Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH PHÚ THỌ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 63/2025/HS-ST

Ngày 27 tháng 6 năm 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Anh Tuấn.
Thẩm phán: Ông Trần Đình Chi.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Xuân Đào.
Ông Nguyễn Bá Điền;
Bà Nguyễn Thị Tần.

- Thư ký phiên tòa:Bà Trần Thu Hiền- Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ.

- Đại diện Viện kiểm sỏt nhõn dõn tỉnh Phỳ Thọ tham gia phiên tũa: ễng Nguyễn Quỳnh Nam - Kiểm sỏt viờn.

Ngày 27 tháng 6 năm 2025,tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Phú Thọ tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 40/2025/TL-HSST ngày 14 tháng 5 năm 2025, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 87/2025/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 6 năm 2025vàQuyết định hoãn phiên toà số 58/2025/HSST-QĐ ngày 16/6/2025 đối với bị cáo:

Họ và tên: HOÀNG ĐỨC L - Sinh ngày 07/02/2008;Nơi cư trú: khu F, xã C, thành phố V, tỉnh Phú Thọ. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh;Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn : 7/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do. Bố đẻ: Hoàng Văn P, sinh năm 1981, hiện đang chấp hành án tại Bắc Giang; Mẹ đẻ: Quản Thị Thùy D, sinh năm 1990, hiện ở xã T, L, Phú Thọ.Bị cáo là con duy nhất trong gia đình;Vợ, con: chưa có. Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 08/10/2024, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh P (khi phạm tội bị cáo 16 tuổi 7 tháng có mặt).

- Người đại diện hợp pháp cho bị cáo Hoàng Đức L: Bà Hà Thị D1, sinh năm 1945. Địa chỉ: Khu F, C, thành phố V, tỉnh Phú Thọ (có mặt).

- Đại diện Đoàn thanh niên xã C, thành phố V, tỉnh Phú Thọ: Bà Cao Diệu T, sinh năm 1985.

Địa chỉ: Bí thư đoàn thanh niên xã C, thành phố V, tỉnh Phú Thọ (có mặt).

- Người bào chữa cho bị cáo: bà Bùi Thị Thanh N – Trợ giúp viên pháp lý, Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh P (có mặt).

- Bị hại: Anh Hoàng Ngọc D2, sinh ngày 10/01/2006; Địa chỉ khu C, xã L, huyện T, tỉnh Phú Thọ (có mặt).

- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại: Ông Vũ Văn S- Luật sư Công ty L3, đoàn luật sư thành phố H.

Địa chỉ: Số G, phố B, phường H, quận H, thành phố Hà Nội (có mặt).

Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Hoàng Hữu K, sinh năm 1983. Địa chỉ: Khu C, xã L, huyện T, tỉnh Phú Thọ (có mặt).
  2. Bà Lã Thị H, sinh năm 1985. Địa chỉ: Khu C, xã L, huyện T, tỉnh Phú Thọ (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 18 giờ ngày 06/9/2024, Ngô Lưu Ái L1, sinh năm 2007, trú tại khu T, xã H, thị xã P và Nguyễn Thị Khánh L2, sinh năm 2007; trú tại thôn C, thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Phú Thọ đang ở nhà nghỉ P1 thuộc phường H, thị xã P thì L1 nhắn tin cho Hoàng Xuân Đ, sinh năm 2007, trú tại khu T, thị trấn L, huyện L, tỉnh Phú Thọ rủ lên thị xã P để ăn uống. Đ đồng ý và gọi điện thoại rủ thêm Phạm Ngọc K1, sinh năm 2006, nhà ở khu E, xã V, huyện T, tỉnh Phú Thọ. Lúc này K1 đang chơi điện tử cùng Hoàng Đức L, sinh ngày 07/02/2008, trú tại khu F, xã C, V, Phú Thọ nên rủ L cùng đi, L đồng ý.

Đến khoảng 20 giờ cùng ngày, Đ điều khiển xe mô tô BKS 1981-182.53 đi một mình đến nhà nghỉ P1 đón L1 và L2 đến nhà của K1 chơi. Sau khi đến nhà K1, nhóm Đ, K1, L rủ L1, L2 đi chơi, ăn uống ở T nhưng L1, L2 không đồng ý muốn về thị xã P nên nhóm Đ đồng ý. Trước khi đi nhóm Đ không bảo nhau nhưng mỗi người đều tự giấu 01 con dao (loại dao gọt hoa quả) trong người, trong đó K1 và Đ lấy dao tại nhà K1 còn L đã mang theo dao từ trước.

Nhóm của Đ đi đến quán ăn Đ4 ở khu C, xã T, thị xã P khoảng 30 phút thì L2 tỏ thái độ không thích ngồi cùng nhóm Đ nên nhắn tin cho Đặng Thành T1, sinh năm 2005 trú tại xã L, huyện T đến đón về. T1 đến đón L2 thì trên đường đi L2 bảo đi mua đồ về nhà nghỉ P1 ăn uống. Về nhà nghỉ, T1 biết L2 cùng bạn gái đã thuê phòng từ trước nên T1 nhắn tin cho Hoàng Ngọc D2, sinh năm 2006; cùng trú tại xã L, huyện T, tỉnh Phú Thọ đến nhà nghỉ để cùng ăn uống. Khi D2 đến được một lúc thì L1 hỏi mượn điện thoại của D2 để gọi cho L1 do điện thoại của L2 hết pin, L1 nghe điện thoại và đồng ý về nhà nghỉ để ăn uống cùng nhóm của L2. Lúc này L1 đang ngồi ăn uống cùng nhóm Đ, Đ nghe có tiếng nam giới trong điện thoại nên Đ bảo L1 vào ứng dụng Zalo kiểm tra số điện thoại gọi đến thì thấy hình ảnh một

người nam giới có tên Z là “Quân Đ1Đạt, K1, L muốn kiểm tra người nào đang ở nhà nghỉ với L2 nên khi L1 đi vệ sinh đã bàn nhau là lấy lý do trước đây nhóm Đ có mâu thuẫn với “Quân Đ1” để đi theo L1 về nhà nghỉ giải quyết mâu thuẫn với “Quân Đ1”.

Đến khoảng 04 giờ ngày 07/9/2024, Đ điều khiển xe mô tô chở L1, còn L điều khiển xe mô tô chở K1 về nhà nghỉ P1 và lên phòng 301 mà L1, L2 thuê từ trước. Nhóm Đ vào phòng thấy có L2, D2 và T1 đang ở trong phòng, quan sát không thấy có ai như trong hình ảnh Z là “Quân Đ1” nên cả 03 người đi ra đứng ở hành lang cầu thang trước cửa phòng đợi và tìm cách rủ L1 đi chơi tiếp. L2 đi ra cửa phòng thấy nhóm Đ vẫn đứng ngoài, không về nên nói “Anh vào đây xem có thằng nào không” và chửi bâng quơ. L đứng gần cửa nghe thấy có tiếng chửi liền nói “chúng mày thế nào đấy” đồng thời đẩy cửa đi vào trong phòng dùng tay tát vào mặt T1 đang ngồi ở giường gần cửa ra vào 02 cái. K1 cũng lao vào dùng tay tát vào mặt T1 02 cái, Đ đi vào trong phòng nhưng không đánh ai. Thấy T1 bị đánh, D2 đang nằm trên giường phía trong liền vùng dậy nói “có gì từ từ nói anh ơi” rồi D2 nhảy từ trên giường xuống chỗ kệ ti vi lấy một con dao (loại dao gọt hoa quả) cầm ở tay phải lao về phía K1 và Đ khua dao để đuổi nhóm Đ ra khỏi phòng. Đ, K1 chạy lùi ra cửa liền rút dao đã mang sẵn trên người và dồn D2 chạy ngược lại vào trong. Lúc này L đang ở trong phòng thấy D2 cầm dao đuổi nên L rút con dao ở trong túi quần phải mang theo từ trước cầm ở tay phải chạy ra cửa phòng, cùng lúc D2 chạy vào ở tư thế đối diện cách khoảng 60 cm, L cầm dao dơ lên đâm ngang từ phải qua trái trúng vào mạn sườn bên trái của D2 một nhát, thấy D2 bị chảy máu nên L kéo đẩy D2, chạy ra ngoài cửa, đẩy K1, Đ ra ngoài. Sau đó L, Đ, Khương Đ2 xuống lấy xe và vứt bỏ dao trên đường bỏ trốn xuống thành phố Hà Nội .

Sau khi tiếp nhận tin báo, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã P đã tiến hành xác minh, khám nghiệm hiện trường, thu giữ 01 con dao nhãn hiệu “KIWI” có lưỡi sắc (kích thước dài 28 cm) chuôi dao màu đen, lưỡi dao màu trắng dài 0,16 m; bản dao rộng nhất 3,5 cm thon gọn về đầu mũi dao.

Xác minh thương tích xác định anh D2 bị 01 vết thương dưới bờ sườn trái khoảng 02 cm, phổi trái thông khí tản, bụng trướng. Kết quả chụp chiếu chụp bụng hình ảnh chấn thương lách độ 4, nhiều dịch máu trong ổ bụng; chụp cắt lớp ngực hình ảnh xẹp phổi đông đặc, xẹp phổi bên trái, tràn khí và dịch máu màng phổi bên trái, ít khí thành ngực bên trái. Sau đó anh D2 phải mổ cắt lách - dẫn lưu màng phổi trái - khâu lỗ thủng cơ hoành - viêm phổi - rối loạn đông máu và điều trị tại Bệnh

viện đa khoa tỉnh P từ ngày 07/9/2024 đến ngày 18/9/2024 thì ra viện; anh Đặng Thành T1 bị đau phần mềm, không bị xây sát hay thương tích gì.

Ngày 25/9/2024, Cơ quan CSĐT Công an thị xã P đã trưng cầu giám định xác định tỷ lệ phần trăm thương tích của anh Hoàng Ngọc D2. Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 179 ngày 26/9/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh P kết luận tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của anh Hoàng Ngọc D2 là51%(Năm mươi mốt phần trăm), gồm:

  • Vết sẹo ngực bên trái đường nách sau khoang liên sườn 8,9: 01%.
  • Vết sẹo ngực bên trái đường nách giữa khoang liên sườn 5 (sẹo dẫn lưu màng phổi): 01%.
  • Tổn thương khoang màng phổi trái phẫu thuật dẫn lưu, không để lại di chứng: 03%
  • Vết sẹo số một vùng bụng (sẹo phẫu thuật): 02%
  • Vết sẹo số hai vùng bụng (sẹo phẫu thuật): 01%
  • Tổn thương lách đã phẫu thuật cắt lách toàn bộ: 33%.
  • Tổn thương cơ hoành đã phẫu thuật khâu lỗ thủng kết quả tốt: 21%

* Cơ chế hình thành thương tích:

Vết sẹo ngực bên trái đường nách sau khoang liên sườn 8,9; Tổn thương khoang màng phổi; Tổn thương cơ hoành và lách; Do tác động của vất sắc nhọn gây nên.

Vết sẹo đường nách giữa khoang liên sườn 5 ngực bên trái; Hai vết sẹo phẫu thuật vùng bụng; cắt lách toàn bộ: Do bác sĩ phẫu thuật để điều trị.

Cơ quan điều tra đã tiến hành thực nghiệm điều tra, thu thập dữ liệu camera tại hiện trường, nhận dạng đối tượng, hung khí. Ngày 27/9 và 08/10/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã P đã quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can và bắt tạm giam đối với Hoàng Đức L về tội “Cố ý gây thương tích” theo khoản 3 Điều 134 Bộ luật Hình sự.

Xét thấy, Hoàng Đức L không có mâu thuẫn gì nhưng đã dùng dao là hung khí nguy hiểm đâm 01 nhát vào vùng bụng là vùng trọng yếu trên cơ thể của Hoàng Ngọc D2 dẫn đến tổn thương màng phổi trái, tổn thương lách phải phẫu thuật cắt toàn bộ, tổn thương cơ hoành; tổn hại sức khoẻ là 51% có dấu hiệu phạm tội “Giết

người” nên ngày 12/02/2025, vụ án được chuyển điều tra theo thẩm quyền. Ngày 13/02/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh P đã quyết định thay đổi quyết định khởi tố vụ án, thay đổi quyết định khởi tố bị can đối với Hoàng Đức L sang tội “Giết người” quy định tại khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự.

* Đối với những người liên quan trong vụ án gồm:

- Đối với Phạm Ngọc K1 và Hoàng Xuân Đ có hành vi bàn nhau đến nhà nghỉ P1 với mục đích để xem “Quân D1” là ai. Tuy nhiên khi đến phòng không thấy người nam giới như trong ảnh Z nên nhóm của K1 đi ra ngoài hành lang trước cửa phòng để đợi rủ L1 đi chơi tiếp, không bàn bạc nhau về việc đánh gây thương tích cho D2, T1. Khi L chạy ra cửa, đẩy K1, Đ ra mới biết L đã dùng dao đâm gây chảy máu và gây thương tích cho D2. Do đó K1, Đ không có đủ căn cứ để xử lý hình sự về vai trò đồng phạm với L.

- Về hành vi Hoàng Đức L, Phạm Ngọc K1 dùng tay tát vào mặt anh Đặng Thành T1. Anh T1 chỉ bị thương nhẹ, không đề nghị giám định thương tích nên không có căn cứ xử lý hình sự, Cơ quan điều tra chuyển xử phạt hành chính.

- Đối với anh Hoàng Ngọc D2 có hành vi cầm dao khua về phía K1 và Đ với mục đích đuổi nhóm Đ ra khỏi phòng, không gây thương tích cho ai nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý.

* Về bồi thường dân sự: Sau khi anh Hoàng Ngọc D2 bị Hoàng Đức L dùng dao đâm gây thương tích, anh D2 phải đi điều trị tại Bệnh viện đa khoa tỉnh P từ ngày 07/9/2024 đến ngày 18/9/2024 thì ra viện về nhà tự mua thuốc điều trị. Tổng số tiền mà gia đình anh D2 phải chi trả điều trị, mua thuốc uống có chứng từ hóa đơn là 97.403.449 đồng. Ngoài ra, anh D2 kê khai phải chi phí điều trị thuốc men, đi lại hết số tiền hơn 50 triệu đồng. Anh D3 yêu cầu bị cáo L phải bồi thường tổng số tiền 150 triệu đồng. Đến nay bị cáo L và gia đình chưa bồi thường hay hỗ trợ được khoản chi phí nào. Tại phiên toà bị cáo, người đại diện hợp pháp cho bị cáo, người bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là anh Hoàng Hữu K đều thống nhất thoả thuận: Bị cáo, người đại diện cho bị cáo phải bồi thường cho bị hại tổng số tiền 150.000.000 (một trăm năm mươi triệu đồng), không đề nghị bóc tách các khoản, tiền viện phí, tiền bồi dưỡng sức khoẻ và các khoản khác; người được hưởng khoản tiền này là ông Hoàng Hữu K và bà Lã Thị H vì ông K, bà H đã chi trả khoản tiền trên để cứu chữa anh Hoàng Ngọc D2.

Tại Bản cáo trạng số: 34/CT-VKSPT-P2 ngày 13/5/2025 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ đã truy tốbị cáo Hoàng Đức L về tội “Giết người” theo điểm n khoản 1 Điều 123 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử:

Về Điều luật áp dụng:

Căncứđiểm n khoản 1 Điều 123; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 15; khoản 3 Điều 57; Khoản 1 Điều 101; Điều 38; Điểm a khoản 1 Điều 47 củaBộ luật hình sự;

Căn cứ: Điểm a khoản 2 Điều 119, khoản 3 Điều 120 của Luật tư pháp người chưa thành niên.

Căn cứ điểm a, c khoản 2 Điều 106; Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Căn cứ: Khoản 1 Điều 584; khoản 1 Điều 585; khoản 2 Điều 586; Điều 590; Khoản 1 Điều 357; Điều 468 của Bộ luật Dânsự.

Căn cứ: Khoản 1, khoản 3 Điều 21; điểm a, điểm c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Về tội danh, hình phạt:

Tuyên bố bị cáo: Hoàng Đức L phạm tội “Giết người”.

Xử phạt: Bị cáo Hoàng Đức L từ 05 năm đến 05 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam ngày 08/10/2024.

Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo Hoàng Đức L.

Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng:

Về trách nhiệm dân sự: Công nhận sự thỏa thuận giữa bị cáo Hoàng Đức L phải bồi thường cho Hoàng Ngọc D2 số tiền 150.000.000₫ (một trăm năm mươi triệu đồng). Trường hợp bị cáo không có tài sản để bồi thường thì người đại diện cho bị cáo là ông Hoàng Văn P vàbà Quản Thị Thùy D phải liên đới bồi thường theo khoản 2 Điều 586 Bộ luật dân sự; người đại diện cho bị cáo là ông Hoàng Văn P và bà Quản Thị Thùy D sau khi Hoàng Ngọc D2 nhận số tiền 150.000.000đ (một trăm năm mươi triệu đồng), Hoàng Ngọc D2 phải hoàn trả lại cho ông Hoàng Hữu K, bà Lã Thị H.

Về xử lý vật chứng:

Tịch thu tiêu hủy vật chứng của vụ án gồm:

01 (một) con dao nhãn hiệu: “KiWi” có lưỡi sắc (kích thước dài 28 cm) chuôi dao màu đen, lưỡi dao màu trắng dài 0,16 m; Bản dao rộng nhất 3,5cm thon gọn về đầu mũi dao.

Về án phí: Bị cáo Hoàng Đức L phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm và tiền án phí dân sự sơ thẩm trong án hình sự.

Trợ giúp viên pháp lý bà Bùi Thị Thanh N có quan điểm bào chữa: Đồng ý với quan điểm đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên toà, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại: Ông Vũ Văn S- Luật sư Công ty L3, đoàn luật sư thành phố H không có quan điểm bào chữa vì cho rằng chưa được tiếp cận hồ sơ.

* Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo có cơ hội cải tạo sớm trở về với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Những chứng cứ xác định có tội:

Khoảng 04 giờ ngày 07/9/2024, tại nhà phòng 301 nhà nghỉ P1 thuộc phường H, thị xã P, tỉnh Phú Thọ; nhóm Hoàng Xuân Đ, Hoàng Đức L, Phạm Ngọc K1 đứng chờ bên ngoài để tìm cách rủ Nguyễn Thị Khánh L2 đi chơi nhưng L2 đã nhận lời ở lại trong phòng cùng với Ngô Lưu Ái L1, Hoàng Ngọc D2 và Đặng Thành T1. Trong lúc chờ đợi, nhóm Đ nghe thấy có tiếng chửi trong phòng nên đi vào, L và K1 dùng tay tát vào mặt T1. Thấy vậy, D2 đã lấy 01 con dao gọt hoa quả để sẵn trong phòng dùng khua đuổi Đ, K1 ra khỏi phòng. Đ, K1 liền rút dao thủ sẵn trong người ra để dồn lại D2. Khi D2 chạy quay vào trong phòng thì bị L dùng dao loại dao gọt hoa quả, đâm ngang 01 nhát vào bụng gây tổn thương màng phổi trái, tổn thương lách phải phẫu thuật cắt toàn bộ, tổn thương cơ hoành; tổn hại sức khoẻ là 51%.

Hoàng Đức L không có mâu thuẫn nhưng dùng dao là hung khí nguy hiểm đâm vào vùng bụng anh Hoàng Ngọc D2 gây thương tích nêu trên có thể dẫn đến thiệt hại về tính mạng nếu không được cấp cứu, điều trị kịp thời. Do vậy Hoàng Đức L phạm tội “Giết người” với tình tiết định khung “có tính chất côn đồ” theo quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự.

Điểm n khoản 1 Điều 123 của Bộ luật Hình sự quy định:

“1. Người nào giết người thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình:

n) Có tính chất côn đồ.”

[3] Đánh giá tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thấy rằng:

Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội: Vụ án có tính chất đặc biệt nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là đặc biệt nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe của người khác được pháp luật hình sự bảo vệ. Bị cáo thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiếp; động cơ, mục đích phạm tội là do mâu thuẫn tức thời Hoàng Đức L đã có hành vi dùng dao là hung khí nguy hiểm đâm vào sườn trái là vùng trọng yếu trên cơ thể của anh Hoàng Ngọc D2 gây thương tích 51%. Do đó, hành vi phạm tội của bị cáo cần phải được xử lý nghiêm minh trước pháp luật, như vậy mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

+ Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự : Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

+ Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quátrình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị hại có một phần lỗi nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Sau khi xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo thấy rằng: Bị cáo Hoàng Đức L có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự. Bị cáo được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Ngoài ra, thời điểm thực hiện hành vi phạm tội, Hoàng Đức L mới 16 tuổi 7 tháng nên cần xem xét cầnáp dụng quy định của pháp luật Hình sự và Luật Tư pháp người chưa thành niên để xử lý. Hành vi phạm tội của bị cáo chưa gây ra thiệt hại về tính mạng của anh D2 do đó thuộc trường hợp phạm tội chưa đạt quyđịnhtại Điều 15; khoản 3 Điều 57 của Bộ luật Hình sự; Bị cáo còn là người chưa thành niên nên được áp dụng thêm khoản 1 Điều 101 của Bộ luật hình sự và Đ3 a khoản 2 Điều 119, khoản 3 Điều 120 của Luật tư pháp người chưa thành niên. Xong với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo chỉ vì mâu thuẫn nhỏ bị cáo đã dùng dao là hung khí nguy hiểm đâm vào vùng trọng yếu trên cơ thể của anh D2 và hậu quả làm anh D2 bị tổn thương cơ thể là 51%.Vì vậy lần phạm tội này cần áp dụng hình phạt tù cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để bị cáo cải tạo thành người công dân tốt có ích cho gia đình và xã hội.

[4] Về hình phạt bổ sung: Tại khoản 4 điều 123 quy định: “Người phạm tội còn có thể bị cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm, phạt quản chế hoặc cấm cư trú từ 01 năm đến 05 năm”. Sau khi xem xét nhân thân của bị cáo nên cần miễn áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Đối với hành vi của Hoàng Xuân Đ và Hoàng Ngọc K2, quá trình điều tra nhận thấy Đ, K2 không có bàn bạc trước với L; việc L dùng dao đâm D2 là do L tự phát nên không có căn cứ để xử lý hình sự với vai trò đồng phạm, Cơ quan điều tra chuyển xử lý hành chính là phù hợp

[5] Về trách nhiệm dân sự:

Tại phiên tòa bị cáo, người đại diện hợp pháp cho bị cáo, người bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là anh Hoàng Hữu K đều thống nhất thoả thuận:Bị cáo, người đại diện cho bị cáo phải bồi thường cho bị hại số tiền 150.000.000 (một trăm năm mươi triệu đồng), không đề nghị bóc tách các khoản, tiền viện phí, tiền bồi dưỡng sức khoẻ, tiền tổn thất tinh thần...(trong các khoản tiền này có khoản tiền người bị hại được hưởng nhưng người bị hại để cho ông Hoàng Hữu K và bà Lã Thị H được hưởng) và người được hưởng khoản tiền này là ông Hoàng Hữu K và bà Lã Thị H vì ông K, bà H là bố mẹ đẻ của bị hại Hoàng Ngọc D2. Xét thấy sự thoả thuận trên là tự nguyện, đúng pháp luật nên cần buộc bị cáo Hoàng Đức L và người đại diện cho bị cáo là ông Hoàng Văn P và bà Quản Thị Thùy D phải bồi thường cho Hoàng Ngọc D2 số tiền 150.000.000₫ (một trăm năm mươi triệu đồng), sau khi Hoàng Ngọc D2 nhận số tiền 150.000.000đ (một trăm năm mươi triệu đồng), Hoàng Ngọc D2 phải hoàn trả lại cho ông Hoàng Hữu K, bà Lã Thị H.

[6] Về xử lý vật chứng:

Quá trình điều tra cơ quan cảnh sát điều tra công an tỉnh P đã thu giữ: 01 (một) con dao nhãn hiệu: “ KIWi” có lưỡi sắc (kích thước dài 28 cm) chuôi dao màu đen, lưỡi dao màu trắng dài 0,16 m; Bản dao rộng nhất 3,5cm thon gọn về đầu mũi dao.

Xét thấy các vật chứng trên là công cụ phương tiện dùng vào việc phạm tội và vật chứng không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.

[7]Về án phí: Bị cáo Hoàng Đức L phảichịuánphíhìnhsựsơ thẩm và án phí dân sự trong án hình sự theo quy định của pháp luật.

[8] Về quyền kháng cáo:Bị cáo; người đại diện hợp pháp của bị cáo; người bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

[9] Đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa cơ bản là phù hợp nên được chấp nhận.

Đề nghị của Luật sư bào chữa cho bị cáo tại phiên tòa là đúng pháp luật nên được chấp nhận.

Luật sư bảo vệ cho bị hại không có quan điểm bào chữa nên Hội đồng xét xử không xem xét.

QUYẾT ĐỊNH

[1] Về Điều luật áp dụng:

Căn cứ điểm n khoản 1 Điều 123; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 15; khoản 3 Điều 57; Khoản 1 Điều 101; Điều 38; Điểm a khoản 1 Điều 47; của Bộ luật hình sự.

Căn cứ: Điểm a khoản 2 Điều 119, khoản 3 Điều 120 của Luật tư pháp người chưa thành niên.

Căn cứ điểm a, c khoản 2 Điều 106; Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Căn cứ: Khoản 1 Điều 584; khoản 1 Điều 585; khoản 2 Điều 586; Điều 590; Khoản 1 Điều 357; Điều 468 của Bộ luật Dân sự.

Căn cứ: Khoản 1, khoản 3 Điều 21; điểm a, điểm c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

[2] Về tội danh, hình phạt:

Tuyên bố bị cáo: Hoàng Đức L phạm tội “Giết người”.

Xử phạt: Bị cáo Hoàng Đức L từ 05 năm (năm) đến 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam ngày 08/10/2024.

Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo Hoàng Đức L.

[3] Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng:

*Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Hoàng Đức L và người đại diện cho bị cáo là ông Hoàng Văn P và bà Quản Thị Thùy D phải bồi thường cho Hoàng Ngọc D2 số tiền 150.000.000đ (một trăm năm mươi triệu đồng), sau khi Hoàng Ngọc D2 nhận số tiền 150.000.000đ (một trăm năm mươi triệu đồng), Hoàng Ngọc D2 phải hoàn trả lại cho ông Hoàng Hữu K, bà Lã Thị H.

Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

* Về xử lý vật chứng:

Tịch thu tiêu hủy vật chứng của vụ án gồm:

01 (một) con dao nhãn hiệu: “KIWi” có lưỡi sắc (kích thước dài 28 cm) chuôi dao màu đen, lưỡi dao màu trắng dài 0,16 m; Bản dao rộng nhất 3,5cm thon gọn về đầu mũi dao.

[4] Về án phí: Bị cáo Hoàng Đức L phải chịu 200.000đ tiền án phí hình sự sơ thẩm và 7.500.000đ (bảy triệu năm trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm trong án hình sự.

[5] Quyền kháng cáo: Bị cáo; Người bị hại, Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật để yêu cầu Toà án nhân dân cấp cao tại Hà Nội xét xử phúc thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì các đương sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các Điều 6,7,7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án dân sự thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơinhận:

  • - TAND CấpcaotaihàNội;
  • - VKSND CấpcaotạihàNội;
  • - VKSND tỉnh Phú Thọ;
  • - Sở Tưpháptỉnh Phú Thọ;
  • - PC 01; PC 06- Công an tỉnh Phú Thọ;
  • - CQ THAHS, dânsựtỉnh Phú Thọ;
  • - Trạitạmgiam;
  • - UBND nơi b/c cưtrú;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Anh Tuấn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 63/2025/HS-ST ngày 27/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ về vụ án hình sự về tội giết người

  • Số bản án: 63/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự về tội Giết người
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hoàng Đức L - Giết người
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger