|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 – NINH BÌNH Bản án số: 63/2025/HS-ST Ngày: 18-11-2025 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 – NINH BÌNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Lương Thị Kim Huế
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Thắng
Ông Vũ Anh Tuấn
Thư ký phiên toà: Bà Đỗ Thị Hải Anh - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 7 – Ninh Bình
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 – Ninh Bình tham gia phiên toà: Ông Mai Hoàng Hải - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 11 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 7 – Ninh Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 62/2025/TLST-HS ngày 29 tháng 10 năm 2025 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 62/2025/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 11 năm 2025 đối với bị cáo:
Họ và tên: Bùi Xuân T, sinh ngày 20 tháng 02 năm 1986 tại tỉnh Ninh Bình; Nơi đăng ký thường trú: Số A đường Đ, phường T, tỉnh Ninh Bình; Số căn cước công dân: [...]; giới tính: nam; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 08/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Bùi Huy Q và bà Đoàn Thị T1; gia đình có 02 anh em, bị cáo là thứ hai; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 31-12-2021, Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường L, thành phố N, tỉnh Nam Định (nay là Ủy ban nhân dân phường T, tỉnh Ninh Bình) áp dụng biện pháp giáo dục tại phường thời hạn 03 tháng từ ngày 31-12-2021 đến 31-3-2022 về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 31-7-2025, chuyển tạm giam từ ngày 09-8-2025 cho đến nay tại Trại tạm giam số 03 Công an tỉnh N. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Người làm chứng: Ông Nguyễn Thái K và ông Trần Xuân H (không triệu tập đến phiên toà)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 14 giờ 15 phút ngày 30-7-2025, Công an phường T, tỉnh Ninh Bình kiểm tra cư trú tại nơi ở của Bùi Xuân T tại địa chỉ số A Đ, phường T, tỉnh Ninh Bình phát hiện, thu giữ tại khu vực đầu giường phòng ngủ của T có 01 coóng thủy tinh màu trắng dạng ống được uốn thành hình cong kích thước 11,5x6 cm, một đầu hình tròn đường kính 0,5cm, một đầu hình cầu đường kính 02 cm bên trong chứa các hạt chất rắn dạng tinh thể màu trắng (T khai là ma túy đá mua về để sử dụng); 01 chai nhựa màu trắng có nắp màu xanh, kích thước 16,5x6 cm, mặt trên nắp chai khoét 02 lỗ, mỗi lỗ có đường kính 0,5cm, một lỗ có gắn ống hút màu xanh dài 28cm (T khai là dụng cụ sử dụng ma túy đá). Tổ công tác đã niêm phong vật chứng, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ mẫu nước tiểu đối với Bùi Xuân T.
Bản kết luận giám định số 211/KL-KTHS ngày 31-7-2025 của Phòng K1 Công an tỉnh N kết luận: Mẫu chất rắn dạng tinh thể màu trắng có khối lượng 0,609 gam được niêm phong gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine.
Bản kết luận giám định số 253/KL-KTHS ngày 07-8-2025 của Phòng K1 Công an tỉnh N kết luận: Có tìm thấy chất Methamphetamine trong 01 mẫu nước tiểu thu giữ của Bùi Xuân T được niêm phong gửi giám định. Methamphetamine là chất ma túy thuộc Danh mục chất ma túy, STT: 247, Danh mục IIC, Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25-8-2022 của Chính phủ.
Tại Cơ quan điều tra, Bùi Xuân T khai nhận: Khoảng 03 giờ ngày 30-7-2025, T đi bộ từ nhà đến khu vực ngã tư V - T, phường N, tỉnh Ninh Bình gặp 01 người đàn ông tên N (không rõ lai lịch cụ thể) mua 01 gói ma túy tổng hợp dạng đá với giá 300.000 đồng. T cầm gói ma túy đi bộ về nhà, đổ vào trong coóng thủy tinh đã chuẩn bị từ trước để ở khu vực đầu giường phòng ngủ. Khoảng 13 giờ cùng ngày, T gắn chiếc coóng thủy tinh chứa ma túy vào 01 chai nhựa màu trắng có nắp màu xanh, mặt trên nắp chai khoét 02 lỗ, một lỗ có gắn ống hút màu xanh để sử dụng ma túy sau đó nằm nghỉ. Đến khoảng 14 giờ 15 phút cùng ngày Bùi Xuân T bị Công an phường T, tỉnh Ninh Bình kiểm tra, bắt giữ.
Bản Cáo trạng số 18/CT-VKSND-KV7 ngày 27-10-2025 Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 – Ninh Bình truy tố Bùi Xuân T tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 86/2025/QH15.
Trong giai đoạn điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Bùi Xuân T đã thành khẩn khai báo toàn bộ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy mục đích để sử dụng cho bản thân như bản cáo trạng đã nêu.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 – Ninh Bình giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và lời khai của bị cáo Bùi Xuân T tại phiên tòa thể hiện hành vi của bị cáo có đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Do đó Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 - Ninh Bình giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo toàn bộ nội dung bản cáo trạng, đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Bùi Xuân T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- - Về hình phạt chính: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 86/2025/QH15.
- Xử phạt bị cáo Bùi Xuân T từ 03 năm 06 tháng đến 04 năm tù.
- - Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
- - Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự xử lý số vật chứng đã thu giữ.
Bị cáo Bùi Xuân T nói lời sau cùng: Đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Bùi Xuân T không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.
[2] Về tội danh:
Lời khai nhận tội của bị cáo Bùi Xuân T trong giai đoạn điều tra và tại phiên tòa hôm nay phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 30-7-2025; Biên bản thu giữ vật chứng ngày 30-7-2025; Bản kết luận giám định số 211/KL-KTHS ngày 31-7-2025 của Phòng K1 Công an tỉnh N; lời khai của những người làm chứng cùng các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án nên đã có đủ cơ sở khẳng định: Khoảng 14 giờ 15 phút, ngày 30 tháng 7 năm 2025, tại số nhà A Đ, phường T, tỉnh Ninh Bình, Bùi Xuân T đã tàng trữ trái phép 0,609 gam Methamphetamine mục đích để sử dụng thì bị phát hiện, bắt quả tang. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý chất ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự an toàn xã hội, khối lượng Methamphetamine bị cáo tàng trữ mục đích để sử dụng là 0,609 gam nên đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 86/2025/QH15.
[3] Về các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Bùi Xuân T đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đối với hành vi phạm tội của mình nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Bị cáo Bùi Xuân T không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[4] Về hình phạt:
Hành vi phạm tội của bị cáo Bùi Xuân T là nghiêm trọng, gây ảnh hưởng xấu đối với an ninh trật tự trên địa bàn phường T nên cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn, với mức hình phạt nghiêm khắc đối với hành vi phạm tội của bị cáo nhằm giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung.
[5] Về hình phạt bổ sung:
Xét thấy bị cáo Bùi Xuân T không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[6] Về xử lý vật chứng: Số ma túy thu giữ của bị cáo Bùi Xuân T là vật Nhà nước cấm lưu hành; 01 chai nhựa màu trắng có nắp màu xanh không có giá trị sử dụng nên sẽ tịch thu tiêu hủy.
[7] Về các vấn đề khác trong vụ án:
Cơ quan điều tra đã tiến hành lấy lời khai của bố mẹ đẻ, vợ chồng anh trai và 02 cháu của Bùi Xuân T cùng trú tại số A Đ, phường T, tỉnh Ninh Bình, xác định T ở 01 phòng riêng trong nhà, việc T tàng trữ, sử dụng trái phép chất ma túy gia đình không ai biết nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh N không xem xét xử lý.
Đối với đối tượng bán ma túy cho bị cáo Bùi Xuân T do không xác định được lai lịch nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh N không có căn cứ để xử lý.
Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý của Bùi Xuân T vào ngày 30-7-2025, do không thuộc các trường hợp quy định tại Điều 256a Luật sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 86/2025/QH15, Công an phường T, tỉnh Ninh Bình đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính hình thức phạt tiền đối với bị cáo.
[8] Về án phí:
Bị cáo Bùi Xuân T bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 86/2025/QH15; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
- Tuyên bố bị cáo Bùi Xuân T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Bùi Xuân T 04 (bốn) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 31-7-2025.
- Xử lý vật chứng:
- - Tịch thu tiêu hủy số ma túy tại phong bì niêm phong số 211/KL-KTHS;
- - Tịch thu tiêu huỷ 01 chai nhựa màu trắng có nắp màu xanh kích thước (16,5x6) cm. (Vật chứng có đặc điểm theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an tỉnh N và Phòng thi hành án dân sự khu vực 7 - Ninh Bình).
- Án phí hình sự sơ thẩm:
Bị cáo Bùi Xuân T phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng)
- Quyền kháng cáo:
Bị cáo Bùi Xuân T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì bị cáo Bùi Xuân T có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Lương Thị Kim Huế |
CÁC THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
| HỘI THẨM NHÂN DÂN | THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ |
Bản án số 63/2025/HS-ST ngày 18/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 – NINH BÌNH về hình sự: tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 63/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/11/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 – NINH BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vụ án đối với bị cáo Bùi Xuân Tiến
