Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ PHỦ LÝ

TỈNH HÀ NAM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 63/2025/HS-ST.

Ngày 26-03-2025.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỦ LÝ - TỈNH HÀ NAM

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Thanh Sơn.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Chí Trung và bà Nguyễn Thị Huê.

- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Thu Ngân - Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Oanh - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 03 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 41/2025/TLST-HS ngày 26/02/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 53/2025/QĐXXST-HS ngày 14/03/2025 đối với bị cáo:

Bùi Văn Q, sinh năm 1988 tại Ninh Bình; nơi ĐKTT: Thôn Đ, xã T, huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình; chỗ ở: Tiểu khu S, thị trấn K, huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Văn K và bà Bùi Thị Đ; có vợ là Bùi Thị V, sinh năm 1994 và 01 con sinh năm 2014; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Tốt; bị bắt, tạm giữ ngày 20/12/2024, tạm giam từ ngày 29/12/2024 đến nay; có mặt.

Người làm chứng: Ông Trần Văn T, sinh năm 1962; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 16 giờ 15 phút ngày 20/12/2024, Bùi Văn Q đi bộ từ nơi làm việc tại Công ty khai thác đá T thuộc tiểu khu S, thị trấn K, huyện Thanh Liêm ra ngoài đường lớn rồi thuê xe ôm đi đến thành phố Phủ Lý mục đích tìm mua ma túy để sử dụng. Khi đến khu vực tổ 8, phường Lê Hồng Phong, thành phố Phủ Lý, Q xuống xe đi tiếp một đoạn thì gặp một nam thanh niên (Q không biết rõ tên tuổi, lai lịch), Q hỏi người này: “Có hàng không” thì người thanh niên trả lời: “Có”, Q nói: “Cho một trăm” rồi lấy ra 100.000đồng đưa cho người này, người thanh niên cầm tiền nói: “Chờ một tỷ” rồi bỏ đi. Một lát sau người thanh niên quay lại đưa cho Q 01 gói giấy màu trắng, biết trong gói giấy có ma túy nên Q cầm lấy, cất vào trong túi quần phía trước bên phải rồi đi tìm nơi để sử dụng. Đi được một đoạn, Q bị tổ công tác thuộc Công an phường Lê Hồng Phong, thành phố Phủ Lý đang làm nhiệm vụ yêu cầu kiểm tra hành chính, phát hiện thấy cất giấu ma túy nên đã lập biên bản bắt giữ người phạm tội quả tang, thu giữ tang vật theo quy định.

Vật chứng thu giữ của vụ án gồm: 01 gói giấy màu trắng bên trong chứa chất bột màu trắng dạng cục niêm phong trong phong bì ký hiệu QT01.

Tại bản Kết luận giám định số 1027/KL-KTHS ngày 27/12/2024, Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Nam kết luận: “Mẫu bột màu trắng dạng cục trong phong bì ký hiệu QT01 gửi giám định là ma túy, có khối lượng: 0,146 gam, loại Heroine”.

Bản Cáo trạng số 48/CT-VKS-PL ngày 25/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam đã truy tố Bùi Văn Q về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý thực hành quyền công tố Nhà nước giữ nguyên quan điểm không thay đổi, bổ sung về nội dung đã truy tố đối với bị cáo Bùi Văn Q, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 47 và Điều 50 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

  • - Hình phạt chính: Xử phạt Bùi Văn Q từ 24 tháng đến 30 tháng tù.
  • - Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
  • - Xử lý vật chứng của vụ án theo quy định của pháp luật.

Bị cáo Bùi Văn Q đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý đã truy tố. Trong lời nói sau cùng, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. [1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
  2. [2] Đối với người tham gia tố tụng là người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa nhưng trong hồ sơ vụ án đã có đầy đủ lời khai của họ, được Cơ quan điều tra tiến hành lấy lời khai theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
  3. [3] Về tội danh: Tại phiên tòa, bị cáo Bùi Văn Q đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý đã nêu. Lời khai của bị cáo phù hợp với chứng cứ của vụ án được thẩm tra tại phiên tòa như biên bản bắt giữ người phạm tội quả tang, thu giữ, niêm phong vật chứng, kết luận giám định về chất ma túy, lời khai của người làm chứng và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 16 giờ 45 phút ngày 20/12/2024, tại tổ 8, phường Lê Hồng Phong, thành phố Phủ Lý, Bùi Văn Q bị lực lượng Công an phường Lê Hồng Phong, thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam bắt giữ quả tang đang cất giấu trái phép 0,146gam chất ma túy loại Heroine, mục đích để sử dụng. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.
  4. [4] Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:
    • 4.1. Về nhân thân: Bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự; có nhân thân tốt; bản thân chưa có tiền án, tiền sự.
    • 4.2. Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào theo quy định của Bộ Luật Hình sự.
    • 4.3. Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; có thời gian tham gia phục vụ trong quân đội nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
  5. [5] Về hình phạt:
    • 5.1. Hình phạt chính: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, mức độ nghiêm trọng, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy và các chất gây nghiện trực tiếp là các hoạt động cất giữ, tàng trữ chất ma túy, gây mất trật tự, an toàn cho xã hội, làm nảy sinh tệ nạn ma túy là mầm mống, nguyên nhân phát sinh các tội phạm khác. Vì vậy, cần có mức hình phạt nghiêm minh, tương xứng tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm bị cáo đã thực hiện mới có tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo thành người có ích, đồng thời nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh ngăn chặn, phòng ngừa tội phạm.
    • 5.2. Hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định và tài sản riêng; phạm tội không vì mục đích vụ lợi nên không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung (như phạt tiền, tịch thu tài sản...) đối với bị cáo.
  6. [6] Về tình tiết khác của vụ án: Đối với người thanh niên gặp ở khu vực tổ 8, phường Lê Hồng Phong, thành phố Phủ Lý theo bị cáo khai là người đã bán ma túy cho bị cáo để cất giấu, do quá trình điều tra Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh để làm rõ nhưng không xác định được nhân thân, lai lịch, địa chỉ của người này, ngoài lời khai của bị cáo ra thì không còn có tài liệu, chứng cứ nào khác để chứng minh nên Cơ quan điều tra không đủ cơ sở để xem xét, xử lý theo quy định của pháp luật là có căn cứ.
  7. [7] Về xử lý vật chứng đã thu giữ: Đối với toàn bộ số Hêroine hoàn trả sau giám định cùng bao gói là vật cấm tàng trữ, lưu hành nên tịch thu, tiêu hủy.
  8. [8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
  9. [9] Về quyền kháng cáo: Bị cáo thực hiện quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 47 và Điều 50 của Bộ luật Hình sự; Điều 106, khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136, các điều 329, 331, 332 và 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Luật Phí và Lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015 của Quốc hội; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

  1. 1. Tuyên bố bị cáo Bùi Văn Q phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo 27 (hai mươi bảy) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ 20/12/2024.
  2. 2. Xử lý vật chứng: Tịch thu, tiêu hủy 01 (một) phong bì đã niêm phong số 1027/KTHS, mặt trước phong bì có ghi: “Mẫu vật hoàn trả QT01”, mặt sau phong bì có chữ ký, dấu niêm phong của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Nam. Tình trạng, đặc điểm vật chứng theo Biên bản giao, nhận vật chứng giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Phủ Lý và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Phủ Lý ngày 26/02/2025.
  3. 3. Án phí: Bị cáo Bùi Văn Q nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  4. 4. Quyền kháng cáo đối với bản án: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tối cao;
  • - TAND tỉnh Hà Nam;
  • - VKSND tỉnh Hà Nam;
  • - VKSND thành phố Phủ Lý;
  • - Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Hà Nam;
  • - Cơ quan THAHS Công an tỉnh Hà Nam;
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Hà Nam;
  • - Chi cục THADS thành phố Phủ Lý;
  • - Bị cáo Bùi Văn Q;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(đã ký)

Lê Thanh Sơn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 63/2025/HS-ST ngày 26/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỦ LÝ - TỈNH HÀ NAM về tàng trữ trái phép chất ma túy (vụ án hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 63/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy (Vụ án Hình sự Sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỦ LÝ - TỈNH HÀ NAM
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bùi Văn Q phạm tội: "tàng trữ trái phép chất ma túy".
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger