Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH VĨNH PHÚC


Bản án số: 63/2025/HS-PT

Ngày 17-6-2025

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Nghĩa

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Duy Sơn và bà Nguyễn Thị Thu Hiền

Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thu Mai - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc tham gia phiên toà: Bà Mầu Mai Quyên- Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 74/2025/TLPT - HS ngày 29 tháng 4 năm 2025 đối với bị cáo Triệu Văn T do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 46/2025/HS-ST ngày 25 tháng 3 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Bình Xuyên.

Bị cáo có kháng cáo: Triệu Văn T, sinh ngày 24/4/1997 tại tỉnh Tuyên Quang; nơi cư trú: Thôn T, xã T, huyện S, tỉnh Tuyên Quang; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ văn hóa (học vấn): 12/12; dân tộc: Dao; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Triệu Văn T1 và bà Dương Thị T2; có vợ là Nguyễn Ngọc Lan A và 02 con (con lớn sinh năm 2017, con nhỏ sinh năm 2020); tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 08/12/2024 đến ngày 16/12/2024 được thay thế biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện bị cáo tại ngoại, (có mặt).

Ngoài ra, trong vụ án còn có bị cáo Nguyễn Văn T3, Hoàng Khắc D, Dương Văn K không có kháng cáo, không bị kháng nghị nên Tòa án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Triệu Văn T và Hoàng Khắc D, Nguyễn Văn T3 đều là công nhân Công ty TNHH S, địa chỉ: Khu công nghiệp B, xã T, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc. Ngày 07/12/2024, khi đến Công ty làm việc T gặp và rủ D, T3 sau khi tan làm thì về phòng trọ của T ở thôn N, xã T do bà Đặng Thị H, sinh năm: 1981, hộ khẩu thường trú: Thôn N, xã T, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc làm chủ đánh bạc. Dự và T3 đồng ý. Đến sáng ngày 08/12/2024, sau khi tan làm T, D và T3 đi về phòng trọ của T, tại đây cả 3 thống nhất đánh bạc bằng hình thức chơi “Liêng”, cách thức đánh bạc cụ thể như sau: Mức góp gà là 20.000 đồng, mức tố tổng số tiền cao nhất là 200.000 đồng, nếu ai được sáp, liêng (các quân bài liêng cùng màu) và thắng ván bài đó thì những người đánh bạc còn lại mỗi người phải trả cho người này số tiền 100.000 đồng. Khi bắt đầu đánh bạc thì mỗi người sẽ góp số tiền 20.000 đồng để vào giữa (góp gà) rồi người cầm cái sẽ chia cho mỗi người 03 quân bài tú lơ khơ trong bộ bài tú lơ khơ 52 quân bài. Sau đó những người chơi sẽ xem 03 quân bài này và người cầm cái sẽ được quyền tố đầu tiên (tố là đặt thêm tiền, giới hạn mỗi người tố thấp nhất là 20.000 đồng, tố tổng số tiền là 200.000 đồng). Người cầm cái ván đánh bạc đó có thể tố hoặc úp bài (không tham gia tố và bị thua số tiền góp gà 20.000 đồng). Tiếp theo những người chơi còn lại theo thứ tự ngược chiều kim đồng hồ từ người cầm cái có thể theo, tố hoặc bỏ bài (theo tức là đặt thêm số tiền bằng số tiền người ngồi ở thứ tự trước tố thêm). Người thắng ván bài đó là người còn lại cuối cùng không úp bài hoặc người có 03 quân bài cao nhất, khi không còn ai tố thêm mà chỉ theo và quyết định mở bài, quân bài từ át đến 9 gọi là quân bài số, quân bài 10, J, Q, K gọi là quân bài hình. Điểm số 03 quân bài được tính như sau: Ba quân bài giống nhau gọi là sáp, cao nhất là sáp át, thấp nhất là sáp hai. Ba quân bài có thứ tự liên tiếp với nhau ví dụ như 2, 3, 4 gọi là liêng, cao nhất là liêng Q, K, Á, thấp nhất là liêng Át, 2, 3. Ba quân bài không liêng, không sáp thì tính điểm bằng cách cộng tổng điểm của các quân bài rồi lấy số hàng tự nhiên thứ 2 là điểm để so sánh, trong đó quân bài từ át đến 9 thì điểm là một đến chín, quân bài hình thì điểm là 0, ví dụ 03 quân bài là 2, 3, 6 là 1 điểm, J, Q, 6 là 6 điểm. Cách tính kết quả của ba quân bài như sau: Cao nhất là sáp, tiếp theo là liêng, cuối cùng là điểm. Ai có điểm số hoặc liêng giống nhau thì so chất của quân bài cao nhất trong số 03 quân bài với nhau, theo thứ tự R, C, T4, B. Sau khi thống nhất, D lấy 01 bộ bài có sẵn ở phòng rồi cả 3 cùng nhau đánh bạc. Khi các đối tượng đang đánh bạc thì có Dương Văn K đến và tham gia đánh bạc cùng, do không mang theo tiền nên K vay của T3 1.000.000 đồng để đánh bạc. Các đối tượng đánh bạc đến khoảng hơn 10 giờ cùng ngày thì K thua hết toàn bộ số tiền vay của T3 nên đứng dậy ra về, còn T, D và T3 tiếp tục ngồi đánh bạc với nhau. Đến khoảng 12 giờ 20 phút cùng ngày thì bị Công an huyện B phát hiện bắt quả tang. Cùng ngày Dương Văn K đã đến Công an huyện B đầu thú.

Tại Cơ quan điều tra T, D, T3 và K đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và khai nhận khi vào đánh bạc sử dụng số tiền cụ thể là: Triệu Văn T có 2.000.000 đồng để 1.300.000 đồng ở dưới chiếu, còn 700.000 đồng để trong túi quần, khi bị bắt quả tang T thắng bạc và bị thu giữ số tiền 2.360.000 đồng; Hoàng Khắc D có 2.700.000 đồng để 700.000 đồng ở dưới chiếu còn 2.000.000 đồng để trong túi quần, khi bị bắt quả tang Dự bị thu giữ số tiền 620.000 đồng ở dưới chiếu và 2.000.000 đồng trong túi. Nguyễn Văn T3 có 3.990.000 đồng cho K vay 1.000.000 đồng. Khi bị bắt quả tang, T3 bị thu giữ số tiền 3.710.000 đồng. Dương Văn K có 1.000.000 đồng vay của T3 đánh bị thua hết. Tổng số tiền các bị cáo sử dụng đánh bạc là 9.699.000 đồng. Tuy nhiên số tiền thực tế thu trên chiếu và thu trên người mà các đối tượng sử dụng để đánh bạc khi bị bắt quả tang là 8.690.000 đồng.

Với nội dung trên, tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 46/2025/HS-ST ngày 25 tháng 3 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Bình Xuyên đã quyết định:

Tuyên bố các bị cáo Triệu Văn T phạm tội “Đánh bạc”. Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Triệu Văn T 12 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt đi thi hành án được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 08/12/2024 đến ngày 16/12/2024.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Văn T3, Hoàng Khắc D, Dương Văn K, về hình phạt bổ sung, xử lý vật chứng, tuyên án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Sau khi xét xử sơ thẩm: Ngày 26/3/2025, bị cáo Triệu Văn T có đơn kháng cáo với nội dung xin hưởng án treo.

Tại phiên tòa phúc thẩm: Bị cáo Triệu Văn Thành công N Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử đúng tội danh, bị cáo không bị oan. Bị cáo giữ nguyên nội dung kháng cáo, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét chấp nhận đơn kháng cáo của bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc thực hành quyền công tố tại phiên tòa sau khi nghe tóm tắt nội dung vụ án, phân tích đánh giá hành vi phạm tội và xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo đã phát biểu và có quan điểm: Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự, chấp nhận kháng cáo của bị cáo Triệu Văn T, sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 46/2025/HS-ST ngày 25/3/2025 của Tòa án nhân dân huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc theo hướng giữ nguyên hình phạt nhưng cho bị cáo được hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách theo quy định của pháp luật.

Bị cáo Triệu Văn T không có ý kiến gì, không bào chữa gì khác, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa; Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Đơn kháng cáo của bị cáo Triệu Văn T làm trong hạn luật định, hợp lệ nên được chấp nhận xem xét, giải quyết.

[2]. Về hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng tại cấp sơ thẩm đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tại cấp sơ thẩm và tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì do đó các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[3]. Về nội dung vụ án: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm bị cáo Triệu Văn T đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản án sơ thẩm đã tóm tắt nêu trên. Lời nhận tội của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, từ đó có đủ căn cứ để kết luận:

Khoảng 08 giờ ngày 08/12/2024, tại phòng trọ của Triệu Văn T ở thôn N, xã T, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc. Triệu Văn T, Nguyễn Văn T3, Hoàng Khắc D, Dương Văn K cùng nhau đánh bạc được thua bằng tiền với hình thức đánh L mức thắng thua sát phạt từ 20.000 đồng - 200.000 đồng/1ván. Các bị cáo đánh bạc đến khoảng 12 giờ cùng ngày thì bị Công an huyện B phát hiện bắt quả tang. Tổng số tiền các bị cáo khai sử dụng để đánh bạc là 8.699.000 đồng.

Với hành vi nêu trên, Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Triệu Văn T về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[4]. Xét kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo Triệu Văn T, Hội đồng xét xử thấy rằng: Bị cáo T là người khởi xướng, rủ rê các bị cáo khác đến phòng trọ của mình để đánh bạc, tuy nhiên đây là vụ án đánh bạc có đồng phạm giải đơn, quy mô nhỏ, số tiền đánh bạc không lớn (8.690.000 đồng). Bị cáo T là người có nhân thân tốt, lần đầu phạm tội, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo là người dân tộc thiểu số. Tại cấp phúc thẩm bị cáo xuất trình giấy xác nhận của địa phương về hoàn cảnh gia đình khó khăn, bố mẹ thường xuyên ốm đau, các con còn nhỏ bị cáo là lao động chính trong gia đình; biên lai thu tiền số 0001248 ngày 16/6/2025 với số tiền 10.200.000đ để thi hành khoản tiền phạt bổ sung, án phí đây là những tình tiết giảm nhẹ mới được quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Xét thấy bị cáo phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, có nơi cư trú ổn định, rõ ràng, bị cáo đủ điều kiện được áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn kháng cáo cho bị cáo hưởng án treo. Xét thấy việc cho bị cáo hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự, an toàn xã hội nên Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo Triệu Văn T, sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 46/2025/HS-ST ngày 25 tháng 3 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Bình Xuyên, giữ nguyên mức hình phạt tù nhưng cho bị cáo hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách của án treo như đề nghị của đại diện viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp.

[5]. Về án phí hình sự phúc thẩm: Do kháng cáo của bị cáo được chấp nhận nên bị cáo Triệu Văn T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Triệu Văn T, sửa bản án hình sự sơ thẩm số 46/2025/HS-ST ngày 25 tháng 3 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Bình Xuyên về phần hình phạt đối với bị cáo.

Tuyên bố bị cáo Triệu Văn T phạm tội “Đánh bạc”.

Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Triệu Văn T 01 (Một) năm tù cho hưởng án treo, thử thách 02 (Hai) năm, thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.

Giao bị cáo Triệu Văn T cho: Ủy ban nhân dân xã T, huyện S, tỉnh Tuyên Quang giáo dục, Công an xã T, huyện S, tỉnh Tuyên Quang giám sát trong thời gian thử thách của án treo. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 của Luật thi hành án hình sự năm 2019.

Trong thời gian thử thách của án treo, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án bị cáo Triệu Văn T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Vĩnh Phúc;
  • - TAND huyện Bình Xuyên;
  • - VKSND huyện Bình Xuyên;
  • - Chi cục THADS huyện Bình Xuyên;
  • - CQCSĐT - Công an tỉnh Vĩnh Phúc;
  • - CQTHAHS - Công an tỉnh Vĩnh Phúc;
  • - Phòng hồ sơ - Công an tỉnh Vĩnh Phúc;
  • - UBND xã Thiện Kế, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang;
  • - Công an xã Thiện Kế, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu: HS, HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(đã ký)

Nguyễn Văn Nghĩa

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 63/2025/HS-PT ngày 17/06/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC về hình sự (đánh bạc)

  • Số bản án: 63/2025/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Đánh bạc)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 17/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Triệu Văn T phạm tội đánh bạc
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger