Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

HUYỆN THÁP MƯỜI

TỈNH ĐỒNG THÁP

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 63/2025/HS-ST

Ngày: 23 - 6 - 2025


NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁP MƯỜI, TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Văn Tinh.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thanh Minh Hiền – Ông Đào Văn Hiến.

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Văn Jét – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tháp Mười tham gia phiên tòa: Ông Phạm Tuấn Kiệt – Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án huyện T, tỉnh Đồng Tháp mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 53/2025/TLST-HS ngày 05 tháng 6 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án hình sự ra xét xử số 50/2025/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 6 năm 2025 của Tòa án huyện Tháp Mười, đối với:

* Bị cáo:

Họ và tên: Đặng Thiên N, sinh ngày: 10/5/1996; Nơi sinh: Đồng Tháp;

Giới tính: Nam; Nơi thường trú và chỗ ở: Ấp M, xã M, huyện T, tỉnh Đồng Tháp;

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 9/12;

Nghề nghiệp khi phạm tội: Nhân viên giao hàng; con ông Đặng Văn V, sinh năm 1969 (còn sống) và bà Huỳnh Thị Kim H, sinh năm 1974 (còn sống); Vợ, con: Chưa có; Tiền sự, tiền án: Không; Tạm giữ, tạm giam: Không; Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú.

* Bị hại: Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên C;

Người đại diện theo pháp luật: Ông S – Chức vụ: Giám đốc.

Người đại diện theo ủy quyền: Anh Võ Công P, sinh năm 1999.

HKTT: Ấp H, xã V, huyện C, tỉnh An Giang.

Nơi ở hiện nay: Khóm B, phường B, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp.

* Người làm chứng:

  1. Lê Tuấn D, sinh năm 1989; Địa chỉ: Ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.
  2. Nguyễn Ngọc L, sinh năm 1996; Địa chỉ: Ấp A, xã M, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.
  3. Lý Thị Kim L1, sinh năm 1990;
  4. Nguyễn Hoàng T, sinh năm 1980; Cùng địa chỉ: Khóm A, thị trấn M, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
  5. Đặng Quốc D1, sinh năm 1996;
  6. Hồ Thị Mỹ K, sinh năm 1989; Cùng địa chỉ: Khóm B, thị trấn M, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
  7. Trần Thị L2, sinh năm 1984;
  8. Dương Thị L3, sinh năm 1983;
  9. Phạm Thanh V1, sinh năm 1992; Cùng địa chỉ: Khóm C, thị trấn M, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
  10. Lưu Phú N1 sinh năm 1985; Địa chỉ: Khóm D, thị trấn M, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
  11. Nguyễn Hoàng N2, sinh năm 1982; Địa chỉ: Ấp M, xã M, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
  12. Trần Thanh V2, sinh năm 1992; Địa chỉ: Ấp D, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
  13. Trần Thị Diễm T1, sinh năm 1985; Địa chỉ: Ấp M, xã M, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.

(có mặt bị cáo và anh P; những người làm chứng vắng mặt không có lý do)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 26/5/2022, bị cáo Đặng Thiên N được Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên C – Chi nhánh C1 ký hợp đồng thử việc, làm việc tại địa điểm kinh doanh Tháp Mười (gọi tắt là Bưu cục) tại số C đường T, Khóm D, thị trấn M, huyện T, tỉnh Đồng Tháp (nay di dời về số A đường T, Khóm C, thị trấn M, huyện T, Đồng Tháp). Nhiệm vụ của N là nhân viên giao hàng (shipper), thực hiện công việc nhận các đơn hàng từ nhân viên hành chính Bưu cục để đi giao cho khách hàng, thu tiền COD (tiền thu hộ) và cước thu hộ từ khách hàng rồi giao lại cho nhân viên hành chính Bưu cục (Admin). Đến ngày 21/9/2022, Đăng Thiên N3 chính thức ký hợp đồng lao động với Công ty, thời hạn hợp đồng là 12 tháng.

Trong thời gian làm việc tại Công ty, do tiêu xài vượt mức thu nhập dẫn đến phải vay nợ từ bên ngoài, mất cân đối tài chính. Từ đó, bị cáo nảy sinh ý định chiếm đoạt tiền COD, cước thu hộ thu của khánh hàng để sử dụng tiêu xài cá nhân. Lợi dụng việc số lượng hàng hóa nhiều, nhân viên hành chính của Bưu cục chỉ kiểm tra trên hệ thống các đơn hàng mà N3 đã cập nhật giao hàng xong trên hệ thống để nhận tiền COD, cước đúng với số tiền của các đơn hàng mà N3 đã cập nhật, N3 đã dùng thủ đoạn gian dối là sau khi giao hàng, thu tiền COD, cước của khách hàng xong nhưng không cập nhật lên hệ thống của Công ty, để đơn hàng vẫn trong tình trạng là lưu kho do chưa giao hàng được, nhằm chiếm đoạt số tiền COD và cước thu hộ. Với cách thức như trên, từ ngày 05/11/2022 đến ngày 15/11/2022, N3 đã chiếm đoạt tiền COD, cước thu hộ của 17 đơn hàng, với tổng số tiền 43.994.000 đồng, trong đó có 07 đơn hàng có giá trị tiền COD trên 2.000.000 đồng, cao nhất là 9.486.000 đồng.

Đến cuối tháng 11/2022, anh Võ Công P là người giám sát vận hành của Công ty tiến hành kiểm kho của địa điểm kinh doanh Tháp Mười thì phát hiện không có hàng lưu kho đối với 17 đơn hàng nêu trên, liên hệ trực tiếp khách hàng thì được khách hàng thông tin là đã nhận được hàng, giao tiền COD cho shipper xong. Do đó, anh P đã mời N3 làm việc thì N3 thừa nhận đã chiếm đoạt số tiền trên để sử dụng cho mục đích cá nhân. Sau đó, N3 đã ký giấy xác nhận số tiền chiếm đoạt và viết cam kết sẽ trả lại số tiền đã chiếm đoạt của Công ty mỗi tháng là 6.000.000 đồng, bắt đầu trả tiền từ ngày 31/12/2022. Tuy nhiên, N3 đã không thực hiện đúng như cam kết, ngày 29/11/2022, anh P được Công ty C ủy quyền làm đơn tố cáo N3 gửi đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T.

Về vật chứng đã thu giữ: Không có.

Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình giải quyết vụ án, bị cáo N3 đã tự nguyện nộp lại số tiền 18.000.000 đồng, Công ty C tiếp tục yêu cầu bị cáo N3 bồi thường số tiền còn lại là 25.994.000 đồng.

Tại Cáo trạng số 52/CT-VKSTM ngày 04/6/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tháp Mười đã truy tố bị cáo Đặng Thiên N về tội “Tham ô tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 353 của Bộ luật Hình sự.

* Tại phiên tòa sơ thẩm:

- Đại điện Viện kiểm sát nhân dân huyện T giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử như sau:

  • + Về tội danh: Căn cứ Điều 353 của Bộ luật Hình sự đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Đặng Thiên N phạm tội “Tham ô tài sản”.
  • + Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 353; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38; khoản 1 Điều 54 của Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Đặng Thiên N với mức án từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù.
  • + Hình phạt bổ sung: Căn cứ khoản 5 Điều 353 của Bộ luật Hình sự đề nghị Hội đồng xét xử cấm bị cáo đảm nhiệm chức vụ về quản lý tài chính trong thời từ 02 năm đến 03 năm.
  • + Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 585 và 589 của Bộ luật Dân sự, đề nghị Tòa án tuyên xử buộc bị cáo Đặng Thiên N bồi thường cho Công ty C số tiền 10.994.000 đồng.

- Bị cáo N đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng và Luận tội của Viện kiểm sát, bị cáo không tranh luận và bị cáo nói lời nói sau cùng: Bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát huyện T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố, chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, mọi hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về xét xử vắng mặt:

Xét thấy, việc vắng mặt của những người làm chứng không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt họ là phù hợp theo quy định tại Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[3] Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo Đặng Thiên N đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như mô tả trong Bản Cáo trạng của Viện kiểm sát huyện T. Cụ thể là, trong các ngày từ 05/11/2022 đến ngày 15/11/2022, lợi dụng việc nhân viên hành chính không kiểm tra hàng lưu kho, bị cáo N đã thực hiện hành vi chiếm đoạt tiền của Công ty C mà bị cáo là nhân viên được giao làm nhiệm vụ giao hàng và thu hộ tiền từ khách hàng của 17 đơn hàng với tổng số tiền là 43.994.000 đồng, trong đó có 07 đơn hàng có giá trị trên 2.000.000 đồng, đơn hàng có giá trị cao nhất là 9.486.000 đồng, hành vi của bị cáo thuộc trường hợp phạm tội nhiều lần. Vụ án xảy ra tại Khóm D, thị trấn M, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.

Lời khai nhận tội của bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng và các chứng cứ khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án.

Từ những căn cứ nêu trên, Hội đồng xét xử kết luận hành vi phạm tội của bị cáo Đặng Thiên N đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tham ô tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 2 Điều 353 của Bộ luật Hình sự, quy định như sau:

Điều 353. Tội tham ô tài sản

1. Người nào lợi dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản mà mình có trách nhiệm quản lý trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

c) Phạm tội 02 lần trở lên;

5. Người phạm tội còn bị cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ 01 năm đến 05 năm, có thể bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.”

[4] Xét hành vi phạm tội của bị cáo: Bản thân bị cáo là người đã thành niên, bị cáo nhận thức được hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật, nhưng do mất cân đối trong chi tiêu cá nhân nên bị cáo đã nảy sinh ý định chiếm đoạt số tiền thu hộ của khách hàng mà Công ty đã giao cho bị cáo đi thu, sau khi thu tiền xong của khách hàng bị cáo không nộp cho Công ty mà khai báo gian dối là chưa giao được hàng nhằm để kéo dài thời gian và chiếm đoạt tiền để tiêu xài cá nhân. Hậu quả trong khoảng thời gian từ ngày 05/11/2022 đến ngày 15/11/2022 bị cáo đã chiếm đoạt được tiền của 17 đơn hàng với tổng số tiền là 43.994.000 đồng, trong đó có 07 đơn hàng có giá trị trên 2.000.000 đồng, đơn hàng có giá trị cao nhất là 9.486.000 đồng, hành vi của bị cáo thuộc trường hợp phạm tội nhiều lần. Bị cáo phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp và tội phạm đã hoàn thành.

[5] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, chẳng những xâm phạm đến tài sản của người khác một cách trái pháp luật mà xâm phạm đến trật tự trị an tại địa phương nơi xảy ra vụ án. Do đó, Tòa án huyện T đưa vụ án ra xét xử hôm nay là cần thiết, cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để bị cáo có đủ điều kiện học tập, cải tạo trở thành công dân tốt, sống có ích cho gia đình và xã hội. Đồng thời, góp phần phòng ngừa chung trong toàn xã hội nói chung.

[6] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

[7] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo đã bồi thường một phần thiệt hại cho bị hại; trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo đã thành khẩn khai báo và ăn năn hối cãi về hành vi phạm tội của mình; tại phiên tòa, đại diện bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để Hội đồng xét xử giảm nhẹ khi lượng hình. Do bị cáo có hai tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự nên Hội đồng xét xử quyết định áp dụng khoản 1 Điều 54 của Bộ luật Hình sự để quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng đối với bị cáo nhằm thể hiện bản chất nhân đạo của pháp luật xã hội chủ nghĩa.

[8] Về trách nhiệm dân sự:

Tại phiên tòa, người đại diện cho bị hại thừa nhận bị cáo đã bồi thường được số tiền 33.000.000 đồng, còn lại số tiền 10.994.000 đồng yêu cầu bị cáo tiếp tục bồi thường. Bị cáo đồng ý tiếp tục bồi thường số tiền 10.994.000 đồng cho bị hại nên Hội đồng xét xử công nhận.

[9] Về hình phạt bổ sung: Căn cứ khoản 5 Điều 353 của Bộ luật Hình sự.

Cấm bị cáo Đặng Thiên N đảm nhiệm chức vụ về quản lý tài chính trong thời hạn 02 (hai) năm, kể từ ngày chấp hành xong hình phạt tù.

[10] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và dân sự sơ thẩm theo luật định.

[11] Xét lời đề nghị của Vị đại diện Viện kiểm sát huyện T là có căn cứ và phù hợp với nhận định trên nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 2 Điều 353; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 và khoản 1 Điều 54 của Bộ luật Hình sự.

  1. Tuyên bố: Bị cáo Đặng Thiên N phạm tội “Tham ô tài sản”.
  2. Xử phạt: Bị cáo Đặng Thiên N 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày chấp hành án.
  3. Hình phạt bổ sung: Căn cứ khoản 5 Điều 353 của Bộ luật Hình sự.
  4. Cấm bị cáo Đặng Thiên N đảm nhiệm chức vụ về quản lý tài chính trong thời hạn 02 (hai) năm, kể từ ngày chấp hành xong hình phạt tù.

  5. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 585 và 589 của Bộ luật Dân sự.
  6. Buộc bị cáo Đặng Thiên N phải có nghĩa vụ bồi thường cho Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên C số tiền 10.994.000 đồng (mười triệu chín trăm chín mươi bốn nghìn đồng).

    Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.

  7. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  8. Bị cáo Đặng Thiên N phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm và 549.500 đồng (năm trăm bốn mươi chín nghìn năm trăm đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.

  9. Về quyền kháng cáo:
  10. Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

    Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Đồng Tháp;
  • - VKSND tỉnh Đồng Tháp;
  • - VKSND huyện Tháp Mười;
  • - CA huyện Tháp Mười;
  • - THADS huyện Tháp Mười;
  • - Bị cáo;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu: VPTA & hồ sơ vụ án. (Jét)

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Văn Tinh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 63/2025/HS-ST ngày 23/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁP MƯỜI, TỈNH ĐỒNG THÁP về tham ô tài sản (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 63/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tham ô tài sản (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁP MƯỜI, TỈNH ĐỒNG THÁP
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Đặng Thiên N phạm tội tham ô tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger