Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ SƠN LA

TỈNH SƠN LA

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 63/2025/HS-ST

Ngày 12/6/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SƠN LA, TỈNH SƠN LA

– Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hồng Hạnh.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Quàng Văn Ngoan, bà Bồ Thị Thái.

Thư ký phiên toà: Bà Đỗ Thị Thanh Hằng, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La.

– Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Mai Anh, Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 64/2025/TLST-HS ngày 16/5/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 58/2025/QĐXXST-HS ngày 02/6/2025 đối với bị cáo:

Lò Thị X, sinh ngày 25 tháng 8 năm 2001 tại xã H, thành phố S, tỉnh Sơn La; nơi cư trú: Bản N, xã H, thành phố S, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 9/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lò Văn Đ và bà Lò Thị D; bị cáo có chồng Quàng Văn N và có 02 con; tiền sự: không; tiền án: Ngày 12/6/2024, Tòa án nhân dân huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La xử phạt 12 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 tháng, về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Bị cáo bị ra lệnh bắt để tạm giam ngày 06/02/2025, quyết định truy nã ngày 08/4/2025, tiếp nhận đầu thú, tạm giữ, tạm giam từ ngày 11/4/2025 đến nay. Có mặt.

Bị hại: Ông Lương Thanh P, sinh năm 1972. Địa chỉ: Bản H, xã H, thành phố S, tỉnh Sơn La. Vắng mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Lò Văn Đ, sinh năm 1979. Địa chỉ: Bản N, xã H, thành phố S, tỉnh Sơn La. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ông Lương Thanh P, Lò Thị X cùng tham gia nhóm trên mạng xã hội Facebook, tên nhóm Chợ Đ1, UID 7950402 68871382. Lò Thị X dùng tài khoản facebook cá nhân tên Lò Thanh X1, UID 100034526078119, đăng tải nhiều bài viết trên các nhóm với nội dung bán nông sản số lượng lớn, để lại số điện thoại 0337.725.xxx. Ông P dùng tài khoản mạng xã hội Zalo tên Thanh P, số điện thoại 0976.840.xxx liên lạc với tài khoản mạng xã hội Zalo tên Vựa Hoa Q, đăng ký số điện thoại 0337.725.xxx của Xôm. Ngày 23/12/2024, ông P đặt mua của Xôm 5 tấn dứa, 4 tấn chanh leo. Xôm báo giá dứa 4.500 đồng/1kg, chanh leo 10.000 đồng/1kg, tổng số tiền 62.500.000 đồng. Xôm yêu cầu ông P đặt cọc trước 2.500.000 đồng, chuyển vào tài khoản 821357961070 của Xôm tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần L. Ông P đồng ý, chuyển khoản số tiền 2.500.000 đồng vào tài khoản của X1 hồi 10 giờ 27 phút ngày 23/12/2024. Xôm hẹn ông P 13h45 phút cùng ngày chở chanh leo, dứa từ huyện M, tỉnh Điện Biên xuống bến xe khách thành phố S giao cho ông P và nhận nốt số tiền còn lại. Sau đó, X1 nhiều lần đưa ra nhiều lý do như xe về muộn, dân cắt chậm, sắp đến nơi, đề nghị ông P chờ. Đến khoảng 22 giờ 47 phút cùng ngày, X1 chặn liên lạc với ông P. Ông P không liên lạc được với X1 và không nhận được hàng.

Ngày 31/12/2024, ông Phương trình B sự việc đến Phòng An ninh mạng và phòng chống tội phạm sử dụng công nghệ cao Công an tỉnh S, nộp sao kê chi tiết giao dịch tài khoản 107006577223 của ông tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần C trong thời gian từ ngày 15/12/2024 đến 24/12/2024.

Tại cơ quan điều tra, ngày 01/01/2025 và các lời khai tiếp theo, Lò Thị X khai nhận bản thân làm nhân viên quán ăn tại thành phố S, không buôn bán nông sản. Từ ngày 15/12/2024, X sử dụng mạng xã hội, đăng trên các nhóm các bài viết, hình ảnh, thông tin gian dối nhằm chiếm đoạt tiền của khách đặt hàng. Ngày 23/12/2024, X nói dối, nhận bán dứa và chanh leo cho ông P với tổng số tiền hàng là 62.500.000 đồng. Xôm đã yêu cầu, nhận được số tiền 2.500.000 đồng do ông P chuyển vào tài khoản của X, nhưng thực tế X sử dụng hết số tiền này vào tiêu xài cá nhân và chặn liên lạc với ông P. Ngoài ra, X chưa thực hiện được hành vi chiếm đoạt nào khác; không có ai xúi giục, cùng thực hiện.

Cơ quan điều tra đã tiến hành kiểm tra dữ liệu trên điện thoại di động và sim số thuê bao của ông P, xác định tài khoản mạng Z đang đăng nhập tài khoản Thanh Phương đăng ký số điện thoại 0976.840.xxx có các tin nhắn với tài khoản Vựa Hoa Quả đã bị chặn và thu hồi nhiều tin nhắn; trong ứng dụng ảnh có nhiều ảnh chụp màn hình tin nhắn với tài khoản Vựa Hoa Quả do ông P lưu lại; tài khoản mạng xã hội đang đăng nhập nhóm Chợ đầu mối nông sản 6.0 Việt Nam, UID 795040268871382.

Cơ quan điều tra đã tiến hành kiểm tra dữ liệu lưu tại điện thoại của X và thông tin tài khoản của Lò Thị X do Ngân hàng Thương mại Cổ phần L cung cấp, phù hợp với lời khai và các tài liệu do ông P giao nộp.

Ngày 15/4/2025, ông Lò Văn Đ (bố đẻ Lò Thị X) đã dùng tiền riêng của ông Đ, thay Lò Thị X thỏa thuận, bồi thường cho ông P số tiền 2.500.000 đồng. Ông P không yêu cầu bồi thường khoản gì khác.

Bản cáo trạng số 86/CT-VKSTP ngày 14/5/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La truy tố Lò Thị X về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La giữ nguyên cáo trạng truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử:

  1. Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng khoản 1 Điều 174; khoản 5 Điều 65, Điều 55, 56; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Lò Thị X từ 12 tháng đến 18 tháng tù về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Tổng hợp hình phạt của bản án này với hình phạt của bản án số 127/2024/HSST ngày 12/6/2024 của Tòa án nhân dân huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La xử phạt bị cáo 12 tháng tù cho hưởng án treo. Buộc bị cáo X phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 24 đến 30 tháng tù về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
  2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 chiếc điện thoại di động Techno Bg6, màu đen, đã qua sử dụng, máy hoạt động bình thường, có số IMEI khe sim 1 là 353023185018608, số IMEI khe sim 2 là 353023185018616, số seri 1187437441000714. Tịch thu tiêu hủy đối với 02 sim số thuê bao 0337725106 và 0838738200.
  3. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 584, 585, 589 Bộ luật Dân sự. Ghi nhận việc ngày 15/4/2025, gia đình bị cáo Lò Thị X đã thỏa thuận bồi thường số tiền 2.500.000 đồng cho bị hại Lương Thanh P. Bị hại không yêu cầu gì khác.
  4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, bị cáo phải chịu án phí xét xử sơ thẩm theo quy định.

Tại phiên tòa, bị cáo nhất trí với cáo trạng của đại diện Viện kiểm sát, đề nghị giảm nhẹ hình phạt.

Tại Đơn xin giảm nhẹ hình phạt ngày 03/6/2025, bị hại đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, không yêu cầu bị cáo bồi thường thêm thiệt hại chi phí gì khác.

Tại phiên tòa, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Lò Văn Đ trình bày ông được con gái Lò Thị X nhờ bồi thường thay cho bị hại số tiền 2.500.000 đồng; ông đã thỏa thuận bồi thường và thực hiện xong, ông không yêu cầu bị cáo trả lại số tiền ông đã bồi thường thay bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

  1. Về quá trình tiến hành tố tụng:

    Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố S, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định. Trong quá trình điều tra, truy tố, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không khiếu nại các quyết định, hành vi tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

    Bị hại đã được triệu tập hợp lệ, vắng mặt, đã cung cấp các tài liệu chứng cứ, văn bản đề nghị về việc giải quyết vụ án. Căn cứ Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị hại.

  2. Về hành vi của bị cáo và trách nhiệm hình sự:

    Tại phiên toà, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi trên. Xét lời khai của bị cáo hoàn toàn tự nguyện, phù hợp với các chứng cứ khác đã được thu thập, gồm: Lời khai, đơn tố giác của bị hại; các tài liệu sao kê, cung cấp thông tin tài khoản ngân hàng của bị cáo và của bị hại; kết quả kiểm tra thông tin các tài khoản mạng xã hội, dữ liệu điện thoại của bị cáo và của bị hại.

    Có đủ căn cứ khẳng định:

    Lò Thị X đã thực hiện hành vi sử dụng mạng xã hội đưa ra các thông tin gian dối, ngày 23/12/2024 nhận chuyển khoản và chiếm đoạt số tiền 2.500.000 đồng (Hai triệu, năm trăm nghìn đồng) của ông Lương Thanh P, là hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự.

    Hành vi của bị cáo xâm phạm sở hữu tài sản của cá nhân. Bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi vi phạm pháp luật của mình nhưng vẫn thực hiện. Tội phạm thuộc loại ít nghiêm trọng.

    Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo tự nguyện nhờ bố đẻ thay bị cáo bồi thường toàn bộ khoản tiền chiếm đoạt cho bị hại. Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo. Được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

    Trong thời gian đang chấp hành thời hạn thử thách của án treo và ngay sau khi lấy lời khai điều tra vụ án này, Lò Thị X không có mặt tại địa phương, bị cơ quan điều tra quyết định truy nã, ngày 11/4/2025 tiếp nhận đầu thú. Bị hại đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Được xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

    Bị cáo có một tiền án, năm 2024 bị kết án về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, đang trong thời gian thử thách của án treo, nay lại tiếp tục phạm tội do cố ý. Cần xử phạt nghiêm khắc nhằm trừng trị và giáo dục bị cáo, răn đe phòng ngừa chung. Áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo. Áp dụng Điều 56, Điều 65 Bộ luật Hình sự, buộc bị cáo chấp hành hình phạt tù của bản án cho hưởng án treo và tổng hợp hình phạt chung của hai bản án. Tại bản án xét xử phạt tù cho hưởng án treo đã xác định bị cáo không có thời gian bị tạm giữ, tạm giam.

  3. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có tài sản, thu nhập lao động tự do, không áp dụng hình phạt bổ sung.
  4. Về vật chứng:

    Tại Biên bản giao nhận tài liệu, đồ vật, dữ liệu điện tử ngày 01/01/2025, Lò Thị X đã giao nộp 01 chiếc điện thoại di động Techno Bg6 màu đen, đã qua sử dụng, lắp 02 sim số 0337725106 và 0838738200. Quá trình điều tra đã xác định là tài sản của bị cáo, chiếc điện thoại và sim số 0337.725.xxx đã sử dụng vào việc phạm tội. Đối với 01 sim số 0838738200 không có tài liệu xác định sử dụng vào việc phạm tội. Tại bút lục số 206 là bản in ảnh chụp kiểm tra thông tin điện thoại của X thể hiện khe sim 1 là sim số 0337725106; số điện thoại khe sim 2 không xác định, trạng thái không khả dụng.

    Tại bản án số 127/2024/HSST ngày 12/6/2024 của Tòa án nhân dân huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La có hiệu lực pháp luật, đã tuyên tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động của Lò Thị X, có lắp sim số thuê bao 0337725106.

    Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, Lò Thị X khai chiếc điện thoại thực hiện hành vi trong vụ án này có nguồn gốc do X mua trên mạng xã hội từ tháng 11/2024, tiếp tục đăng ký sử dụng sim số 0337725106.

    Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, xét cần tịch thu nộp ngân sách nhà nước chiếc điện thoại và 02 sim số đã thu giữ của bị cáo, đã niêm phong sau khi kiểm tra dữ liệu ngày 01/01/2025.

  5. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự, các Điều 584, 585, 586, 589 Bộ luật Dân sự. Ghi nhận ông Lương Thanh P và ông Lò Văn Đ đã thỏa thuận, thực hiện xong thỏa thuận về việc ông Lò Văn Đ thay cho Lò Thị X bồi thường thiệt hại cho ông Lương Thanh P số tiền 2.500.000 đồng. Ông Lương Thanh P không yêu cầu bồi thường chi phí gì khác. Ông Lò Văn Đ không yêu cầu Lò Thị X trả lại số tiền đã bồi thường thay 2.500.000 đồng.
  6. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ khoản 1 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; khoản 2 Điều 56, khoản 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự:

    Tuyên bố: Bị cáo Lò Thị X phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

    Xử phạt Lò Thị X 14 (mười bốn) tháng tù.

    Không phạt bổ sung đối với bị cáo.

    Buộc bị cáo chấp hành hình phạt 12 (mười hai) tháng tù tại bản án hình sự sơ thẩm số 127/2024/HSST ngày 12/6/2024 của Tòa án nhân dân huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La.

    Tổng hợp hình phạt chung của hai bản án đối với Lò Thị X là 26 (hai mươi sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 11/4/2025.

  2. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

    Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Techno Bg6, màu đen, đã qua sử dụng, có lắp 2 sim điện thoại (được niêm phong trong phong bì, mô tả chi tiết tại Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 19/5/2025 giữa Công an tỉnh S và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Sơn La).

  3. Căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự, các Điều 584, 585, 586, 589 Bộ luật Dân sự:

    Ghi nhận ông Lương Thanh P và ông Lò Văn Đ đã thỏa thuận, thực hiện xong thỏa thuận về việc ông Lò Văn Đ thay cho Lò Thị X bồi thường thiệt hại cho ông Lương Thanh P số tiền 2.500.000 đồng (Hai triệu, năm trăm nghìn đồng). Ông Lương Thanh P không yêu cầu bồi thường chi phí gì khác.

    Ông Lò Văn Đ không yêu cầu Lò Thị X trả lại số tiền đã bồi thường thay 2.500.000 đồng (Hai triệu, năm trăm nghìn đồng).

  4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

    Buộc bị cáo Lò Thị X phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).

Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Sơn La;
  • - Công an tỉnh Sơn La;
  • - VKSND tỉnh Sơn La;
  • - VKSND thành phố Sơn La;
  • - Chi cục THADS thành phố Sơn La;
  • - Trại giam;
  • - THAHS;
  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - Người có QLNVLQ;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Nguyễn Thị Hồng Hạnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 63/2025/HS-ST ngày 12/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SƠN LA, TỈNH SƠN LA về hình sự - lừa đảo chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 63/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SƠN LA, TỈNH SƠN LA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lò Thị X
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger