Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 1 - QUẢNG NGÃI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 63/2025/HS-ST

Ngày: 04-11-2025

----------

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - QUẢNG NGÃI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Mến

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Ông Nguyễn Phùng Xuân Thu.
  2. Ông Nguyễn Đình Dũng.

Thư ký phiên tòa: Ông Lưu Quốc Trạng - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 1 - Quảng Ngãi.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Quảng Ngãi tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Mỹ Loan - Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 11 năm 2025, tại Hội trường xử án Tòa án nhân dân khu vực 1 - Quảng Ngãi xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 60/2025/TLST-HS ngày 17/10/2025, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 153/2025/QĐXXST-HS ngày 22/10/2025 đối với:

Bị cáo Đỗ Thị Tuyết T, sinh ngày: 20/02/1982 tại tỉnh Quảng Ngãi; nơi thường trú: Thôn P, xã Đ, tỉnh Quảng Ngãi; Nơi ở hiện tại: Tổ A, phường N, tỉnh Quảng Ngãi; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đỗ C, sinh năm 1947 (đã chết) và bà Võ Thị D, sinh năm 1954; chồng: Nguyễn Văn T1; có 02 con, lớn nhất sinh năm 2009 và nhỏ nhất sinh năm 2012; Tiền sự: Không.

Nhân thân:

  • - Ngày 25/9/2015, bị Tòa án nhân dân huyện Trà Bồng, tỉnh Quảng Ngãi (nay là Tòa án nhân dân khu vực 2 – Quảng Ngãi) xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; ngày 22/12/2017 chấp hành xong án phạt tù (đã xóa án tích).
  • - Ngày 19/3/2021, bị Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Quảng Ngãi (nay là Tòa án nhân dân khu vực 4 – Quảng Ngãi) xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, ngày 01/9/2021 chấp hành xong án phạt tù (đã xóa án tích).
  • - Tiền án: có 01, ngày 11/9/2023, bị Tòa án nhân dân thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi (nay là Tòa án nhân dân khu vực 1 – Quảng Ngãi) xử phạt 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, ngày 09/4/2025 chấp hành xong hình phạt tù, hiện chưa được xóa án tích.

Bị bắt tạm giam từ ngày 26/8/2025 đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam Quảng Ngãi. Bị cáo có mặt.

  • - Bị hại: Bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1974; cư trú: Tổ A, phường N, tỉnh Quảng Ngãi. Có đơn xét xử vắng mặt.
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1982, cư trú tại: Tổ A, phường N, tỉnh Quảng Ngãi. Có đơn xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 06 giờ 30 phút ngày 30/5/2025, Đỗ Thị Tuyết T điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 76B1 - 25785 từ phòng trọ ở phường Q, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi (nay là phường N, tỉnh Quảng Ngãi) đến chợ T4 thuộc tổ A, phường T, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi (nay thuộc tổ B, phường N, tỉnh Quảng Ngãi) để đi chợ. Khi T đi ngang qua quầy quần áo của bà Nguyễn Thị B thì thấy 01 (một) túi xách của bà B (bên trong có một điện thoại di động hiệu OPPO, màu xanh đen và số tiền 290.000 đồng) để trên giỏ đồ gần lối đi và thời điểm này ít người qua lại nên T nảy sinh ý định trộm cắp túi xách của bà B. T đi qua lại bên ngoài quan sát, rồi lợi dụng lúc bà B treo đồ quay lưng lại với hướng để túi xách thì T nhanh chóng tiếp cận lấy túi xách cất giấu vào trong áo khoác và bỏ đi. Trinh di chuyển được khoảng hơn 05m thì bị bà B phát hiện tri hô và T bỏ chạy được một đoạn thì ném túi xách xuống đất, bà B nhặt lại túi xách và truy đuổi thêm khoảng 15m thì bắt được T. Bà B đưa T ra chỗ bảo vệ chợ báo cáo và trình báo Công an phường T, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi (nay là Công an phường N, tỉnh Quảng Ngãi).

Tại Kết luận định giá tài sản số 26/KL- HĐĐGTTHS, ngày 24/6/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Q có kết luận: 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO loại A12, màu xanh, đã qua sử dụng, mua mới năm 2022 với giá 3.000.000 đồng, tại thời điểm ngày 30/5/2025 có giá 700.000 đồng; một túi xách da, màu đen, dây đeo bằng da dài khoảng 1m, đã qua sử dụng, mua mới năm 2024 với giá 170.000 đồng tại thời điểm ngày 30/5/2025 có giá 50.000 đồng. Tổng giá trị 02 tài sản cần định giá: 750.000 đồng (Bảy trăm năm mươi ngàn đồng).

Đồng thời, tại thời điểm Đỗ Thị Tuyết T lấy trộm túi xách, bên trong túi xách có số tiền là 290.000 đồng (Hai trăm chín mươi nghìn đồng).

Như vậy, tổng giá trị tài sản bị trộm cắp là: 1.040.000 đồng (Một triệu không trăm bốn mươi nghìn đồng).

Cáo trạng số 39/CT-VKSKV1 ngày 16/10/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 – Quảng Ngãi truy tố bị cáo Đỗ Thị Tuyết T về tội: “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Quảng Ngãi vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Điểm b khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Đỗ Thị Tuyết T từ 09 tháng đến 12 tháng tù giam.

  • - Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên:

Trả lại cho ông Nguyễn Văn T1 01 (một) xe mô tô gắn biển kiểm soát: 76B1-257.85, nhãn hiệu Honda, loại xe Lead là chủ sở hữu.

Tịch thu, tiêu hủy: 01 (một) quần thun dài màu nâu; 01 (một) áo khoác màu xám sọc ngang màu đen, có chữ ISOBLOX; 01 (một) mũ bảo hiểm màu trắng của Đỗ Thị Tuyết T.

  • - Về trách nhiệm dân sự: Đã giải quyết xong nên không đề cập.

Ý kiến tranh luận của bị cáo: Bị cáo thống nhất, không có ý kiến tranh luận.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo rất ăn năn, hối hận đối với hành vi do mình gây ra, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Quảng Ngãi, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra bị cáo và những người tham gia tố tụng đều không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về sự vắng mặt của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bị cáo và Kiểm sát viên tham gia phiên tòa đều đề nghị Hội đồng xét xử tiến hành xét xử, không đề nghị hoãn phiên tòa. Xét bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong quá trình điều tra đã có lời khai, việc vắng mặt của họ không gây trở ngại cho việc xét xử, do đó Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự quyết định tiếp tục xét xử.

[3] Tại phiên tòa, bị cáo Đỗ Thị Tuyết T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Quảng Ngãi đã truy tố. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại giai đoạn điều tra, truy tố, phù hợp với lời khai của bị hại và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án, nên có cơ sở xác định:

Vào khoảng 07 giờ 15 phút ngày 30/5/2023, lợi dụng sơ hở của bà Nguyễn Thị B trong lúc dọn hàng tại chợ T4, thuộc tổ B, phường N, tỉnh Quảng Ngãi, bị cáo T đã có hành vi trộm cắp túi xách của bà B, trong đó có 01 (một) điện thoại đi động hiệu OPPO màu xanh đen và số tiền 290.000 đồng (Hai trăm chín mươi nghìn đồng). Tổng giá trị tài sản mà bị cáo T đã trộm cắp là 1.040.000đồng (Một triệu không trăm bốn mươi nghìn đồng). Bị cáo Đỗ Thị Tuyết T trộm cắp tài sản của công dân có giá trị tài sản bị chiếm đoạt là dưới 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng) nhưng bị cáo T có 01 tiền án vào ngày 11/9/2023, bị Tòa án nhân dân thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi (nay là Tòa án nhân dân khu vực 1 – Quảng Ngãi) xử phạt 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, ngày 09/4/2025 chấp hành xong hình phạt tù, chưa được xóa án tích, nên hành vi của bị cáo Đỗ Thị Tuyết T đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Do đó, Cáo trạng của là Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Quảng Ngãi truy tố bị cáo Đỗ Thị Tuyết T là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[4] Bị cáo Đỗ Thị Tuyết T là công dân có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi trộm cắp tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật hình sự bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự an toàn xã hội ở địa phương. Bị cáo đã 03 lần bị xét xử về tội “ Trộm cắp tài sản”, bị cáo không lấy đó làm bài học, lo tu chí làm ăn mà tiếp tục phạm tội, nên cần phải áp dụng hình phạt nghiêm tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội do bị cáo gây ra.

[5] Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử cần phải đánh giá tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, tiền án, tiền sự, nhân thân của bị cáo.

[5.1] Nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu.

[5.2] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

[5.3] Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại (khi bị phát hiện bị cáo đã bỏ lại tài sản trộm cắp), nên áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Căn cứ vào quy định của Bộ luật Hình sự, cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Hội đồng xét xử xét thấy cần xử phạt bị cáo một mức án thật nghiêm tương xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội của bị cáo, cần thiết phải bắt bị cáo đi chấp hành hình phạt tù một thời gian mới đủ tính răn đe, giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình giải quyết vụ án, bị hại đã nhận lại tài sản và không yêu cầu gì về phần dân sự, nên không xem xét.

[7] Về xử lý vật chứng:

Đối với 01 (một) chiếc xe mô tô gắn biển kiểm soát 76B1-257.85, nhãn hiệu Honda, loại xe Lead, chủ sở hữu là ông Nguyễn Văn T1, đây là phương tiện ông T1 giao cho bị cáo T sử dụng vào đi chợ và chở con đi học, không sử dụng vào mục đích phạm tội nên cần tuyên trả lại cho ông Nguyễn Văn T1.

Đối với 01 (một) quần thun dài màu nâu; 01 (một) áo khoác màu xám sọc ngang màu đen, có chữ ISOBLOX; 01 (một) mũ bảo hiểm màu trắng được đóng vào 01 (một) thùng giấy cạc – tông có chữ ký của các ông, bà Trương Văn T2, Phùng Đức Q, Cao Văn T3, Đỗ Thị Tuyết T và con dấu của Công an phường T, đây là đồ dùng của bị cáo Đỗ Thị Tuyết T không còn giá trị, bị cáo không yêu cầu nhận lại, nên cần tuyên tịch thu tiêu hủy.

[8] Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Quảng Ngãi tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

[9] Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Đỗ Thị Tuyết T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Đỗ Thị Tuyết T 01 (một) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 26/8/2025.

2. Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tuyên:

Trả lại 01 (một) xe môtô gắn biển kiểm soát 76B1-257.85, nhãn hiệu Honda, loại xe Lead, màu xanh (không kiểm tra tình trạng bên trong) cho ông Nguyễn Văn T1.

Tịch thu, tiêu hủy 01 (một) thùng giấy cạc – tông có chữ ký của các ông, bà Trương Văn T2, Phùng Đức Q, Cao Văn T3, Đỗ Thị Tuyết T và con dấu của Công an phường T ( gồm có 01 quần thun dài màu nâu; 01 (một) áo khoác màu xám sọc ngang màu đen, có chữ ISOBLOX; 01 (một) mũ bảo hiểm màu trắng).

(Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 20/10/2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Q và Phòng Thi hành án dân sự khu vực 1 - Quảng Ngãi).

3. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Đỗ Thị Tuyết T phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Quảng Ngãi;
  • - VKSND tỉnh Quảng Ngãi;
  • - VKSND khu vực 1 - Quảng Ngãi;
  • - Phân trại tạm giam Quảng Ngãi;
  • - Cơ quan THAHS Công an T. Quảng Ngãi;
  • - Cơ quan CSĐT Công an T. Quảng Ngãi;
  • - Phòng HSNV Công an T. Quảng Ngãi;
  • - Phòng THADS khu vực 1 – Quảng Ngãi
  • - Bị cáo;
  • - Những người tham gia tố tụng khác;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Trần Mến

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 63/2025/HS-ST ngày 04/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - QUẢNG NGÃI về trộm cắp tài sản (vụ án hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 63/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Vụ án hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 04/11/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - QUẢNG NGÃI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Đỗ Thị Tuyết Tr phạm tội " Trộm cắp tài sản"
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger