|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU Bản án số: 63/2025/HS-ST Ngày: 23-6-2025 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Thái Hùng.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Đỗ Thị Lài.
- Ông Vũ Công Sế.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lưu Thị Trang – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hương – Kiểm sát viên Trung cấp.
Ngày 23 tháng 6 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 61/2025/TLST-HS ngày 22/5/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 78/2025/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 6 năm 2025 đối với các bị cáo:
1. Lưu Thị H, sinh năm 1988 tại Nam Định; nơi đăng ký thường trú: D T, phường I, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; nơi ở: LK01-04 KĐT K, Phường A, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; nghề nghiệp: kế toán; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Thiên chúa; con ông: Lưu Văn N, sinh năm 1963 và bà Vũ Thị T, sinh năm 1967; gia đình có 04 chị em, bị cáo là con thứ hai; chồng: Trần Hữu L, sinh năm 1983; con: 02 con, lớn nhất sinh năm 2014, nhỏ nhất sinh năm 2016;
Tiền án: không, tiền sự: không;
Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt tại phiên tòa).
2. Bùi Thị N1, sinh năm 1989 tại Nam Định; nơi đăng ký thường trú: C N, Phường G, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; nghề nghiệp: kế toán; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nữ; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: không; con ông: Bùi Văn T1, sinh năm 1966 và bà Đỗ Thị T2, sinh năm 1972; gia đình có 03 chị em, bị cáo là con thứ nhất; chồng: Bùi Mạnh T3, sinh năm 1989; con: 03 con, lớn nhất sinh năm 2012, nhỏ nhất sinh năm 2024;
Tiền án: không tiền sự: không;
Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt tại phiên tòa).
Những người tham gia tố tụng khác:
- * Người bào chữa cho bị cáo Lưu Thị H: Luật sư Phạm Xuân H1 – Công ty L2, thuộc Đoàn luật sư tỉnh B (có mặt tại phiên tòa).
- * Người bào chữa cho bị cáo Bùi Thị N1: Luật sư Nguyễn Trọng L1– Công ty L2, thuộc Đoàn luật sư tỉnh B (có mặt tại phiên tòa).
- * Nguyên đơn dân sự: Chi cục Thuế khu vực V – C. Địa chỉ: Số A đường C, Phường H, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (có mặt tại phiên tòa).
- * Bị đơn dân sự: Công ty Cổ phần Đ1. Địa chỉ: D N, Phường I, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
- Người đại diện theo pháp luật: Ông Trần Hữu L – Chức vụ: Giám đốc (có mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
I. Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Công ty cổ phần Đ1 (viết tắt là công ty Đ1) đăng ký thành lập doanh nghiệp ngày 03/7/2013 được cấp MSDN 0312354195; vốn điều lệ 20 tỷ với 05 cổ đông góp vốn (gồm các ông Luyện Thanh H2 có 35 %, Vũ Quang H3 có 25 %, Vũ Huy H4 có 20%, Trần Hữu L có 10 % và Phan Tiến Đ có 10 %); địa chỉ trụ sở chính: D N, phường I, TP ., tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; người đại diện theo pháp luật: Trần Hữu L - chức danh: Giám đốc; ngành nghề kinh doanh: Bán buôn máy móc thiết bị và phụ tùng khác; thiết kế, thi công lắp đặt hệ thống chống sét, chống trộm, hệ thống phòng cháy chữa cháy... Về công việc kế toán, tài chính: Công ty thuê Lưu Thị H (vợ Trần Hữu L) làm nhân viên hành chính tổng hợp, phụ trách kế toán nội bộ (H được bổ nhiệm kế toán trưởng từ ngày 06/12/2021 để H thực hiện các giao dịch tại Ngân hàng T11 - Chi nhánh V1); thuê Bùi Thị N1 làm báo cáo quyết toán thuế (hợp đồng từ quý 3/2019).
Công ty Đ1 được các cổ đông chuyển nhượng lại (không có chi phí) từ đầu năm 2018, thống nhất cử Trần Hữu L làm người đại diện theo pháp luật, với chức danh Giám đốc (do L có chứng chỉ nghiệp vụ phòng cháy, chữa cháy). Các cổ đông góp vốn xác nhận đều có công việc riêng (ông L, ông Đ, ông H4 làm việc tại Công ty D; ông H2 và ông H3 làm việc tại Hà Nội). Từ khi nhận chuyển nhượng đến nay, công ty không tổ chức họp Hội đồng thành viên và Đại hội cổ đông; không có phương hướng hoạt động kinh doanh; xây dựng quy chế trả lương, thưởng và phân chia lợi nhuận. Việc góp vốn được các thành viên thống nhất căn cứ dự án, công trình trúng thầu thì sẽ cùng góp vốn thực hiện; việc quản lý tài chính giao cho Lưu Thị H phụ trách chi tạm ứng, thanh quyết toán các chi phí nhân công, vật tư ...; lưu giữ toàn bộ tài liệu về hoạt động kinh doanh và các chứng từ thanh toán để kê khai, báo cáo thuế theo định kỳ.
Đến tháng 6/2020, ông Phan Tiến Đ xin rút hết số tiền vốn đã góp và yêu cầu phân chia lợi nhuận; ông Luyện Thanh H2 cho rằng vợ chồng ông L, bà H quản lý điều hành, giữ con dấu, chữ ký số (token), tài khoản công ty, việc báo cáo sổ sách thu chi, tính toán phân chia lợi nhuận không minh bạch, rõ ràng nên xảy ra mâu thuẫn. Tháng 10/2020, ông H2 và ông Đ có đơn tố giác vợ chồng ông L, bà H về hành vi mua bán trái phép hoá đơn, trốn thuế, giả mạo chữ ký trên biên bản họp Hội đồng quản trị, tham ô tài sản và chiếm đoạt cổ tức của các cổ đông.
Quá trình điều tra xác định:
1. Việc quản lý, điều hành hoạt động kinh doanh của công ty T12:
Công ty Đ1 do Trần Hữu L, làm người đại diện theo pháp luật với chức danh Giám đốc nhưng thực tế Lưu Thị H là người trực tiếp việc quản lý, điều hành doanh nghiệp. Vì, L làm công việc chính tại công ty D, phải thường xuyên đi biển nên L giao con dấu, chữ ký số (T) và tài khoản công ty T.Q.L cho Lưu Thị H trực tiếp quản lý, điều hành mọi hoạt động kinh doanh của công ty. Do không có chuyên môn về kế toán, theo đề xuất của H công ty thuê Bùi Thị N1 làm kế toán báo cáo thuế từ quý 3/2019. H giao cho N1 con dấu, chữ ký số (T) của công ty để N1 chủ động thực hiện việc kê khai, báo cáo quyết toán thuế định kỳ tại Chi cục V - C.
2. Về hành vi trốn thuế của Lưu Thị H và Bùi Thị N1 (thông qua việc mua hóa đơn GTGT khống để làm hồ sơ kê khai thuế năm 2019, 2020 cho công ty Đ1).
Quá trình quản lý, điều hành kinh doanh công ty Đ1, Lưu Thị H nhận thấy một số chi phí về nhân công, vật tư, dịch vụ hàng hóa của công trình, dự án mà công ty thực tế có thực hiện nhưng các đơn vị, cá nhân trên không xuất được hóa đơn. Do đó, H đã nhờ Bùi Thị N1 tìm mua hóa đơn GTGT (không có dịch vụ, hàng hóa) bù đắp, bổ sung các hoá đơn đầu vào về khối lượng hàng hóa, dịch vụ, giá trị thanh toán của các công trình đã thực hiện, mục đích làm giảm các chi phí thuế phải nộp cho nhà nước thì N1 đồng ý.
Thông qua mối quan hệ xã hội, Ngần liên hệ, trao đổi, thỏa thuận với đối tượng Huỳnh Thanh B sống tại TP Hồ Chí Minh (chưa rõ lai lịch, sử dụng số điện thoại 0934.449.xxx) để mua hóa đơn GTGT khống (chi phí từ 6 % - 8 % trên tổng số tiền ghi trên hóa đơn) cho công ty Đ1. Việc mua bán hóa đơn thực hiện như sau:
Khi có nhu cầu mua hóa đơn, N1 liên hệ với B cung cấp thông tin của công ty Đ1 (MSDN, MST; số tài khoản công ty), tài khoản cá nhân Lưu Thị H; nội dung mua hàng hóa, dịch vụ; giá trị hợp đồng... để B soạn thảo các Hợp đồng, dịch vụ; biên bản giao nhận vật tư, hàng hoá; hoá đơn GTGT (ghi sẵn nội dung, giá trị) rồi gửi qua xe ô tô khách về cho N1. Sau đó, Huỳnh Thanh B (hoặc người tên Nguyễn Thanh N2, Huỳnh Hữu T4) sẽ chuyển tiền vào tài khoản của Lưu Thị H (số A tại Ngân hàng T11) để H chuyển vào tài khoản công ty Đ1 rồi H tiếp tục chuyển số tiền tương đương ghi trên mỗi hoá đơn GTGT vào tài khoản của các doanh nghiệp xuất hóa đơn cho công ty Đ1 (do B cung cấp). Về chi phí mua hóa đơn thì H chuyển khoản hoặc đưa trực tiếp bằng tiền mặt cho N1 để trả cho B.
Với phương thức thủ đoạn như trên, từ cuối năm 2019 đến năm 2020, Lưu Thị H đã chỉ đạo Bùi Thị N1 mua 68 hoá đơn GTGT khống (bất hợp pháp) với tổng giá trị hàng hóa dịch vụ là 6.014.729.357 đồng của 15 công ty không có hoạt động giao dịch, kinh doanh. Cụ thể:
- Từ ngày 05/10/2019 đến ngày 14/12/2019, mua 18 (mười tám) tờ hóa đơn GTGT, với tổng giá trị hàng hóa dịch vụ là 953.391.065 đồng (gồm các số: 6155, 2721, 4748, 5656, 298, 308, 4978, 545, 5192, 7091, 639, 644, 4561, 664, 4692, 692, 5446, 723);
- Từ ngày 02/01/2020 đến ngày 30/12/2020: Mua 50 (năm mươi) tờ hóa đơn GTGT, với tổng giá trị hàng hóa dịch vụ là 5.061.338.292 đồng (gồm các số: 6361, 1649, 372, 4328, 204,491, 5868, 417, 5992,6866, 925, 1512, 296, 5265, 5233, 5283, 351, 1731, 441, 794, 1421, 5403, 2161, 2529, 2777, 74, 2581, 7956, 439, 2883, 3506, 2944, 1478, 3037, 1540, 75, 2022, 1196, 2539, 3547, 3806, 5371, 4218, 4424, 2390, 5754, 6143, 6624, 5214, 5914);
Tại Cơ quan điều tra, Lưu Thị H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như sau: Trần Hữu L (chồng H) là người đại diện theo pháp luật của công ty (theo Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh). Nhưng trên thực tế, H là người trực tiếp quản lý, điều hành mọi hoạt động sản xuất kinh doanh; chịu trách nhiệm quản lý giấy tờ, con dấu, chữ ký số (T) và tài khoản công ty Đ1; nộp hồ sơ và đi tham gia đấu thầu, chấm công; mua bán hàng hóa, dịch vụ; chi tạm ứng, thanh toán các khoản chi phí cho nhân viên. Quá trình hoạt động kinh doanh, H thấy một số dự án, công trình công ty có chi phí thực tế như nhân công, vật tư, hàng hóa, dịch vụ... nhưng các cá nhân, đơn vị cung cấp không xuất được hóa đơn để kê khai thuế sẽ ảnh hưởng đến lợi nhuận của công ty. Do đó, H đã trao đổi trên nhóm Zalo chung của công ty thì ông H2, ông Đ hướng dẫn (thông qua điện thoại, tin nhắn) bán thầu, mua hoá đơn GTGT để bù vào các chi phí đầu vào các công trình đã thực hiện. Trong năm 2019 và năm 2020, H nhờ N1 liên hệ mua 68 hoá đơn GTGT khống, với tổng giá trị hàng hóa, dịch vụ là 6.014.729.357 đồng và sử dụng kê khai, quyết toán thuế. Hiện nay, Công ty Đ1 đã kê khai giảm trừ toàn bộ 68 tờ hóa đơn trên và nộp khắc phục toàn bộ số tiền 1.911.324.377 đồng vào ngân sách nhà nước (ngày 02/12/2021 nộp bổ sung số tiền 1.477.718.256 đồng; ngày 15/8/2023 và ngày 01/11/2023 nộp bổ sung số tiền 433.606.121 đồng). Về việc giả mạo chữ ký của ông H2 và ông H3 tại biên bản họp Hội đồng quản trị số: 02/2020/HĐQT ngày 11/12/2020, H khai mục đích để Ngân hàng T11 làm thủ tục phát hành bảo lãnh dự thầu, bảo lãnh thực hiện hợp đồng cho công ty Đ1 chứ không vì mục đích cá nhân. Về tình hình hoạt động của công ty thì hàng tháng, quý H đều lập bảng kê các khoản thu, chi của công ty T.Q.L gửi cho các cổ đông thông qua nhóm chung trên Email biết và khẳng định vợ chồng H không có ý định chiếm đoạt cổ tức hay tham ô tài sản của công ty như tố giác của ông Luyện Thanh H2 và ông Phan Tiến Đ.
Bùi Thị N1 khai nhận: Công ty T12 thuê Ngần làm kế toán báo cáo thuế từ quý 3 năm 2019 (hợp đồng thời vụ), với công việc như sau: Lập và gửi các loại hồ sơ, giấy tờ của công ty theo yêu cầu của cơ quan thuế; báo cáo tờ khai thuế GTGT hàng quý; hướng dẫn viết hoá đơn GTGT; nộp các loại thuế, làm việc với cơ quan thuế... Từ cuối năm 2019 đến năm 2020, theo sự chỉ đạo của H, N1 mua 68 tờ hóa đơn GTGT của người tên B (sống tại TP ., không rõ địa chỉ) về hợp thức hoá hồ sơ kê khai thuế giúp Công ty Đ1 trốn thuế. Sau khi bị phát hiện, N1 đã tích cực khai báo và cùng Lưu Thị H kê khai điều chỉnh bổ sung giảm trừ toàn bộ 68 tờ hóa đơn mua bất hợp pháp trên.
Cơ quan điều tra đã làm việc với các cổ đông góp vốn công ty T.Q.L gồm: các ông Luyện Thanh H2 (Chủ tịch HĐQT); Trần Hữu L (Giám đốc); Vũ Huy H4, Vũ Quang H3 và Phan Tiến Đ (Thành viên) khẳng định không chỉ đạo và không biết việc Lưu Thị H, Bùi Thị N1 mua 68 hóa đơn GTGT bất hợp pháp để bổ sung vào hồ sơ kê khai báo cáo thuế của công ty T12. Khi biết được số hóa đơn trên không hợp pháp, doanh nghiệp đã chủ động yêu cầu H và N1 kê khai điều chỉnh giảm trừ trên tờ kê khai thuế, điều chỉnh giảm thuế GTGT được khấu trừ và giao nộp lại 39 hóa đơn và các tài liệu có liên quan đến việc mua bán hóa đơn cho Cơ quan điều tra.
3. Kết quả xác minh đối với nhóm 15 công ty thực hiện hành vi xuất bán 68 hoá đơn GTGT.
- Công ty TNHH K1, MST: 0312387063, địa chỉ: C đường số A, khu phố A, phường B, Quận B (nay là Tp.), Tp. không hoạt động tại địa chỉ đăng ký kinh doanh. Người đại diện theo pháp luật là ông Nguyễn Minh K không có mặt tại nơi cư trú đăng ký, không xác định được nơi cư trú hiện tại.
- Công ty TNHH V2, MST 0314937643, địa chỉ số H đường số A, khu phố A, phường B, Tp ., Tp . Hồ Chí Minh không hoạt động tại địa chỉ đăng ký kinh doanh; Ông Nguyễn Hữu P, CMND số [...] là người đứng tên đại diện pháp luật trên giấy Chứng nhận đăng ký kinh doanh nhưng không biết gì về công ty. Nghề nghiệp của ông P là nhân viên ngân hàng Agribank huyện C, tỉnh Tiền Giang. Ông P trình bày năm 2016 có làm mất CMND.
- Công ty TNHH K2 và máy móc thiết bị trường học X và Nay, MST 0313809335, địa chỉ A đường số F, khu phố C, phường H, Tp., Tp. không hoạt động tại địa chỉ đăng ký kinh doanh; Ông Châu Văn Kim T5, CMND số [...] là người đứng tên đại diện pháp luật cho công ty trên giấy Chứng nhận đăng ký kinh doanh nhưng không biết gì về công ty. Nghề nghiệp của ông T5 là nhân viên tiệm vải Thanh S trên địa bàn Tp ., tỉnh Tiền Giang; năm 2017 ông T5 làm mất chứng minh nhân dân.
- Công ty TNHH D1, MST 0314413590, địa chỉ 2 đường số A, khu phố A, phường B, Tp., Tp. không hoạt động tại địa chỉ đăng ký kinh doanh. Người đại diện theo pháp luật ông Trần Thanh T6, sinh ngày 12/02/1981, CMND số [...] đã chết năm 2013 (trước khi công ty được thành lập).
- Công ty TNHH T13, MST 0313204410, địa chỉ 1 P, Phường C, quận T, Тр không hoạt động tại địa chỉ đăng ký kinh doanh. Ông Phan Minh T7, CMND số [...] là người đứng tên đại diện pháp luật cho công ty trên giấy Chứng nhận đăng ký kinh doanh nhưng không biết gì về công ty. Nghề nghiệp của ông T7 là thợ cắt tóc, tháng 4/2019 ông T7 làm mất chứng minh nhân dân.
- Công ty TNHH K3 (công ty K3), MST 0312180742, địa chỉ 3 L, Phường A, quận T, Tp. không hoạt động tại địa chỉ đăng ký kinh doanh. Người đại diện theo pháp luật là ông Phan Thanh T8, CMND số [...] không có mặt tại nơi cư trú, không xác định được nơi cư trú hiện tại.
- Công ty sản xuất kinh doanh thiết bị điện và lắp đặt mạng lưới điện NCT, MST: 0313296299, địa chỉ số A đường số E, khu phố B, phường T, Tp., Tp không hoạt động tại địa chỉ đăng ký kinh doanh. Người đại diện theo pháp luật là ông Phạm Huỳnh Quốc T9, không có mặt tại nơi cư trú, không xác định được nơi cư trú hiện tại.
- Công ty TNHH X1, MST 0310946799, địa chỉ: B đường số A, khu phố A, phường B, Tp., Tp. không hoạt động tại địa chỉ đăng ký kinh doanh; Bà Chu Vũ Như N3, CMND số [...] là người đứng tên đại diện pháp luật cho công ty trên giấy Chứng nhận đăng ký kinh doanh nhưng không biết gì về công ty. Nghề nghiệp của bà N3 là giảng viên tại trường Đại học M; năm 2014, bà N3 đi trên đường thì bị cướp giật túi xách và mất CMND.
- Công ty TNHH T14, MST 0313411174, địa chỉ 8 đường số H, khu phố A, phường B, Tp., Tp . không hoạt động tại địa chỉ đăng ký kinh doanh, không xác định được địa chỉ công ty và nơi cư trú của Giám đốc.
- Công ty TNHH C, MST 0311572338, địa chỉ: số G, đường số G, khu phố C, phường T, Tp., Tp . không hoạt động tại địa chỉ đăng ký kinh doanh, không xác định được nơi cư trú của giám đốc.
- Công ty TNHH X2, MST 0314565586, địa chỉ 1 P, Phường C, quận T, Тр không hoạt động tại địa chỉ đăng ký kinh doanh; không xác định được địa chỉ công ty và nơi cư trú của giám đốc.
- Công ty TNHH Đ2, MST 0312458211, địa chỉ 1 T, khu phố A, phường T, Tp., Tp . không hoạt động tại địa chỉ đăng ký kinh doanh; Ông Vương Anh P1, CMND số 0385476110 là người đứng tên đại diện pháp luật cho công ty trên giấy Chứng nhận đăng ký kinh doanh nhưng không biết gì về công ty. Nghề nghiệp của ông P1 là lái xe ba gác tại huyện C, tỉnh Bến Tre; tháng 10/2016, ông P1 làm mất chứng minh nhân dân.
- Công ty TNHH T15, MST 0314777830, địa chỉ E đường số G, khu phố C, phường T, Tp., Tp . không hoạt động tại địa chỉ đăng ký kinh doanh. Người đại diện theo pháp luật là bà Phạm Thị Ngọc T10, SN 22/9/1990, không có mặt tại nơi cư trú; không xác định được địa chỉ công ty và nơi cư trú của giám đốc.
- Công ty CP T16 và BHLĐ Phú Quý, mã số thuế 0314777830, địa chỉ: E Đường số G, KP3, P. T, Q. T, Tp . không hoạt động tại địa phương. Công an phường T, quận T xác định trên địa bàn phường T, T không tồn tại địa chỉ 5B Đường số G, KP3; không xác định được địa chỉ công ty.
- Công ty TNHH T17, mã số thuế 0303127742, địa chỉ: D Đường I, KP2, P. B, Quận B, Tp . không hoạt động tại địa chỉ đăng ký kinh doanh; không xác định được địa chỉ công ty.
4. Về kết quả trưng cầu giám định thiệt hại về thuế:
Qua xác minh tại Chi cục Thuế khu vực V - C, Công ty Đ1 đã kê khai, báo cáo thuế đối với 68 tờ hóa đơn GTGT (kèm các chứng từ có liên quan) nêu trên. Theo đó, năm 2019: Doanh thu: 3.517.469.087 đồng, chi phí sản xuất kinh doanh: 2.943.078.835 đồng, Thuế GTGT: 0 đồng, Thuế TNDN: 102.913.068 đồng; năm 2020: Doanh thu: 19.254.716.430 đồng, chi phí sản xuất kinh doanh: 14.173.271.37 đồng; Thuế GTGT: 424.481.266 đồng, Thuế TNDN 684.368.150 đồng. Chi cục V đã giảm, khấu trừ thuế cho Công ty T.Q.L theo quy định.
Ngày 05/9/2023, Cơ quan CSĐT (PC03) Công an tỉnh B đã ra Quyết định trưng cầu giám định số 06/QĐ-CSKT.Đ1 để trưng cầu Cục thuế tỉnh B giám định về hành vi sử dụng hóa đơn bất hợp pháp kê khai thuế có vi phạm pháp luật về thuế không? Xác định thiệt hại về thuế của 68 tờ hóa đơn GTGT, với tổng giá trị hàng hóa dịch vụ là 6.014.729.357 đồng.
Ngày 26/01/2024, Cục thuế tỉnh B ban hành Kết luận giám định về thuế theo quyết định trưng cầu giám định số 06/QĐ-CSKT.Đ1của Cơ quan điều tra, theo đó kết luận:
- “1. Công ty Cổ phần Đ1 đã có hành vi trốn thuế quy định tại Điều 108 Luật Quản lý thuế số 78/2006/QH11 ngày 29/11/2006, Điều 143 Luật Quản lý thuế số 38/2019/QH14 ngày 13/06/2019.
- 2. Công ty Cổ phần Đ1 đã có hành vi sử dụng hóa đơn bất hợp pháp theo quy định tại Điều 22, Thông tư số 39/2014/TT-BTC ngày 31/03/2014 của Bộ T18, khoản 1 Điều 4 Nghị định số 125/2020/NĐ-CP ngày 19/10/2020 của Chính phủ.
- Xác định số tiền thuế trốn:
- - Về Thuế GTGT: 601.472.936 đồng;
- - Về Thuế TNDN: 1.202.945.871 đồng;
- Tổng cộng số tiền thuế trốn: 1.804.418.807 đồng (Bằng chữ: Một tỷ, tám trăm lẻ bốn triệu, bốn trăm mười tám ngàn, tám trăm lẻ bảy đồng)”.
5. Vật chứng thu giữ của vụ án gồm:
- 01 con dấu Công ty TNHH Đ1. Mã số doanh nghiệp: 0312354195 – C.T.T.N.H.H. Quận A- TP ..
- 01 con dấu Công ty Cổ phần Đ1. Mã số doanh nghiệp: 0312354195 – C.T.C.P. Quận A- TP ..
- 01 Giấy chứng nhận QSDĐ số C0 734023; Thửa đất số: 359, tờ bản đồ 87; diện tích: 513 m2; Địa chỉ: Xã Đ, huyện C, tỉnh BR-VT do Trần Hữu L và Lưu Thị H nhận chuyển nhượng lại ngày 06/12/2018.
- 01 sổ nhật ký chung, sổ quỹ tiền mặt, sổ cái các tài khoản, sổ chi tiết các tài khoản.
- 01 sổ Quy chế lương, hợp đồng lao động, tờ khai thuế GTGT, BCTC, Bảng kê, sổ phụ kiêm phiếu báo nợ có, bảng lương, bảng phân bổ CCDC.
- 01 Tờ khai thuế GTGT, sổ phụ ngân hàng, hồ sơ bảo hiểm xã hội.
- Chứng từ mua vào bán ra quý 1, 2, 3, 4 năm 2021 của công ty Đ1.
- 01 Điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A50s màu đen, đã qua sử dụng số seri: R58M939HG2T, số IMEI: 358193102061455.
- 39 tờ hoá đơn GTGT kèm các chứng từ (bản chính), Cơ quan điều tra thống kê bút lục và chuyển theo hồ sơ vụ án. (Đối với 29 hóa đơn còn lại không thu giữ được do H và N1 tiêu hủy sau khi kê khai và nộp bổ sung tiền thuế).
Tại Cáo trạng số 70/CT-VKSBRVT-P1 ngày 03/5/2024, Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu truy tố các bị cáo Lưu Thị H, Bùi Thị N1 về tội “Trốn thuế” theo quy định tại Khoản 3 Điều 200 Bộ luật Hình sự.
Ngày 25/02/2025, Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu có Quyết định số 04/2025/HSST-QĐ trả hồ sơ vụ án Lưu Thị H và đồng phạm bị Viện kiểm sát truy tố về tội “Trốn thuế” theo quy định tại khoản 3 Điều 200 BLHS để điều tra bổ sung về các nội dung: Xác định ai là người chiếm hưởng số tiền trốn thuế; Ngoài hành vi “Trốn thuế” các bị cáo có tham ô hay chiếm đoạt tài sản của công ty Đ1 hay không.
Tại Công văn 294/VKS-P1 ngày 12/05/2025, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu giữ nguyên quan điểm truy tố đối với 02 bị cáo Lưu Thị H và Bùi Thị N1 về hành vi “Trốn thuế”. Đối với các nội dung khác trong quyết định trả hồ sơ điều tra bổ sung, Do thời hạn điều tra bổ sung của vụ án không còn nên ngày 10/4/2025, Cơ quan điều tra đã ra Quyết định số 2810/QĐ tách hành vi và tài liệu liên quan đến nội dung tố giác về hành vi “Tham ô tài sản” để tiếp tục điều tra xác minh, làm rõ và xử lý theo quy định của pháp luật.
II. Tại phiên tòa sơ thẩm, các bị cáo Lưu Thị H, Bùi Thị N1 đã khai nhận diễn biến sự việc và hành vi phạm tội đúng theo kết quả điều tra vụ án và nội dung bản cáo trạng mà đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu công bố.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu trong phần tranh luận, đã phân tích tính chất, mức độ trong hành vi phạm tội của các bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự và giữ nguyên cáo trạng truy tố các bị cáo Lưu Thị H, Bùi Thị N1 về tội “Trốn thuế”. Đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng Khoản 3 Điều 200; điểm b, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Khoản 1 Điều 54; Điều 17; Điều 50; Điều 58; Điều 35; Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017), tuyên phạt bị cáo Lưu Thị H từ 1.200.000.000 đồng đến 1.500.000.000 đồng sung quỹ Nhà nước; tuyên phạt bị cáo Bùi Thị N1 từ 600.000.000 đồng đến 800.000.000 đồng sung quỹ Nhà nước và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
- - Luật sư Phạm Xuân H1 bào chữa cho bị cáo Lưu Thị H tham gia tranh luận: Đồng ý với tội danh viện kiểm sát truy tố đối với bị cáo Lưu Thị H và các tình tiết giảm nhẹ được áp dụng, tuy nhiên mức phạt viện kiểm sát đề nghị không phù hợp với hoàn cảnh của bị cáo H vì các lý do như sau: hiện nay bị cáo không có công việc, nuôi 02 con nhỏ, chồng là ông L đi biển lâu mới về; bên cạnh đó bị cáo không được hưởng lợi gì từ việc trốn thuế mà công ty là người được hưởng lợi; khi phát hiện sai phạm bị cáo đã thành khẩn khai báo, là người có nhân thân tốt; chưa có tiền án, tiền sự, có nhiều tình tiết giảm nhẹ nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các điểm b, s Khoản 1 Khoản 2 Điều 51, Điều 54, Điều 65 Bộ luật Hình sự tuyên bị cáo 02 năm tù nhưng cho bị cáo hưởng án treo.
- - Luật sư Nguyễn Trọng L1 bào chữa cho bị cáo Bùi Thị N1 tham gia tranh luận: Đồng ý với tội danh viện kiểm sát truy tố đối với bị cáo Bùi Thị N1 và các tình tiết giảm nhẹ được áp dụng, tuy nhiên mức phạt viện kiểm sát đề nghị chưa phù hợp vì các lý do như sau: do không có chuyên môn về kế toán nên bị cáo H thuê bị cáo N1 làm báo cáo thuế theo hợp đồng thời vụ, trên thực tế bị cáo H là người quản lý con dấu, hoạt động của công ty, H là người chỉ đạo, chi tiền để N1 mua hóa đơn để hợp thức, N1 chỉ thực hiện công việc của người lao động. Bên cạnh đó khi phát hiện sai phạm bị cáo N1 đã thành khẩn khai báo, khắc phục hậu quả số tiền trốn thuế, bị cáo có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự, kinh tế gia đình khó khăn, con nhỏ nhất dưới 36 tháng tuổi, chồng không có công việc nên bị cáo N1 là lao động chính trong gia đình, nuôi bố mẹ đẻ và cả bố mẹ chồng không có khả năng lao động. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các điểm b, s Khoản 1 Khoản 2 Điều 51, Điều 54, Điều 65 Bộ luật Hình sự tuyên bị cáo hình phạt tù nhưng cho bị cáo hưởng án treo.
Các bị cáo thống nhất với tranh luận của luật sư và không tranh luận gì thêm.
Nói lời sau cùng, các bị cáo rất hối hận về hành vi phạm tội của mình, mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo có cơ hội trở về làm công dân tốt, có ích cho xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh B, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội và tội danh của các bị cáo:
Tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng mà Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu đã truy tố đối với các bị cáo. Xét thấy, lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra, lời khai của người liên quan, phù hợp kết luận giám định cùng các tài liệu, chứng cứ khác do Cơ quan điều tra thu thập được trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định:
Công ty Đ1 do Trần Hữu L làm giám đốc, người đại diện theo pháp luật nhưng thực tế Lưu Thị H (vợ Trần Hữu L) là người trực tiếp quản lý, điều hành mọi hoạt động kinh doanh của công ty Đ1 (thông qua việc L giao con dấu, chữ ký số, tài khoản công ty cho H quản lý; giao quản lý tài chính, mua bán hàng hóa, dịch vụ ... để H quản lý, điều hành hoạt động kinh doanh và báo cáo kê khai, nộp thuế cho công ty Đ1).
Trong khoảng thời gian từ cuối năm 2019 đến năm 2020, Lưu Thị H đã chỉ đạo Bùi Thị N1 (là kế toán báo cáo thuế) nhiều lần mua 68 tờ hóa đơn GTGT bất hợp pháp, với tổng giá trị hàng hóa dịch vụ là 6.014.729.357 đồng của đối tượng tên Huỳnh Thanh B (không rõ lai lịch). Công ty Đ1 sử dụng các hóa đơn trên kê khai thuế tại Chi cục thuế khu vực V – C từ tháng 10/2019 đến tháng 12/2020 để được giảm, khấu trừ số thuế phải nộp cho Nhà nước, nhằm mục đích trốn thuế và tăng lợi nhuận cho công ty Đ1.
Căn cứ kết quả giám định về thuế của Cục thuế tỉnh B, kết luận: “Công ty Cổ phần Đ1 đã có hành vi trốn thuế quy định tại Điều 108 Luật Quản lý thuế số 78/2006/QH11 ngày 29/11/2006, Điều 143 Luật Quản lý thuế số 38/2019/QH14 ngày 13/06/2019. Tổng cộng số tiền thuế trốn là 1.804.418.807 đồng”.
Hành vi nêu trên của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trốn thuế”. Căn cứ số tiền trốn thuế, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu đã truy tố các bị cáo Lưu Thị H, Bùi Thị N1 về tội “Trốn thuế” theo quy định tại Khoản 3 Điều 200 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) là có cơ sở, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo:
Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến chế độ quản lý thuế của nhà nước, làm giảm thu ngân sách nhà nước, xâm hại đến đường lối phát triển kinh tế xã hội, chính sách thuế; gây mất trật tự xã hội và gây dư luận xấu trong nhân dân nên cần phải xử lý nghiêm trước pháp luật với một mức án nghiêm khắc mới đủ sức cải tạo, giáo dục riêng đối với bị cáo và răn đe, phòng ngừa tội phạm chung cho xã hội.
Trong vụ án này, mặc dù thực hiện theo chỉ đạo của bị cáo Lưu Thị H nhưng vai trò của bị cáo Bùi Thị N1 là rất tích cực, bị cáo trực tiếp liên hệ người để mua trái phép hóa đơn, trực tiếp thanh toán chi phí và hoàn thiện hồ sơ để nộp cho cơ quan thuế nên vai trò của cả hai bị cáo H và N1 là tương đương nhau nên cũng phải chịu trách nhiệm hình sự tương đương nhau.
[4] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- - Về nhân thân: Các bị cáo đều có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự.
- - Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
- - Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và nộp lại toàn bộ số tiền trốn thuế cho Nhà nước nên được hưởng 02 tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Các bị cáo hiện có hoàn cảnh gia đình khó khăn, đang phải nuôi con nhỏ nên áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ theo Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
- Ngoài ra, theo hướng dẫn tại tiết 9, mục I Công văn số 212/TANDTC-PC ngày 13/9/2019 về kết quả giải đáp trực tuyến một số vướng mắc trong xét xử của Tòa án nhân dân tối cao quy định đối với tình tiết “người phạm tội là phụ nữ có thai” theo quy định tại điểm n Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự thì không phân biệt người phạm tội là phụ nữ có thai tại thời điểm phạm tội hay trong quá trình truy cứu trách nhiệm hình sự. Trường hợp sau khi bị khởi tố bị cáo mới có thai thì Tòa án vẫn áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “Người phạm tội là phụ nữ có thai” đối với bị cáo nên trong trường hợp này bị cáo Bùi Thị N1 được áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm n Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[5] Về xử lý vật chứng:
- 01 con dấu Công ty TNHH Đ1. Mã số doanh nghiệp: 0312354195 – C.T.T.N.H.H. Quận A- TP .; 01 con dấu Công ty Cổ phần Đ1. Mã số doanh nghiệp: 0312354195 – С.T.C.P. Quận A- TP . không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho Công ty TNHH Đ1;
- 01 Giấy chứng nhận QSDĐ số C0 734023; Thửa đất số: 359, tờ bản đồ 87; diện tích: 513 m2; Địa chỉ: Xã Đ, huyện C, tỉnh BR-VT do Trần Hữu L và Lưu Thị H nhận chuyển nhượng lại ngày 06/12/2018 không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho ông Trần Hữu L;
- 01 sổ nhật ký chung, sổ quỹ tiền mặt, sổ cái các tài khoản, sổ chi tiết các tài khoản; 01 sổ Quy chế lương, hợp đồng lao động, tờ khai thuế GTGT, BCTC, Bảng kê, sổ phụ kiêm phiếu báo nợ có, bảng lương, bảng phân bổ CCDC; 01 Tờ khai thuế GTGT, sổ phụ ngân hàng, hồ sơ bảo hiểm xã hội; Chứng từ mua vào bán ra quý 1, 2, 3, 4 năm 2021 của công ty Đ1 không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho công ty Đ1;
- 01 Điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A50s màu đen, đã qua sử dụng số seri: R58M939HG2T, số IMEI: 358193102061455 thu giữ của bị cáo Lưu Thị H không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo Lưu Thị H.
39 tờ hoá đơn GTGT kèm các chứng từ (bản chính), Cơ quan điều tra thống kê bút lục và chuyển theo hồ sơ vụ án tiếp tục lưu giữ theo hồ sơ vụ án.
[7] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án có hiệu lực từ ngày 01/01/2017.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về trách nhiệm hình sự:
Tuyên bố các bị cáo Lưu Thị H, Bùi Thị N1 phạm tội “Trốn thuế”.
1.1 Áp dụng Khoản 3 Điều 200; các điểm b, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Khoản 1 Điều 54; Điều 17; Điều 50; Điều 58; Điều 35; Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017), tuyên phạt bị cáo Lưu Thị H 700.000.000 (bảy trăm triệu) đồng sung quỹ Nhà nước;
1.2 Áp dụng Khoản 3 Điều 200; các điểm b, n, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Khoản 1 Điều 54; Điều 17; Điều 50; Điều 58; Điều 35; Bộ luật hình sự 2015, tuyên phạt bị cáo Bùi Thị N1 500.000.000 (năm trăm triệu) đồng sung quỹ Nhà nước.
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- - Trả lại cho công ty T19:
- 01 con dấu Công ty TNHH Đ1. Mã số doanh nghiệp: 0312354195 – C.T.T.N.H.H. Quận A- TP .;
- 01 con dấu Công ty Cổ phần Đ1. Mã số doanh nghiệp: 0312354195 – C.T.C.P. Quận A- TP .;
- 01 sổ nhật ký chung, sổ quỹ tiền mặt, sổ cái các tài khoản, sổ chi tiết các tài khoản;
- 01 sổ Quy chế lương, hợp đồng lao động, tờ khai thuế GTGT, BCTC, Bảng kê, sổ phụ kiêm phiếu báo nợ có, bảng lương, bảng phân bổ CCDC;
- 01 Tờ khai thuế GTGT, sổ phụ ngân hàng, hồ sơ bảo hiểm xã hội;
- Chứng từ mua vào bán ra quý 1, 2, 3, 4 năm 2021 của công ty Đ1;
- - Trả lại cho ông Trần Hữu L và bị cáo Lưu Thị H: 01 Giấy chứng nhận QSDĐ số C0 734023; Thửa đất số: 359, tờ bản đồ 87; diện tích: 513 m2; Địa chỉ: Xã Đ, huyện C, tỉnh BR-VT do Trần Hữu L và Lưu Thị H nhận chuyển nhượng lại ngày 06/12/2018.
- - Trả lại cho bị cáo Lưu Thị H: 01 Điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A50s màu đen, đã qua sử dụng số seri: R58M939HG2T, số IMEI: 358193102061455.
(Các vật chứng trên đang được Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu quản lý theo Biên bản giao vật chứng số 60/BB-CTHADS ngày 04/5/2024).
- Tiếp tục lưu theo hồ sơ vụ án: 39 tờ hoá đơn GTGT kèm các chứng từ (bản chính) đã thu giữ trong quá trình điều tra vụ án.
4. Về án phí:
Áp dụng Điều 135, Khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự 2015; Nghị quyết số 326/NQ/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội buộc các bị cáo Lưu Thị H, Bùi Thị N1 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo:
Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Thái Hùng |
Bản án số 63/2025/HS-ST ngày 23/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU về hình sự về tội trốn thuế
- Số bản án: 63/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Trốn thuế
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lưu Thị Hải và đồng phạm - Tội Trốn thuế
