Kiểm sát viên.
Trong ngày 30 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 55/2025/TLST – HS, ngày 16 tháng 6 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 59/2025/QĐXXST – HS, ngày 18 tháng 6 năm 2025 đối với, bị cáo:
Nguyễn Văn H - sinh ngày 24/8/1983, tại: huyện T, tỉnh Thái Bình; Nơi cư trú: tổ dân phố H, thị trấn T, huyện T, tỉnh Thái Bình; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn V (đã chết) và bà Phạm Thị O; Gia đình có 03 anh, em bị cáo là thứ nhất; Có vợ là Vũ Thị N và 01 con sinh năm 2023; Tiền án, Tiền sự: Không. Nhân thân: Từ tháng 9/2002 – tháng 11/2005 là học viên Trường sỹ quan Tăng thiết giáp; năm học 2002 – 2003 được tặng Bằng khen vì có thành tích xuất sắc trong công tác Đ và phong trào thanh niên + Giấy khen đã hoàn thành tốt nhiệm vụ năm học; Quyết định số 81 ngày 11/3/2010 của Công an huyện T, tỉnh Thái Bình xử phạt tiền về hành vi cầm cố, thế chấp tài sản trái phép. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 29/4/2025 cho đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam khu vực T – Trại tạm giam Công an tỉnh T.
(Trích xuất, có mặt tại phiên tòa)
Bị hại: Bà Phạm Thị O - sinh năm 1956, địa chỉ: thôn L, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình.(Có mặt)
Người làm chứng:
- Chị Phạm Thị H1 – sinh năm 1993, địa chỉ: tổ dân phố T, thị trấn T, huyện T, tỉnh Thái Bình.(Vắng mặt)
- Anh Lương Văn Q – sinh năm 1983, địa chỉ: thôn T, xã Đ, huyện T, tỉnh Thái Bình.(Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Do thiếu tiền tiêu sài cá nhân nên bị cáo Nguyễn Văn H nảy sinh ý định trộm cắp tài sản của mẹ đẻ bà Phạm Thị O. Ngày 19/4/2025 H từ Bình Dương về Thái Bình sau đó qua cửa hàng T1 của chị Phạm Thị H1 mua 01 cưa nhỏ cầm tay cất vào túi xách và bắt taxi đi về khu vực miếu L, thôn L, xã T, huyện T, cách nhà bà O khoảng 100m thì xuống xe. Sau khi quan sát, H đi bộ vòng ra đường phía sau nhà, trèo tường vào nhà bà O. H đi đến trước cửa phòng kho dùng cưa, cưa ổ khoá ra vất tại hiện trường sau đó đi vào kho. Tại đây, H lục đồ đạc tìm tài sản trong kho chứa đồ thì phát hiện góc tường trong cùng có bộ áo mưa treo trên tường, H kéo bộ áo mưa xuống để lục tìm thì thấy 01 túi bóng đen nên cầm xuống mở ra kiểm tra bên trong túi bóng đen có một số đồ vật bằng kim loại màu vàng gắn đá các màu hoặc không gắn đá: 01 kiềng; 01 nhẫn nam; 02 nhẫn nữ; 01 dây chuyền nữ; 01 dây chuyền nam; 01 lắc tay nữ; 01 đôi bông tai. H lấy số tài sản này cho vào túi xách mang theo. H tiếp tục vào phòng ngủ của bà O, lật chiếu lên thấy có 19 tờ tiền mệnh giá 100USD để ở bên dưới, H lấy toàn bộ số tiền này cho vào túi xách. Tiếp đó H lên nhà 3 tầng lục lọi tầng 1 và tầng 2 để cho bà O tưởng có trộm đột nhập. Trộm cắp xong H đến khu vực tường dậu trèo ra ngoài đường phía sau nhà và đi bộ ra ngã 3 ông T thị trấn T rồi bắt taxi đi sân bay C – Hải hòng. Khi đi đến huyện V thì H bán hết số tiền đô la và tiêu sài cá nhân hết. Khoảng 18 giờ cùng ngày bà O đi chợ về nhà phát hiện bị mất tiền vàng nên đến Công an trình báo sự việc.
Kết luận giám định đá quý và kim loại số 2804/25 ngày 28/4/2025 của Trung tâm nghiên cứu – Kiểm định đá quý và vàng kết luận: Các đồ vật bằng kim loại màu vàng gắn đá các màu hoặc không gắn đá gửi giám định là vàng hàm lượng 99,5% và đá gắn là đá nhân tạo.
Kết luận định giá tài sản số 13 ngày 29/4/2025 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện T, xác định: 1.900USD trị giá 47.500.000đ + 01 kiềng 28,65gr trị giá 33.000.000đ + 01 nhẫn Nam 22,85gr trị giá 55.500.000đ + 01 nhẫn nữ 12,95gr trị giá 22.200.000đ + 01 nhẫn nữ 10,16gr trị giá 22.200.000đ + 01 dây chuyền nữ 39,38gr trị giá 111.000.000đ + 01 dây truyền nam 37,50gr trị giá 111.000.000đ + 01 lắc tay nữ 18,75gr trị giá 55.500.000đ + 01 đôi bông tai 7,50gr trị giá 22.200.000đ. Tổng trị giá tài sản là: 480.400.000đ.
2
Bản cáo trạng số 60/CT - VKSTH ngày 16/6/2025, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình đã truy tố: Bị cáo Nguyễn Văn H về tội "Trộm cắp tài sản" theo điểm a khoản 3 Điều 173 của Bộ luật hình sự.
* Tại phiên tòa: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo. Sau khi xem xét, đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố: Bị cáo phạm tội "Trộm cắp tài sản". Áp dụng: điểm a Khoản 3 Điều 173; Điều 38; Điều 50; điểm b, s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nguyễn Văn H, xử phạt bị cáo từ 04 năm đến 04 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 29/4/2025. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- Ngoài ra còn đề nghị về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí, quyền kháng cáo đối với bị cáo, bị hại.
* Bị hại đề nghị HĐXX xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo tối đa để bị cáo sớm về hoà nhập cộng đồng, sửa chữa sai lầm gây ra.
* Bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, không có tranh luận gì và nói lời sau cùng: Bị cáo nhận thức hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật, bị cáo đề nghị HĐXX xem xét cho bị cáo được hưởng hình phạt nhẹ nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa. Sau khi xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Trong quá trình tiến hành tố tụng, các cơ quan, người tiến hành tố tụng đã tuân thủ đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Việc ban hành các quyết định tố tụng đúng quy định của pháp luật. Bị cáo, bị hại không có khiếu nại, kiến nghị gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như kết luận điều tra, cáo trạng truy tố. Bị cáo khai: Khoảng 16 giờ 30 phút, ngày 19/4/2025, lợi dụng sơ hở trong việc trông coi, quản lý tài sản bị cáo đã trèo tường vào nhà bà Phạm Thị O (mẹ đẻ bị cáo) ở thôn L, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình. Bị cáo trộm cắp của bà O 39 chỉ vàng hàm lượng 99,5% và
3
1.900USD để tiêu sài cá nhân. Tổng giá trị tài sản bị cáo H trộm cắp là 480.400.000₫.
[3] Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, quá trình truy tố, là chứng cứ buộc tội và hành vi phạm tội của bị cáo còn được chứng minh bằng các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ và được thẩm tra tại phiên tòa như: Đơn trình báo, lời khai của bị hại bà Phạm Thị O; Sơ đồ hiện trường và biên bản khám nghiệm hiện trường do Công an tỉnh T lập ngày 28/4/2025; Biên bản giao nộp đồ vật tạm giữ, Biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ do Công an tỉnh T lập ngày 28/4/2025 và ngày 27/4/2025; Bản kết luận giám định Đá quý và kim loại quý số 2805/25 ngày 28/4/2025 của Trung tâm nghiên cứu – Kiểm định đá quý và vàng; Bản kết luận định giá tài sản số 13 ngày 29/4/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện T; Lời khai của người làm chứng Phạm Thị H1, Lương Văn Q.
[4] Hành vi của bị cáo gây ra là rất nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, làm ảnh đến trật tự, an toàn công cộng, nếp sống văn hóa trong khu dân cư, gây dư luận bức xúc trong nhân dân. Lợi dụng sự sơ hở trong việc trông coi tài sản của chủ sở hữu, bị cáo đã trộm cắp đi tài sản của họ. Bị cáo là người trưởng thành có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, do lười lao động mà vẫn muốn có tiền tiêu sài cá nhân đã trộm cắp tài sản của người khác. Mặc dù biết hành vi trộm cắp tài sản là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện.
[5]. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Hành vi của bị cáo Nguyễn Văn H đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm a khoản 3 Điều 173 của Bộ luật hình sự như truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình là có căn cứ, đúng pháp luật.
Điều 173. Tội trộm cắp tài sản
1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
...
3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:
a) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200 triệu đồng đến dưới 500 triệu đồng;
...
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5 triệu đồng đến 50 triệu đồng.
4
[6]. Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội, đã khắc phục bồi thường toàn bộ thiệt hại cho bị hại, bị hại có đơn xin miễn giảm trách nhiệm hình sự cho bị cáo, bị cáo có thành tích xuất sắc trong năm học 2002 – 2023 tại trường S, có thời gian học tập tại trường sỹ quan Tăng thiết giáp từ tháng 09/2002 đến tháng 11/2005 đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự mà bị cáo được hưởng. Bị cáo có 01 lần bị xử phạt hành chính về hành vi cầm cố tài sản trái phép.
[7]. Với tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội cũng như nhân thân của bị cáo sau khi xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân thấy, bị cáo không thể tự cải tạo. Bị cáo phạm tội thuộc trường hợp rất nghiêm trọng do đó cần thiết phải lên mức án phù hợp và cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ để cải tạo, giáo dục bị cáo và góp phần vào công tác đấu tranh phòng chống tội phạm. Tuy nhiên bị cáo phạm tội lần đầu, không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào, được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, đã khắc phục, bồi thường toàn bộ thiệt hại và người bị hại có đơn đề nghị miễn giảm trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Vì vậy HĐXX áp dụng Điều 54 Bộ luật hình sự, xử phạt dưới khung hình phạt đối với bị cáo là phù hợp và thể hiện sự khoan hồng của pháp luật. Bị cáo công việc không ổn định, phải nuôi con nhỏ do đó HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[8]. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận bồi thường thiệt hại và được bị cáo trả lại tài sản đã trộm cắp cũng như không yêu cầu khác về bồi thường trách nhiệm dân sự với bị cáo nên không đặt ra giải quyết.
[9]. Trong vụ án này còn có người chở taxi cho bị cáo ra sân bay C - Hải Phòng và 02 cửa hàng bị cáo bán tiền USD. Tuy nhiên quá trình điều tra bị cáo không nhớ, không xác định và biết được người chở taxi cũng như nơi bán USD như thế nào nên Cơ quan điều tra không tiến hành điều tra xác minh được. Đối với chị Phạm Thị H1, anh Lương Văn Q họ không biết bị cáo mua cưa và thuê chở đi để bị cáo trộm cắp tài sản và không được hưởng lợi gì từ việc bị cáo trộm cắp tài sản nên Cơ quan điều tra không xử lý đối với chị H1, anh Q là phù hợp.
[10]. Về xử lý vật chứng: Số kim loại màu vàng gắn đá các màu hoặc không gắn đá bị cáo giao nộp cho cơ quan điều tra (01 kiềng; 01 nhẫn nam; 02 nhẫn nữ; 01 dây chuyền nữ; 01 dây chuyền nam; 01 lắc tay nữ; 01 đôi bông tai) đây là tài sản hợp pháp của bị hại và bị hại có đơn xin lại do đó Công an tỉnh T trả lại cho bị hại là phù hợp. Đối với 01 mũ lưỡi trai tối màu, 01 túi vải xách tay màu đen kích thước 30x32x8 cm, 01 áo khoác gió loại có mũ màu đen; 01 quần nỉ màu đen, 01 đôi dép tông tối màu, 01 Ổ khoá bằng kim loại bị cắt rời, đây là các tài sản liên quan đến hành vi phạm tội và không còn giá trị sử dụng nên tịch thu, tiêu huỷ là phù hợp với quy định tại Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
[11]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội "Trộm cắp tài sản".
2. Về hình phạt: Áp dụng điểm a Khoản 3 Điều 173; Điều 38; Điều 50; điểm b, s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 04 (bốn) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 29/4/2025.
3. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu, tiêu huỷ 01 mũ lưỡi trai tối màu, 01 túi vải xách tay màu đen kích thước 30x32x8cm, 01 áo khoác gió loại có mũ màu đen, 01 quần nỉ màu đen, 01 đôi dép tông tối màu, 01 Ổ khoá bằng kim loại bị cắt.
(Vật chứng có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng ngày 16/6/2025)
4. Về án phí: Áp dụng Điều 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Bị cáo Nguyễn Văn H phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
*Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Vũ Văn Lợi |
6
7
Bản án số 63/2025/HS-ST ngày 30/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIỀN HẢI, TỈNH THÁI BÌNH về hình sự sơ thẩm (trộm cắp tài sản)
- Số bản án: 63/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Trộm cắp tài sản)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIỀN HẢI, TỈNH THÁI BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn H phạm tội trộm cắp
