TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - THANH HÓA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 63/2025/HNGĐ - ST Ngày 28 - 11 - 2025 V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - THANH HOÁ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trịnh Thị Hà
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Bùi Sỹ Thắng
- Bà Trịnh Thị Phương
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Dung - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 2 - Thanh Hóa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Thanh Thủy - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 11 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 2 - Thanh Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 66/2025/TLST - HNGĐ ngày 06 tháng 10 năm 2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 61/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 14/11/2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Vì Thị Mỹ H, sinh năm 2003 (vắng mặt)
Căn cước công dân số: [...]; ngày cấp: 13/7/2023
ĐKHKTT: Thôn 1 L, xã T1, tỉnh Thanh Hóa
Nơi ở hiện nay: Khu phố C, xã S, tỉnh Thanh Hóa.
- Bị đơn: Anh Đầu Khắc N, sinh năm 1997 (vắng mặt)
Căn cước công dân số: [...]; ngày cấp: 16/11/2021
ĐKHKTT: Thôn 1 L, xã T1, tỉnh Thanh Hóa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện ngày 13/8/2025, bản tự khai ngày 04/11/2025 và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Vì Thị Mỹ H trình bày:
- Về hôn nhân: Chị và anh Đầu Khắc N xây dựng gia đình với nhau trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Q, huyện X, tỉnh Thanh Hóa nay là UBND xã T1, tỉnh Thanh Hóa vào ngày 26/10/2021. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống được 1 năm thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi nhau, bất đồng quan điểm trong cuộc sống. Mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng nên đến tháng 3/2022 chị đã về nhà ngoại ở, vợ chồng chính thức ly thân từ đó cho đến nay, không còn quan tâm chăm sóc nhau nữa. Hiện nay chị không có thai nghén. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, nếu tiếp tục chung sống vợ chồng không thể hạnh phúc được nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Đầu Khắc N.
- Về con chung: Chị và anh Đầu Khắc N có 1 con chung là Đầu Thanh T, sinh ngày 28/9/2021. Hiện nay con đang ở cùng anh N. Khi ly hôn chị giao con cho anh N trực tiếp nuôi dưỡng. Chị cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng là 2.000.000₫ (Hai triệu đồng) cho đến khi con đủ 18 tuổi và có khả năng lao động.
- Về tài sản và nợ chung: Chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Tại Bản tự khai ngày 13/10/2025 bị đơn anh Đầu Khắc N trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị Vì Thị Mỹ H xây dựng gia đình với nhau trên cơ sở tự nguyện, được hai bên gia đình đồng ý, tổ chức cưới và có đăng ký kết hôn tại UBND xã Q, huyện X, tỉnh Thanh Hóa nay là UBND xã T1, tỉnh Thanh Hóa vào ngày 26/10/2021. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc. Đến tháng 3/2022 mâu thuẫn phát sinh nguyên nhân chủ yếu do chị H có quan hệ ngoại tình với người đàn ông khác. Trong cuộc sống vợ chồng không có tiếng nói chung. Từ những nguyên nhân đó vợ chồng không còn hạnh phúc. Vợ chồng sống ly thân từ tháng 3/2022 đến nay, không quan tâm đến nhau. Nay chị H xin ly hôn thì anh cũng đồng ý.
- Về con chung: Anh và chị H có 1 con chung là Đầu Thanh T, sinh ngày 28/9/2021. Khi ly hôn anh xin được tiếp tục nuôi con và yêu cầu chị H cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng là 2.000.000₫ (Hai triệu đồng).
- Về tài sản và nợ chung: Anh N không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Tại phiên tòa: Chị Vì Thị Mỹ H và anh Đầu Khắc N đều có đơn xin xét xử vắng mặt. Tại Đơn xin xét xử vắng mặt chị H và anh N vẫn giữ nguyên quan điểm đã trình bày, không bổ sung gì thêm.
* Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Thanh Hóa tại phiên tòa sơ thẩm:
- Về tố tụng:
+ Về việc tuân theo pháp luật trong thời gian chuẩn bị xét xử: Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật trong việc xác định thẩm quyền giải quyết vụ án, xác định tư cách tố tụng của các đương sự; việc thực hiện các thủ tục tố tụng như xác minh thu thập chứng cứ, ban hành và giao các văn bản tố tụng đều đúng và đầy đủ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự (viết tắt là BLTTDS). Tuy nhiên, Tòa án cần thông báo về việc thu thập được tài liệu, chứng cứ cho đương sự biết theo quy định tại khoản 5 Điều 97 BLTTDS.
+ Về việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa: Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã tuân theo đầy đủ các quy định của BLTTDS.
+ Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của đương sự: Nguyên đơn và bị đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật và có đơn xin xét xử vắng mặt. Vì vậy, đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn theo khoản 1 Điều 228 và khoản 1 Điều 238 BLTTDS.
- Về nội dung:
+ Về hôn nhân: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 110, Điều 116, Điều 117 và Điều 118 Luật Hôn nhân và Gia đình xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; cho chị Vì Thị Mỹ H được ly hôn anh Đầu Khắc N.
+ Về con chung: Giao cháu Đầu Thanh T, sinh ngày 28/9/2021 cho anh N trực tiếp nuôi dưỡng. Chị H có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng là 2.000.000₫ (Hai triệu đồng).
+ Về tài sản chung: Chị H và anh N không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
- Về án phí: Căn cứ Điều 147 BLTTDS; điểm a khoản 1 Điều 24, điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội: Chị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm và án phí cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về tố tụng:
- Anh Đầu Khắc N có hộ khẩu thường trú tại thôn 1 L, xã T1, tỉnh Thanh Hóa nên chị Vì Thị Mỹ H yêu cầu Tòa án nhân dân khu vực 2 - Thanh Hóa giải quyết việc ly hôn và nuôi con là đúng với quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35 và Điều 39 BLTTDS.
- Chị Vì Thị Mỹ H và anh Đầu Khắc N có đơn xin xét xử vắng mặt, vì vậy cần áp dụng khoản 1 Điều 228; khoản 1 Điều 238 BLTTDS để xét xử vắng mặt chị H và anh N là đúng với quy định của pháp luật.
[2]. Về nội dung:
[2. 1]. Hôn nhân giữa chị Vì Thị Mỹ H và anh Đầu Khắc N dựa trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn là hôn nhân hợp pháp. Đánh giá về thực trạng quan hệ vợ chồng: Nguyên nhân mâu thuẫn là do trong cuộc sống vợ chồng có nhiều bất đồng quan điểm, không có tiếng nói chung. Tình cảm vợ chồng không còn hạnh phúc, vợ chồng sống ly thân từ tháng 3 năm 2022 đến nay, không quan tâm đến nhau. Chị H xác định tình cảm vợ chồng không còn nên vẫn giữ nguyên quan điểm xin được ly hôn với anh N. Về phía anh N, cũng đồng ý ly hôn với chị H. Xét thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, đời sống chung đã chấm dứt. Mục đích hôn nhân là xây dựng gia đình hòa thuận, Hạnh phúc không đạt được nên áp dụng Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình xử chấp nhận yêu cầu của chị H được ly hôn anh N là phù hợp.
[2.2]. Về con chung: Chị H và anh N có 1 con chung là Đầu Thanh T, sinh ngày 28/9/2021. Hiện nay con đang ở với anh N tại thôn 1 Lâm, xã T1, tỉnh Thanh Hóa. Khi ly hôn chị H xin được giao con chung cho anh N trực tiếp nuôi dưỡng. Quan điểm của anh N cũng xin được trực tiếp nuôi dưỡng con chung. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy để đảm bảo điều kiện tốt nhất cho con và phù hợp nguyện vọng của chị H và anh N cần giao cháu Đầu Thanh T cho anh N trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp. Về cấp dưỡng, chị H có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng là 2.000.000₫ (Hai triệu đồng). Thời điểm cấp dưỡng nuôi con kể từ tháng 11/2025 đến khi con thành niên. Phương thức cấp dưỡng định kỳ hằng tháng.
[2. 3]. Về tài sản và nợ chung: Chị H và anh N không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[3]. Về án phí: Chị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm và án phí cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 110, Điều 116, Điều 117 và Điều 118 Luật Hôn nhân và Gia đình; khoản 1 Điều 228; khoản 1 Điều 238; khoản 4 Điều 147, Điều 271, Điều 273 BLTTDS; điểm a khoản 1 Điều 24, điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Danh mục án phí, lệ phí Tòa án ban hành kèm theo Nghị quyết số 326.
Tuyên xử:
1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện, chị Vì Thị Mỹ H được ly hôn anh Đầu Khắc N.
2. Về con chung: Giao cháu Đầu Thanh T, sinh ngày 28/9/2021 cho anh N trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Chị H có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng là 2.000.000₫ (Hai triệu đồng). Thời điểm cấp dưỡng nuôi con kể từ tháng 11/2025 đến khi con thành niên. Phương thức cấp dưỡng định kỳ hằng tháng.
Chị Vì Thị Mỹ H có quyền, nghĩa vụ đi lại thăm nom con chung, không ai được cản trở.
3. Về tài sản và nợ chung: Chị H và anh N không yêu cầu Tòa án giải quyết.
4. Về án phí: Chị Vì Thị Mỹ H phải chịu 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm và 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) án phí cấp dưỡng nuôi con nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) chị H đã nộp theo biên lai thu số 0001012 ngày 06/10/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Thanh Hóa. Chị H còn phải nộp tiếp 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) án phí cấp dưỡng nuôi con.
4. Quyền kháng cáo: Chị Vì Thị Mỹ H và anh Đầu Khắc N được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trịnh Thị Hà |
Bản án số 63/2025/HNGĐ - ST ngày 28/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - THANH HÓA về ly hôn, tranh chấp về nuôi con.
- Số bản án: 63/2025/HNGĐ - ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con.
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/11/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị Vì Thị Mỹ H xin ly hôn anh Đầu Khắc N
