Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 11

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 63/2025/HS-ST

Ngày 18 tháng 12 năm 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11, TỈNH AN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Văn Huệ.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Ngô Văn Được, bà Nguyễn Thị Ly

Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Trọng Khiêm là Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 11, tỉnh An Giang

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông Phan Anh Kiệt - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 11, tỉnh An Giang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 67/2025/TLST-HS ngày 24 tháng 11 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 67/2025/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 12 năm 2025, đối với bị cáo:

Đỗ Nhựt H, sinh ngày 02/6/2003; CCCD số [...], do Cục Cảnh sát Quản lý hành chính về trật tự xã hội cấp; nơi sinh: Huyện C, tỉnh An Giang; nơi ĐKTT: Ấp A, xã H, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa: 07/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Công giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đỗ Thanh T và bà Nguyễn Thị T1; vợ (chung sống như vợ chồng) với Lê Thị Bích H1, có 01 con, sinh năm 2023.

Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Ngày 08/02/2023 bị Công an xã H (nay là xã H), tỉnh An Giang, xử phạt hành chính 1.500.000đồng về hành vi “Đánh bạc”, nộp phạt xong 19/02/2023.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 27/8/2025 đến nay (Có mặt).

Bị hại: Ông Phạm Trung T2, sinh năm 2004; nơi cư trú: Ấp A, xã H, tỉnh An Giang (Vắng mặt).

Người làm chứng: Ông Phan Nhựt H2, ông Ngô Hoàng Minh P (Cùng vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 10 giờ ngày 18/02/2025, Phan Nhựt H2 điều khiển xe mô tô biển số 67AL-378.94 chở Phạm Trung T2 đến khu vực ấp A, xã H, huyện C (nay là ấp A, xã H, tỉnh An Giang) gặp Đỗ Nhựt H hỏi T2 và H2 “Xòng tài – xỉu đang chơi ở đâu” thì H2 chỉ H đi ra hướng mé sông khoảng 200m, H đi theo hướng H2 chỉ tìm không gặp xòng bạc nên quay lạy dùng lời lẽ thô tục chửi H2 và T2. Sau đó, H tiếp tục đến khu vực trên (tổ A, ấp A, xã H) thấy có xòng tài - xỉu và H gặp T2, H2 đang có mặt tại đây nên H bực tức tiếp tục có những lời lẽ thô tục chửi rồi đi đến bụi cỏ gần nhà lấy cây dao (loại dao tự chế dài khoảng 1,2m) đuổi T2 và H2 chém. Tính, H2 thấy H cầm dao tự chế nên bỏ chạy bị vấp ngã, H xông đến vung dao chém nhiều nhát từ trên xuống, T2 đưa tay lên đỡ bị H chém trúng đứt gần lìa ngón II – III – IV bàn tay trái, khi thấy T2 bị chảy nhiều máu thì H dừng lại không thực hiện chém tiếp và bỏ đi về nhà ném bỏ cây dao sau đất vườn. Cơ quan điều tra tổ chức truy tìm hung khí, nhưng không tìm thấy. Riêng T2 được đưa đến Bệnh viện T3 điều trị thương tích đến ngày 21/02/2025 ra viện. Tính yêu cầu xử lý hình sự đối với H và không yêu cầu bồi thường thiệt hại.

Vật chứng thu giữ: Không.

Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 155/25/KLTTCT-TTPY ngày 31/3/2025 của Trung tâm pháp y tỉnh A, đối với Phạm Trung T2:

  1. Các kết quả chính: Sẹo dạng vát mặt lòng bàn tay trái ngón II, kích thước (0.6 x 0.3)cm, sẹo lồi lõm, hồng, bờ sắc. Tỷ lệ là 01%. Sẹo mặt lòng liên đốt 1 – 2 ngón 1 bàn tay trái, kích thước (1.7 x 0.2)cm, sẹo lồi, hồng, bờ sắc. Tỷ lệ là 01%. Sẹo mặt lòng đốt bàn ngón II đến kẻ ngón II - III bàn tay trái, kích thước (2.5 x 0.3)cm, sẹo lồi lõm, hồng, bờ sắc. Tỷ lệ là 01%. Gây: Đứt gân gấp, gân dũi ngón II bàn tay trái, đã phẩu thuật khâu nối gân. Hiện tại gây cứng khớp đốt bàn ngón II bàn tay trái. Tỷ lệ 07%; Sẹo mổ mặt lòng bàn tay trái phía ngón III, kích thước (3.5 x 0.1)cm, sẹo lồi, lổm, hồng. Tỷ lệ là 01%; Tỷ lệ là 9%. Sẹo mặt lòng đốt 1 ngón III bàn tay trái, kích thước (1.5 x 0.1)cm, sẹo lồi, hồng, bờ sắc. Tỷ lệ là 01%. Mẻ xương đốt I ngón III bàn tay trái, tương ứng với sẹo bên ngoài, tỷ lệ 01%. Hiện tại gây cứng khớp đốt bàn ngón III bàn tay trái, tỷ lệ 05%. Tỷ lệ 07%. Mõm cụt đốt 1 ngón IV bàn tay trái. Tỷ lệ là 06%. Sẹo mặt lòng đốt 3 ngón V bàn tay trái, kích thước (1.5 x 0.1)cm, sẹo hơi lồi, hồng, bờ sắc. Tỷ lệ là 01%. Sẹo mặt lưng đốt bàn ngón II bàn tay trái, kích thước (05 x 0.3)cm, sẹo lồi, hồng, bờ sắc. Tỷ lệ là 02%. Sẹo mặt lòng đốt 1 ngón III bàn tay trái, kích thước (1.5 x 0.1)cm, sẹo lồi, hồng, bờ sắc. Tỷ lệ là 01%.
  2. Kết luận: Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, pháp y tâm thần. Xác định bổ sung tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do tất cả thương tích gây nên của Phạm Trung T2, áp dụng phương pháp cộng theo Thông tư tại thời điểm giám định là: 25%. Kết luận khác: Tất cả các thương tích trên do vật sắc gây nên.

Cáo trạng số: 23/CT-VKSKV11 ngày 19/11/2025, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11 – An Giang, truy tố Đỗ Nhựt H về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự 2015.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo H khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung vụ án.

Bị hại Phạm Trung T2 và những người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa, nhưng giai đoạn điều tra trình bày nội dung phù hợp với Cáo trạng đã nêu.

Đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố. Sau khi đánh giá tính chất của vụ án, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, phân tích các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân người phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử (viết tắt HĐXX):

  • - Về hình phạt chính: Áp dụng điểm đ khoản 2 điều 134; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Đỗ Nhựt H từ 03 năm đến 04 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”.
  • - Về vật chứng: Không thu hồi được, nên không xem xét.
  • - Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu, không đề cập giải quyết.
  • - Đối với, Đỗ Nhựt H, Phan Nhật H3 và Phạm Trung T2 khai đến sòng tài xỉu, nhưng không tham gia đánh bạc, không biết những người tổ chức xòng bạc, Cơ quan Cảnh sát điều tra tiếp tục làm rõ xử lý theo quy định pháp luật. Riêng H sống chung như vợ chồng với Lê Thị Bích H1, sinh ngày 18/02/2006 và có 01 con chung sinh ngày 29/4/2023, thì H1 đã đủ 16 tuổi nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh A không xem xét trách nhiệm hình sự đối với H về hành vi “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi”.

Bị cáo không bào chữa và tranh luận, lời nói sau cùng bị cáo xin HĐXX giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về thủ tục tố tụng:

  • - Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì. Do đó, về các hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
  • - Tại phiên tòa, bị hại và những người làm chứng vắng mặt, mặc dù Tòa án đã tống đạt giấy triệu tập hợp lệ. Xét thấy, sự vắng mặt của các ông bà không gây trở ngại gì đến việc xét xử của vụ án. Căn cứ các Điều 292, 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, HĐXX tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.

[2]. Về nội dung:

Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo Đỗ Nhựt H khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu. Lời khai nhận tội của bị cáo tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp lời khai của bị hại, những người làm chứng về thời gian, địa điểm, thủ đoạn, mục đích, động cơ phạm tội và hậu quả do tội phạm gây ra, cùng các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ căn cứ để kết luận:

Khoảng 10 giờ ngày 18/02/2025, tại (tổ A, ấp A, xã H), do mâu thuẫn trong việc chỉ tìm đường trước đó, nên H bực tức tiếp tục có những lời lẽ thô tục chửi H3 và T2 rồi đi đến bụi cỏ gần nhà lấy cây dao (loại dao tự chế dài khoảng 1,2m) đuổi T2 và H3 chém. Tính, H3 thấy H cầm dao tự chế nên bỏ chạy bị vấp ngã, H xông đến vung dao chém nhiều nhát từ trên xuống, T2 đưa tay lên đỡ bị H chém trúng đứt gần lìa ngón II – III – IV bàn tay trái với tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể 25%. Hành vi của bị cáo thỏa mãn dấu hiệu khách quan của tội: “ Cố ý gây thương tích” với tình tiết định khung quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự có khung hình phạt tù từ 02 năm đến 06 năm, như Cáotrạng Viện kiểm sát truy tố.

[3] Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, HĐXX nhận thấy:

Bị cáo H là người có vợ, con; lẽ ra, bị cáo cần bình tĩnh tìm cách xử lý thích hợp để tránh hậu quả xảy ra, nhưng bị cáo không làm được điều đó mà chỉ vì bực tức trong việc chỉ nhằm đường mà bị cáo có những lời lẽ thô tục chửi và dùng dao tự chế xông vào chém nhiều nhát gây thương tích cho anh T2 đứt gần lìa ngón II – III – IV bàn tay trái, đến khi thấy T2 bị chảy nhiều máu thì bị cáo mới dừng lại, trong khi bị cáo với anh T2 không có mâu thuẫn gì với nhau từ trước. Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện rõ bản tính hung hăn, côn đồ, xem thường pháp luật, chẳngxâm phạm trực tiếp đến sức khỏe của anh T2 mà còn ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự, an toàn xã hội tại địa phương. Do đó HĐXX cân có hình phạt nghiêm, tương xứng với hành vi của bị cáo, nhằm để răn đe giáo dục và phòng ngừa chung.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, trong thời gian tạm giam bị cáo không vi phạm nào khác, chứng tỏ bị cáo có ăn năn hối cải; bị cáo có con nhỏ và là lao động chính trong gia đình. Đó là các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, nên tại phiên tòa, Kiểm sát viên đề nghị HĐXX áp dụng mức án nêu trên là có xem xét giảm nhẹ

một phần hình phạt cho bị cáo và đề nghị đó là có căn cứ, tương xứng với mức độ hành vi phạm tội của bị cáo ra, nên được HĐXX chấp nhận.

[4]. Về vật chứng: Do không thu hồi được, nên HĐXX không đề cập xử lý.

[5]. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu, nên HĐXX không xem xét giải quyết.

Đối với, Đỗ Nhựt H, Phan Nhật H3 và Phạm Trung T2 khai đến sòng tài - xỉu, nhưng không tham gia đánh bạc, không biết những người tổ chức xòng bạc, HĐXX thống nhất giao Cơ quan Cảnh sát điều tra tiếp tục điều tra làm rõ xử lý theo quy định pháp luật.

Riêng H sống chung như vợ chồng với Lê Thị Bích H1, sinh ngày 18/02/2006 và có 01 con chung sinh ngày 29/4/2023, thì H1 đã đủ 16 tuổi nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh A không xem xét trách nhiệm hình sự đối với H về hành vi “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi” là có căn cứ.

[6]. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm, theo quy định tại khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Đỗ Nhựt H phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

  1. Về hình phạt: Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
  2. Xử phạt: Bị cáo Đỗ Nhựt H 03 năm 06 tháng tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 27/8/2025.

  3. Về vật chứng: Không.
  4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Bị cáo Đỗ Nhựt H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Báo cho bị cáo và các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (18/12/2025), đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận

  • - TA tỉnh (01);
  • - VKS khu vực 11;
  • - VKS tỉnh An Giang;
  • - Sở Tư pháp An Giang (01);
  • - Cơ quan THAHS, HTTP (02);
  • - Phòng hồ sơ (01);
  • - Phòng THADS khu vực 11(01);
  • - Bộ phận THAHS.TA (01);
  • - Phân trại tạm giam khu vực Chợ Mới;
  • - Bị cáo;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ;
  • - Lưu VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Văn Huệ

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 63/2025/HS-ST ngày 18/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11, TỈNH AN GIANG về cố ý gây thương tích

  • Số bản án: 63/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Đỗ Nhựt Hào phạm tội Cố ý gây thương tích k2 Điều 134
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger