Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 4 - THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 63/2025/HS-ST

Ngày 18 tháng 11 năm 2025

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - THANH HÓA

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Hồng Nhung

Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Thơm và ông Phạm Văn Hay.

Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Bá Huy - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 4 - Thanh Hóa

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thị Thanh Hằng - Kiểm sát viên

Ngày 18 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 4 - Thanh Hóa (cơ sở 1), xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 50/2025/TLST-HS ngày 22 tháng 10 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 65/2025/QĐXXST-HS ngày 23 tháng 10 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 14/2025/HSST-QĐ ngày 05 tháng 11 năm 2025 đối với các bị cáo:

  1. Nguyễn Quang H

    , sinh ngày 01 tháng 01 năm 1974, tại thành phố Hà Nội; nơi đăng ký thường trú và chỗ ở trước khi bị bắt: Thôn X, xã Đ, thành phố Hà Nội; căn cước công dân số: [...]; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Không biết chữ; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; đảng, đoàn: Không; con ông Nguyễn Quang T (đã chết) và bà Nguyễn Thị K; vợ là Nguyễn Thị T1 và có 02 con.

    Tiền án: Có 01 tiền án, tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 24/2021/HS-ST ngày 30/3/2021, Tòa án nhân dân huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội (nay là Tòa án khu vực 7 – Hà Nội) xử phạt 04 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (hiện chưa được xóa án tích).

    Tiền sự: Không.

    Nhân thân: Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 80/HSST ngày 27/11/2003, Tòa án nhân dân huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội (nay là Tòa án khu vực 7 – Hà Nội) xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong ngày 11/02/2005.

    - Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 08/HSST ngày 25/01/2000, Tòa án nhân dân huyện Sóc Sơn (nay là Tòa án khu vực 7 – Hà Nội) xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản của công dân” và 15 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản của công dân”. Hình phạt chung của cả 02 tội là 27 tháng tù, được đặc xá tha tù trước thời hạn ngày 01/9/2000.

    - Ngày 20/01/2010 bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở chữa bệnh bắt buộc tại Trung tâm G1 trong thời hạn 24 tháng, chấp hành xong ngày 20/01/2012.

    - Ngày 14/8/2013, bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở chữa bệnh bắt buộc tại Trung tâm G1 trong thời hạn 24 tháng, chấp hành xong ngày 08/7/2015.

    Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 13/8/2025, chuyển tạm giam từ ngày 22/8/2025 cho đến nay. Hiện đang tạm giam tại Phân trại tạm giam khu vực S (có mặt).

  2. Nguyễn Hữu B

    , sinh ngày 13 tháng 8 năm 1978, tại tỉnh Thanh Hóa; nơi đăng ký thường trú và chỗ ở trước khi bị bắt: Tổ dân phố K, phường S, tỉnh Thanh Hóa; căn cước công dân số: [...]; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; đảng, đoàn: Không; con ông Nguyễn Hữu B1 (đã chết) và bà Cao Thị X; vợ là Trần Thị G (đã ly hôn) và có 01 con.

    Tiền án: Có 01 tiền án, tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 24/2021/HSST ngày 27/5/2021, Tòa án nhân dân thành phố Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hóa (nay là Tòa án khu vực 4 – Thanh Hóa) xử phạt 48 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, chấp hành xong bản án ngày 30/11/2023.

    Nhân thân: - Tại bản án hình sự sơ thẩm số 13/2007/HSST ngày 07/8/2007, Tòa án nhân dân thị xã Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hóa (nay là Tòa án nhân dân khu vực 4 – Thanh Hóa) xử phạt 42 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

    - Tại bản án hình sự sơ thẩm số 107/HSST ngày 26/4/2002, Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa xử phạt 36 tháng tù về tội “Môi giới mại dâm”. Tại bản án hình sự số 23/HSST ngày 23/12/2002, Tòa án nhân dân thị xã Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hóa (nay là Tòa án nhân dân khu vực 4 – Thanh Hóa) xử phạt 24 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt với bản án đã cho hưởng án treo buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 05 năm tù.

    - Tại quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 17/PC04, ngày 12/7/2019, Công an tỉnh T xử phạt hành chính về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy.

    - Ngày 15/01/2018 bị Công an tỉnh T xử phạt hành chính về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy .

    - Tại Quyết định về việc đưa người nghiện ma túy vào cơ sở cai nghiện bắt buộc số 340/QĐ-UBND ngày 13/4/2010 bị áp dụng biện pháp cai nghiện bắt buộc tại Trung tâm giáo dục - lao động và xã hội tỉnh T.

    Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 13/8/2025, chuyển tạm giam từ ngày 22/8/2025 cho đến nay. Hiện đang tạm giam tại Phân trại tạm giam khu vực S (có mặt).

Bị hại: Anh Lê Ngọc Á – sinh năm 2003;

Địa chỉ: Thôn C, xã H, tỉnh Thanh Hóa (có đơn xin xét xử vắng mặt).

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Ông Lê Văn N – sinh năm 1974;

Địa chỉ: Thôn C, xã H, tỉnh Thanh Hóa (vắng mặt).

Người làm chứng: Trần Trí T2 (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 14 giờ, ngày 12/8/2025 Nguyễn Quang H, sinh năm 1974 trú tại thôn X, xã Đ, thành phố Hà Nội đến nhà Nguyễn Hữu B, sinh năm 1978 trú tại tổ dân phố K, phường S, tỉnh Thanh Hóa chơi. Sau đó, B và H rủ nhau đi ăn uống, đến khoảng 19 giờ cùng ngày, H nói với B "đi kiếm ít tiền" (nghĩa là đi trộm cắp tài sản), B đồng ý. B điều khiển xe mô tô Honda Wave RSX biển kiểm soát 36B5-222.36 trước đó mượn của chị Lê Thị C sinh năm 1991 ở TDP. Y, phường Đ, tỉnh Thanh Hóa chở H đi tìm nhà dân sơ hở để trộm cắp tài sản. Khi đi đến khu nhà trọ trên đường T thuộc tổ dân phố K, phường S, tỉnh Thanh Hóa, H thấy xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Exciter, biển kiểm soát 36B7-610.75 của anh Lê Ngọc Á, sinh năm 2003 trú tại thôn C, xã H, tỉnh Thanh Hóa để ở khu vực hành lang trước cửa phòng trọ. H nói với B đi chậm lại cho H nhảy xuống trộm cắp tài sản, còn B đứng ngoài chờ cách cổng khu nhà trọ khoảng 10 mét để cảnh giới. H quan sát không thấy người trong khu trọ, xe không khóa cổ, khoảng 03 phút sau H dắt xe từ trong khu trọ đi lại chỗ B đứng, sau đó H ngồi trên chiếc xe trộm cắp, B điều khiển xe Honda Wave RSX song song đẩy chiếc xe trên về nhà và cất giấu tại hẻm trước nhà B. H về nhà B lấy 01 cờ lê tháo biển số của xe Yamaha Exciter vừa trộm cắp thay vào đó là biển số xe Honda Wave RSX 36B5-222.36 rồi vứt chiếc cờ lê và biển số của xe E đi. Sau đó cả hai ra biển ngồi, đến khoảng 05 giờ ngày 13/8/2025 B và H đi về nhà B. Do chiếc xe trộm cắp được không có chìa khóa nên B và H đi đến nhà anh Trần Trí T2, sinh năm 1981 trú tại TDP. K, phường S, tỉnh Thanh Hoa mua 01 ổ khóa xe mô tô với giá 500.000 đồng. H đưa 500.000 đồng cho B và B trả cho anh T2 đến nhà B để thay ổ khóa xe Yamaha Exciter.

Hồi 07 giờ 00 phút ngày 13/8/2025, Công an phường S tiếp nhận nguồn tin về tội phạm của anh Lê Ngọc Á đến trình báo về việc bị mất trộm xe mô tô Yamaha Exciter màu đen BKS 36B7-610.75 (xe do bố anh Ánh là ông Lê Văn N mua mới từ năm 2020 với giá 53.000.000 đồng).

Nhận thấy hành vi của bản thân không thể trốn tránh được nên hồi 13 giờ 30 phút và 13 giờ 35 phút ngày 13/8/2025 Nguyễn Quang H, Nguyễn Hữu B đến Công an phường S xin đầu thú, giao nộp 01 xe mô tô Yamaha màu đen được gắn biển kiểm soát 36B5-222.36 cùng 02 chìa khóa xe; 01 xe mô tô Honda Wave RSX không gắn biển kiểm soát và khai nhận toàn bộ hành vi trộm cắp tài sản.

Tại Bản kết luận số 225/KL-HĐĐG ngày 19/8/2025 của Hội đồng định giá thường xuyên trong tố tụng hình sự UBND tỉnh T, kết luận: Giá trị của 01 xe máy nhãn hiệu Yamaha Exciter, BKS 36B7-610.75 số máy G3D4E1026830, số khung 1010L Y255795 là 14.500.000 đồng.

Cơ quan CSĐT Công an tỉnh T đã trích xuất camera an ninh lắp đặt tại gia đình chị Nguyễn Thị K và chị Nguyễn Thị Thùy L ở tổ dân phố K, phường S, tỉnh Thanh Hóa (khu vực nơi xảy ra vụ trộm cắp trên).

Tại Kết luận giám định số 3591/KL-KTHS ngày 22/9/2025 của Phòng K1 Công an tỉnh T, kết luận: Không phát hiện dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa nội dung hình ảnh trong 03 tệp video lưu trong các mẫu vật gửi giám định.

Tại Cáo trạng số: 07/CTr-VKSKV4 ngày 21/10/2025, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Thanh Hóa đã truy tố Nguyễn Quang H, Nguyễn Hữu B về tội "Trộm cắp tài sản" theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017 và năm 2025).

Tại Cơ quan điều tra và phiên tòa sơ thẩm các bị cáo Nguyễn Quang H, Nguyễn Hữu B khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu trên.

Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa nhưng có lời khai phù hợp với nội dung Cáo trạng đã nêu trên.

Đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với các bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017 và năm 2025) đối với cả 02 bị cáo; Đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Quang H mức án từ 27 tháng tù đến 30 tháng tù; Xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu B mức án từ 24 tháng tù đến 27 tháng tù.

Các bị cáo Nguyễn Quang H, Nguyễn Hữu B nhận tội, không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát và lời nói sau cùng đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt để có cơ hội sửa chữa lỗi lầm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. [1] Về thủ tục tố tụng:

    Đối với hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng: Quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

    Tại phiên tòa, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và người làm chứng đều vắng mặt. Xét thấy, sự vắng mặt của họ không gây trở ngại đến việc xét xử của vụ án. Căn cứ vào Điều 292, Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.

  2. [2] Về tội danh: Quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm các bị cáo Nguyễn Quang H, Nguyễn Hữu B đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu trên, lời khai nhận tội của các bị cáo là phù hợp với nhau, phù hợp lời khai của bị hại, người làm chứng về thời gian, địa điểm, thủ đoạn, mục đích, động cơ phạm tội và hậu quả do tội phạm gây ra, cùng các tang vật đã thu giữ, các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ căn cứ để kết luận:

    Khoảng 20 giờ ngày 12/8/2025 Nguyễn Quang H, Nguyễn Hữu B cùng đi trộm cắp tài sản. Lợi dụng sơ hở không có người, xe không khóa cổ, B đứng ngoài cảnh giới, H vào khu nhà trọ trên đường T, TDP K, phường S, tỉnh Thanh Hóa lén lút trộm cắp chiếc xe mô tô Yamaha Exciter, BKS 36B7-610.75 của anh Lê Ngọc Á. Giá trị chiếc xe là 14.500.000đ (mười bốn triệu năm trăm nghìn đồng).

    Hành vi phạm tội nêu trên của các bị cáo Nguyễn Quang H, Nguyễn Hữu B đã phạm tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017 và năm 2025) có khung hình phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

  3. [3] Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, thể hiện sự táo bạo, gây mất trật tự trị an, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của công dân được pháp luật bảo vệ. Do vậy, cần phải xử lý nghiêm minh mới có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.
  4. [4] Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, vai trò tham gia trong vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, Hội đồng xét xử nhận thấy:

    Các bị cáo đều là người đã thành niên, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bản thân nhận thức rõ hành vi trộm cắp tài sản là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện tội phạm nhằm mục đích có tiền để sử dụng vào việc cá nhân mà không phải bỏ sức lao động.

    Trong vụ án này các bị cáo phạm tội thuộc trường hợp đồng phạm giản đơn do không có sự bàn bạc, phân công về việc thực hiện tội phạm. Bị cáo Nguyễn Quang H là người khởi xướng, trực tiếp thực hiện hành vi trộm cắp tài sản nên giữ vai trò đầu. Bị cáo Nguyễn Hữu B là đồng phạm, đừng ngoài cảnh giới, thực hiện hành vi trộm cắp tài sản cùng bị cáo H nên giữ vai trò sau.

    Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Cả hai bị cáo ngoài lần phạm tội này thì trước đó còn bị kết án về hành vi phạm tội do cố ý, chưa được xóa án tích nên phải chịu tình tiết “tái phạm” theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, bị cáo H, bị cáo B đều có nhân thân xấu, bản thân bị cáo H đã ba lần bị xét xử cùng loại về tội "trộm cắp tài sản", bị cáo B đã 01 lần bị xét xử về tội "trộm cắp tài sản", 01 lần bị xét xử về tội “Môi giới mại dâm” và 02 lần bị xét xử về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Cả hai bị cáo còn nhiều lần phải đi cai nghiện tập trung. Bị cáo B còn bị xử lý hành chính về hành vi đánh nhau, tàng trữ trái phép chất ma túy.

    Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và đầu thú. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại các điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

    Căn cứ vào tính chất mức độ thực hiện hành vi phạm tội, vai trò, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự xét thấy cần áp dụng Điều 38 BLHS cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian là cần thiết để cải tạo, giáo dục. Mức hình phạt tù mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị đối với hai bị cáo là có căn cứ được Hội đồng xét xử chấp nhận.

  5. [5] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017 và năm 2025) thì người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000đ đến 50.000.000đ. Xét thấy, các bị cáo không có nghề nghiệp, tài sản và thu nhập ổn định, đang bị tạm giam nên Hội đồng xét xử quyết định miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo.
  6. [6] Đối với các tình tiết có liên quan trong vụ án gồm:
    • Đối với hành vi của anh Trần Trí T2: Quá trình điều tra xác định, việc Nguyễn Hữu B và Nguyễn Quang H thuê anh T2 thay ổ khóa xe mô tô do B và H trộm cắp, anh T2 không biết đây là tài sản do phạm tội mà có nên hành vi của anh T2 không vi phạm pháp luật. Do vậy, cơ quan CSĐT Công an tỉnh T không xem xét xử lý.
    • Đối với chị Lê Thị C đã cho Nguyễn Hữu B mượn chiếc xe mô tô Honda Wave RSX, biển kiểm soát 36B5-222.36 để B sử dụng, chị C không biết B đã sử dụng để đi trộm cắp tài sản, nên hành vi của chị C không vi phạm pháp luật. Do vậy, cơ quan CSĐT Công an tỉnh T không xem xét xử lý.
  7. [7] Về vật chứng:
    • 01 biển kiểm soát 36B7-610.75 và 01 cờ lê Nguyễn Quang H dùng để tháo biển số xe, H đã ném đi và không nhớ rõ địa điểm nào, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh T đã ra Thông báo truy tìm vật chứng, nhưng không thu giữ được.
    • 01 xe mô tô Yamaha Exciter màu đen, đã bị mất biển số; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe; 01 ổ khóa (cũ), là tài sản các bị cáo chiếm đoạt của anh Lê Ngọc Á nên Cơ quan điều tra đã trả cho chủ sở hữu anh Lê Ngọc Á là phù hợp quy định của pháp luật.
    • 01 xe mô tô Honda Wave RSX, BKS 36B5-222.36, là xe chị Lê Thị C cho bị cáo Nguyễn Hữu B mượn để sử dụng nhưng chị C không biết B đã sử dụng để đi trộm cắp tài sản nên Cơ quan điều tra đã trả cho chủ sở hữu chị Lê Thị C là phù hợp quy định của pháp luật.
  8. [8] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Lê Ngọc Á sau khi lại nhận tài sản không có đề nghị gì thêm nên HĐXX không xem xét.
  9. [9] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Quang H, Nguyễn Hữu B phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

  1. Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017 và năm 2025): Xử phạt bị cáo Nguyễn Quang H 27 (Hai mươi bảy) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ (ngày 13/8/2025).
  2. Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017 và năm 2025): Xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu B 24 (Hai mươi tư) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ (ngày 13/8/2025).

Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTV-QH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án: Buộc Nguyễn Quang H, Nguyễn Hữu B mỗi bị cáo phải chịu 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại có quyền kháng cáo bản án, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo (phần liên quan điến quyền lợi, nghĩa vụ của mình) trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận hoặc ngày bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Thanh Hóa;
  • - VKSND tỉnh Thanh Hóa;
  • - VKSND khu vực 4 - Thanh Hóa;
  • - Cơ quan điều tra Công an tỉnh Thanh Hóa;
  • - Cơ quan THAHS Công an tỉnh Thanh Hóa;
  • - THADS tỉnh Thanh Hóa;
  • - Bị cáo; Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Hồng Nhung

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Văn Thơm

Phạm Văn Hay

Nguyễn Hồng Nhung

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 63/2025/HS-ST ngày 18/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - THANH HÓA về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 63/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/11/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bản án
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger