|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VINH TỈNH NGHỆ AN |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 63/2025/HNGĐ - ST
Ngày: 30/06/2025
“Về việc ly hôn, tranh chấp nuôi con”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VINH, TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: ông Nguyễn Lĩnh Thái
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Phùng Thị Quỳnh Hòe
Bà Phạm Thị Thu Hà
Thư ký phiên toà: Bà Đinh Thị Thu Hiền – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố vinh, tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố vinh tham gia phiên toà:
Ông Lê Văn Tú - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 06 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Vinh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 165/2025/TLST-HNGĐ ngày 24 tháng 03 năm 2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 60/2025/QĐXXST - HNGĐ ngày 28 tháng 05 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 46/2025/QĐST-HNGĐ ngày 13/06/2025 giữa:
- Nguyên đơn: anh Dương Anh T, sinh năm 1982Có mặt
Địa chỉ: khối Đ, phường N, thành phố V, tỉnh Nghệ An
- Bị đơn: chị Phùng Thị L, sinh năm 1988Vắng mặt
Địa chỉ: khối Đ, phường N, thành phố V, tỉnh Nghệ An
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện xin ly hôn ngày 10/01/2025, tại bản tự khai, các buổi hòa giải và tại phiên tòa, nguyên đơn là anh Dương Anh T trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: anh Dương Anh T và chị Phùng Thị L đăng ký kết hôn trên cơ sở tự nguyện vào ngày 01/11/2010 tại UBND phường N, thị xã C, tỉnh Nghệ An. Sau khi chung sống một thời gian, vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn không thể dung hòa do tính tình, quan điểm sống không hợp nhau. Mặc dù vợ chồng đã được gia đình hai bên nội ngoại hòa giải nhưng mâu thuẫn ngày càng sâu sắc. Anh T và chị L đã ly thân từ năm 2022 cho đến nay. Do vợ chồng không còn tình cảm, mục đích hôn nhân không đạt được nên anh Dương Anh T xin được ly hôn với chị Phùng Thị L.
Về quan hệ con chung: Vợ chồng có 02 con chung là cháu Dương Tú L1, sinh ngày 04/8/2011 và cháu Dương Hải L2, sinh ngày 20/12/2012. Ly hôn, anh T có nguyện vọng trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Hải L2; giao cháu Tú L1 cho chị L trực tiếp, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung cho ai.
Về tài sản chung: vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ, vợ chồng không vay nợ ai và cũng không cho ai vay nợ, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại bản tự khai, quá trình hòa giải và tại phiên tòa, bị đơn chị Phùng Thị L trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: : Chị L đồng ý với anh T về điều kiện, thời gian kết hôn. Về nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng bất đồng quan điểm trong cuộc sống. Vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2022 cho đến nay. Nay anh Dương Anh T xin được ly hôn chị L không đồng ý. Chị L đề nghị Tòa án cho vợ chồng thêm thời gian để nói chuyện với nhau. Chị L có nguyện vọng đoàn tụ với T, cùng nhau xây dựng hạnh phúc gia đình, nuôi dạy con cái.
Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là cháu Dương Tú L1, sinh ngày 04/8/2011 và cháu Dương Hải L2, sinh ngày 20/12/2012. Trong trường hợp phải ly hôn, chị L có nguyện vọng trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Tú L1; giao cháu Hải L2 cho anh T trực tiếp, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung cho ai.
Về tài sản chung và khoản nợ: Chị Phùng Thị L thống nhất với quan điểm của anh Dương Anh T. Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An phát biểu ý kiến:
- Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký thực hiện đúng trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng Dân sự. Các đương sự chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại Điều 70, 71, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, cho anh Dương Anh T được ly hôn với chị Phùng Thị L.
Về con chung: Đề nghị HĐXX giao con chung là cháu Dương Hải L2, sinh ngày 20/12/2012 cho anh Dương Anh T, giao cháu Dương Tú L1, sinh ngày 04/8/2011 cho chị Phùng Thị L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con. Không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung cho ai.
Về tài sản, nợ chung: Do các đương sự không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
Về án phí: Anh Dương Anh T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 1 Điều 28, 35, 39, 147, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của ủy ban Thường vụ Quốc hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Cho Anh Dương Anh T được ly hôn với chị Phùng Thị L.
- Về con chung: Giao cháu Dương Tú L1, sinh ngày 04/8/2011 cho chị Phùng Thị L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con; giao cháu Dương Hải L2, sinh ngày 20/12/2012 cho anh Dương Anh T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con. Hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau.
Anh Dương Anh T, chị Phùng Thị L được quyền đi lại, thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở.
Vì lợi ích của con chung các bên được quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con theo quy định.
- Về quan hệ tài sản chung: Miễn xét.
- Về nghĩa vụ chung về tài sản: Miễn xét.
- Về án phí: Buộc anh Dương Anh T phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Vinh theo biên lai số 0005321 ngày 24 tháng 03 năm 2025.
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại điều 6, điều 7, điều 7a và điều 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
- Quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. bị đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Lĩnh Thái |
Bản án số 63/2025/HNGĐ - ST ngày 30/06/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VINH, TỈNH NGHỆ AN về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 63/2025/HNGĐ - ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VINH, TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ly hôn
