Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN M, TỈNH SƠN LA

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập- Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 63 /2025/HS-ST

Ngày 17 - 6 - 2025

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN M, TỈNH SƠN LA.

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Hoà;

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Tòng Văn Máy và ông Lù Văn Mẳn;

- Thư ký phiên toà: Bà Đinh Thị Trà My, Thư ký Toà án nhân dân huyện M, tỉnh Sơn La.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện M tham gia phiên toà: Ông Bế Hoàng Dương, Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện M, tỉnh Sơn La; xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 65/2025/TLST-HS ngày 04 tháng 6 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 66/2025/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 6 năm 2025 đối với các bị cáo:

  1. Lò Văn N, sinh 12/9/1998; tại: huyện M, tỉnh Sơn La. Nơi cư trú: Bản N, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: lớp 12/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: không; Đảng phái: không; con ông Lò Văn T, sinh 1977 và bà Quàng Thị B, sinh 1977; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án: không; tiền sự: không; Nhân thân: chưa có án tích hoặc xử lý, xử phạt vi phạm hành chính khác; bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/02/2025 đến nay; có mặt tại phiên toà.
  2. Lò Văn D, sinh 28/8/2006; tại: huyện M, tỉnh Sơn La. Nơi cư trú: Bản N, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: lớp 9/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: không; Đảng phái: không; con ông Lò Văn H, sinh 1987 và bà Lò Thị L, sinh 1987; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án: không; tiền sự: không; Nhân thân: chưa có án tích hoặc xử lý, xử phạt vi phạm hành chính khác; bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/02/2025 đến nay; có mặt tại phiên toà.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Quàng Văn B, sinh 1985; nơi cư trú: Bản N, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 15 giờ 30 phút, ngày 26/02/2025, Tổ công tác Công an xã C làm nhiệm vụ tại khu vực bản Phiêng Phả, xã C, huyện M tiến hành kiểm tra đối với Lò Văn N và Lò Văn D đang dừng xe mô tô ven đường; qua gọi hỏi Lò Văn N đã giao nộp 01 gói nilon màu trắng bên trong có chứa cục bột màu trắng, Lò Văn N và Lò Văn D khai nhận đó là ma tuý. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người quả tang, thu giữ: 01 gói nilon màu trắng bên trong có chứa cục bột màu trắng; 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA Wave Biển kiểm soát (BKS) 26L1-110.70, niêm phong vật chứng dẫn giải về Cơ quan Cảnh sát điều tra (CSĐT) Công an huyện M để điều tra theo thẩm quyền.

Lò Văn N và Lò Văn D khai về nguồn gốc ma tuý: Hồi 13 giờ, ngày 26/02/2025 Lò Văn N điều khiển xe mô tô BKS 26L1-110.70 đến nhà Duyên, rủ D góp tiền mua ma tuý sử dụng, đồng thời đưa cho D 300.000VNĐ, D đồng ý cầm tiền và điều khiển xe mô tô BKS 26L1-110.70 chở Nghiêm đi đến bản Đán Én, xã C thì gặp một người đàn ông dân tộc Mông (không biết tên, tuổi, địa chỉ) D dừng xe lại và hỏi mua ma tuý với số tiền 600.000VNĐ, người đàn ông nhận tiền rồi đưa gói ma tuý ra, Nghiêm nhận gói ma tuý, D điều khiển xe mô tô chở Nghiêm về đến bản Phiêng Phả thì dừng lại và bị bắt; xe mô tô BKS 26L1-110.70 là do Nghiêm mượn của anh Quàng Văn B.

Ngày 26/02/2025 Cơ quan CSĐT Công an huyện M, Viện kiểm sát nhân dân huyện M, Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La tiến hành mở niêm phong cân tịnh tách bì, xác định khối lượng và lấy mẫu giám định tang vật thu giữ khi bắt quả tang Lò Văn N và Lò Văn D như sau: Cục bộ màu trắng trong gói nilon màu trắng có khối lượng 0,45 gam, lấy 0,18 gam làm mẫu định ký hiệu là ND1. Còn lại: 0,27 gam, ký hiệu ND; 01 mảnh nilon niêm phong lưu kho vật chứng theo quy định.

Ngày 28/02/2025 Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La có Kết luận giám định số 371/KL-KTHS, kết luận: “Mẫu giám định ký hiệu ND1 là ma túy; loại Heroine; khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,18 gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,45 gam; loại Heroine”.

Thực hiện điều tra, xác minh đối với người bán trái phép chất ma túy cho D và N nhưng không thu thập được tài liệu nào khác ngoài lời khai của các bị cáo. Xác minh nguồn gốc phương tiện đối với xe mô tô BKS 26L1-110.70 xác định không là vật chứng trong vụ án khác; là tài sản của Quàng Văn B, anh B không biết việc bị cáo N sử dụng làm phương tiện đi mua trái phép chất ma túy, đề nghị xin nhận lại tài sản.

Bản cáo trạng số 38/CT-VKS-ML ngày 03/6/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện M truy tố bị cáo Lò Văn N và Lò Văn D về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đó là do nghiện ma túy nên đã mua ma túy cất giữ, mục đích để sử dụng cho bản thân thì bị bắt như cáo trạng đã nêu.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện M luận tội và tranh luận: đề nghị tuyến bố các bị cáo Lò Văn N và Lò Văn D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, 38, 58 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lò Văn N từ 20 đến 26 tháng tù; xử phạt bị cáo Lò Văn D từ 18 đến 24 tháng tù; không áp dụng phạt bổ sung đối với các bị cáo. Áp dụng khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu và tiêu huỷ: 0,27 gam Heroine ký hiệu ND; 01 mảnh nilon; trả lại anh Quàng Văn B xe mô tô BKS 26L1- 110.70. Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội: Miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm cho các bị cáo.

Bị cáo Lò Văn N tự bào chữa, tranh luận: nhất trí với luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân.

Bị cáo Lò Văn D tự bào chữa, tranh luận: nhất trí với luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Quàng Văn B có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, xin nhận lại xe mô tô và không yêu cầu gì thêm.

Đại diện Viện kiểm sát, bị cáo không ai đối đáp tranh luận thêm; các bị cáo xin Hội đồng xét xử khoan hồng giảm nhẹ hình phạt, xin được miễn án phí.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu có trong hồ sơ đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện M, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện M, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người khác không có ý kiến, khiếu nại, tố cáo về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

[2] Đương sự Quàng Văn B có đơn đề nghị xử vắng mặt; xét thấy lời khai trong hồ sơ đã rõ, việc vắng mặt không gây trở ngại cho việc giải quyết vụ án nên quyết định xét xử vắng mặt; căn cứ Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự.

[3] Về chứng cứ xác định hành vi phạm tội: Lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với nội dung kết luận điều tra, cáo trạng, biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định, chứng cứ, tài liệu đã được thu thập và phản ánh trong hồ sơ của vụ án, được thẩm tra, xác minh tại phiên toà, xác định:

Hồi 13 giờ, ngày 26/02/2025 Lò Văn N mượn xe mô tô BKS 26L1-110.70 của anh Quàng Văn B, điều khiển đến nhà Lò Văn D, rủ D góp tiền mua ma tuý sử dụng, đồng thời đưa cho D 300.000VNĐ, D đồng ý cầm tiền và điều khiển xe mô tô BKS 26L1- 110.70 chở Nghiêm đi đến bản Đán Én, xã C thì gặp một người đàn ông dân tộc Mông, D dừng xe lại và hỏi mua ma tuý với số tiền 600.000VNĐ, người đàn ông nhận tiền rồi đưa gói ma tuý, N nhận gói ma tuý cất giữ, D điều khiển xe mô tô chở N về đến bản Phiêng Phả thì gặp Tổ công tác Công an xã C làm nhiệm vụ phát hiện các bị cáo cất giữ: 01 gói nilon màu trắng bên trong có chứa cục bột màu trắng, Lò Văn N và Lò Văn D khai nhận đó là ma tuý. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang hồi 15 giờ 10 phút ngày 26/02/2025, thu giữ, niêm phong vật chứng. Tại kết luận giám định số 371/KL-KTHS, ngày 28/02/2025 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La, kết luận: “Mẫu giám định ký hiệu ND1 là ma túy; loại Heroine; khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,18 gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,45 gam; loại Heroine”. Như vậy, Lò Văn N và Lò Văn D là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, đã cố ý trực tiếp thực hiện hành vi cất giấu, cất giữ trái phép chất ma tuý là xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma tuý, có đủ yếu tố cấu thành tội phạm nên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận bị cáo Lò Văn N và Lò Văn D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự; tội phạm và hình phạt được quy định như sau: “1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm: c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine... có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam".

[4] Về tính chất mức độ của hành vi: Các bị cáo được tuyên truyền tác hại của ma tuý nhưng ý thức coi thường kỷ cương xã hội, pháp luật của Nhà nước, vì sử dụng ma túy các bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội. Tuy nhiên, giữa các bị cáo không có sự phân công, không có sự cấu kết chặt chẽ nên chưa được coi là có tổ chức, theo quy định tại Điều 17, 58 Bộ luật Hình sự thì các bị cáo là đồng phạm giản đơn, có cùng tính chất, trong đó Nghiêm giữ vai trò chính là người rủ, trực tiếp cất giữ trái phép chất ma túy, còn D trực tiếp điều khiển xe mô tô chở Nghiêm, hỏi mua ma tuý. Hành vi cất giấu, cất giữ trái phép chất ma tuý có khối lượng 0,45 gam là nguy hiểm cho xã hội, với lỗi cố ý trực tiếp đã xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma tuý; tội phạm các bị cáo thực hiện đã hoàn thành, hành vi phạm tội nghiêm trọng, không những làm ảnh hưởng trực tiếp đến sức khoẻ, sự phát triển về thể chất của con người, suy giảm khả năng lao động do sử dụng ma túy và kinh tế của gia đình các bị cáo mà còn ảnh hưởng xấu về trật tự an toàn xã hội, trật tự trị an ở địa phương, là nguyên nhân gây ra những loại tội phạm, vi phạm pháp luật khác nên Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện M truy tố các bị cáo theo tội danh và điều luật áp dụng là đúng người, đúng tội; tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát luận tội, đề nghị phạt tù đối với các bị cáo là có căn cứ và phù hợp.

[5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phạm tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

[6] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân: các bị cáo thành khẩn khai báo (khai đầy đủ, đúng sự thật tất cả những gì liên quan đến hành vi phạm tội), ăn năn hối cải (bị cáo luôn thể hiện sự cắn rứt lương tâm, chấp hành tốt nội quy, quy định nhà tạm giữ, tạm giam, mong muốn sửa chữa, cải tạo mình thành người tốt). Do đó, xét cho các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Các bị cáo là người dân tộc thiểu số, sống ở vùng sâu, xa, nhận thức pháp luật hạn chế, khối lượng ma tuý không lớn, mục đích tàng trữ trái phép ma túy để sử dụng, cần xem xét giúp đỡ bị cáo sửa chữa sai lầm, trở thành công dân có ích cho xã hội nên cho các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Nhân thân: Các bị cáo chưa có tiền án, tiền sự nhưng là đối tượng sử dụng trái phép chất ma túy (phiếu xét nghiệm dương tính (+) với ma túy), chính quyền địa phương xác định các bị cáo chưa chấp hành quy định của địa phương, không có khả năng tự cải tạo.

[7] Về hình phạt: Từ những phân tích và nhận định trên, cần áp dụng hình phạt tương xứng với tính chất mức độ của hành vi của các bị cáo, cách ly ra ngoài xã hội một thời gian để đảm bảo giáo dục, cải tạo bị cáo thành người tốt, có ích cho xã hội và cũng nhằm răn đe, phòng ngừa cho hành vi tương tự.

Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự, các bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên, biên bản xác minh tài sản, lời khai của bị cáo tại phiên tòa xác định: không có tài sản giá trị nên không áp dụng hình phạt bổ sung, phạt tiền đối với các bị cáo.

[8] Về biện pháp ngăn chặn: áp dụng Điều 329 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tiếp tục tạm giam các bị cáo để bảo đảm việc thi hành án; các bị cáo bị tạm giữ, giam được xem xét khấu trừ vào thời gian chấp hành hình phạt tù.

[9] Đối với người bán trái phép chất ma túy cho bị cáo, Cơ quan CSĐT đã xác minh nhưng không thu thập được tài liệu khác ngoài lời khai của bị cáo nên không có cơ sở chứng minh, xử lý theo vụ án.

[10] Vật chứng của vụ án: Cơ quan chức năng đã lấy mẫu giám định 0,18 gam Heroine không hoàn lại mẫu giám định nên không có cơ sở xử lý.

Hiện đang lưu kho vật chứng: 0,27 gam Heroine ký hiệu ND là vật cấm tàng trữ, lưu hành nên cần tịch thu và tiêu hủy, căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

01 mảnh nilon là vật dụng bị cáo sử dụng cất giữ trái phép chất ma túy, vật chứng không có giá trị nên tịch thu và tiêu hủy, căn cứ điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

01 xe mô tô gắn BKS 26L1-110.70 là tài sản của anh Quàng Văn B; anh Bương không biết việc bị cáo sử dụng đi phạm tội nên trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp, căn cứ khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự.

[11] Về án phí: Tài liệu trong hồ sơ xác định các bị cáo là người dân tộc thiểu số sống ở vùng đặc biệt khó khăn, các bị cáo xin miễn nộp tiền án phí; theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, các bị cáo thuộc trường hợp được miễn án phí.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; 58 của Bộ luật Hình sự đối với cả hai bị cáo Lò Văn N và Lò Văn D.

1. Tuyên bố: Bị cáo Lò Văn N và Lò Văn D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2. Xử phạt:

Bị cáo Lò Văn N 21 (Hai mươi mốt) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (26/02/2025).

Bị cáo Lò Văn D 20 (Hai mươi) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (26/02/2025). Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với cả hai bị cáo.

3. Về vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1, 2 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu và tiêu hủy: 0,27 gam Heroine ký hiệu ND; 01 mảnh nilon của Lò Văn N.

Trả lại: 01 xe mô tô gắn BKS 26L1-110.70 cho anh Quàng Văn B (Chi tiết biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan điều tra và Chi cục Thi hành án dân sự huyện M, tỉnh Sơn La).

4. Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội: Miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Lò Văn N và Lò Văn D.

5. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (17/6/2025); anh Quàng Văn B vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Sơn La;
  • - VKSND tỉnh Sơn La;
  • - VKSND huyện M;
  • - Công an tỉnh Sơn La (Phòng Hồ sơ, CSĐT, THAHS, Nơi giam);
  • - Chi cục THADS huyện M;
  • - UBND xã nơi bị cáo cư trú;
  • - Bị cáo;
  • - Người tham gia tố tụng khác;
  • - Lưu HS, VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Văn Hoà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 63/2025/HS-ST ngày 17/06/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN M, TỈNH SƠN LA về tàng trữ trái phép chất ma túy (hình sự)

  • Số bản án: 63/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy (Hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN M, TỈNH SƠN LA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lò Văn N cùng đồng phạm, tàng trữ trái phép chất ma tuý
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger