TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẠC LIÊU TỈNH BẠC LIÊU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 63/2025/HNGĐ-ST Ngày 27 tháng 6 năm 2025 V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẠC LIÊU, TỈNH BẠC LIÊU
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Chi
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Tuấn Kiệt
Ông Võ Minh Sơn
- Thư ký phiên tòa: Ông Trương Minh Hùng – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bạc Liêu tham gia phiên toà: Bà Trần Minh Muội - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 6 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 220/2025/TLST-HNGĐ ngày 07 tháng 5 năm 2025 về tranh chấp ly hôn, nuôi con, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 62/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 02 tháng 6 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 49/2025/QĐST-HNGĐ ngày 16 tháng 6 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Ngọc T, sinh năm 2002; Địa chỉ: Ấp D, xã V, huyện H, tỉnh Bạc Liêu.
- Bị đơn: Anh Lưu Anh N, sinh năm 1998; Địa chỉ: số C, Khóm C, Phường B, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu.
(các đương sự vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 23/4/2025 và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Nguyễn Ngọc T trình bày:
Về hôn nhân: Chị T và anh N tự nguyện chung sống, có tổ chức đám cưới theo phong tục vào năm 2022, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân Phường B, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 10, ngày 03/3/2022. Trong quá trình chung sống vợ chồng lúc đầu rất hạnh phúc nhưng về sau, do bất đồng quan điểm sống, anh N hay có tình cảm với người khác. Chị T và anh N thường cãi vả nhau và dẫn đến ly thân. Chị T và anh N đã ly thân với nhau từ đầu năm 2024 đến nay. Nay chị xác định mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, vợ chồng cũng tự thống nhất ly hôn, không thể hàn gắn nên chị yêu cầu được ly hôn với anh Lưu Anh N.
Về con chung: Quá trình chung sống chị T và anh N có 01 con chung là cháu Lưu Trí N1, sinh ngày 25/5/2022, hiện nay cháu N1 đang sống chung với chị. Khi ly hôn chị T yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu Lưu Trí N1, sinh ngày 25/5/2022.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị T không yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung đều không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Từ khi thụ lý vụ án đến nay, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho anh Lưu Anh N nhưng anh N đều vắng mặt và không có gửi bất cứ ý kiến phản hồi gì đối với yêu cầu xin ly hôn của chị T.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bạc Liêu phát biểu quan điểm:
Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình thụ lý vụ án, Tòa án đã thực hiện đầy đủ theo thủ tục tố tụng và các văn bản có liên quan nên về hình thức tố tụng Viện kiểm sát xét thấy bảo đảm đủ điều kiện và hợp pháp. Nguyên đơn chấp hành đúng theo quy định của pháp luật. Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không lý do, chưa chấp hành đúng quy định tại Điều 72 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án: Về hôn nhân, chị T và anh N chung sống có đăng ký kết hôn nên là hôn nhân hợp pháp. Vợ chồng đã mâu thuẫn, không sống chung trong một thời gian dài, không thể hàn gắn nên việc chị T yêu cầu ly hôn là có căn cứ chấp nhận. Về con chung, giao con chung Lưu Trí N1, sinh ngày 25/5/2022 cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con, chị T không yêu cầu nên không đặt ra xem xét. Về tài sản chung và nợ chung đều không có nên không đặt ra xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Thẩm quyền giải quyết: Chị Nguyễn Ngọc T yêu cầu ly hôn với anh Lưu Anh N, đây là quan hệ tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn anh Lưu Anh N cư trú tại thành phố B, tỉnh Bạc Liêu nên Tòa án nhân dân thành phố Bạc Liêu thụ lý giải quyết vụ án là phù hợp theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Xét xử vắng mặt đương sự: Tại biên bản xác minh ngày 02/6/2025, chính quyền địa phương xác nhận anh N vẫn còn sinh sống tại địa chỉ số C, Khóm C, Phường B, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu và sống cùng mẹ là bà Lưu Thị Tuyết L. Bị đơn anh Lưu Anh N đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do. Nguyên đơn chị Nguyễn Ngọc T có đơn xin vắng mặt theo đúng quy định. Do đó, Tòa án xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định tại điểm khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[3] Xét yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Ngọc T.
[3.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị T và anh N tự nguyện chung sống vợ chồng từ năm 2022, có tổ chức đám cưới theo phong tục tập quán, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân Phường B, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 10, ngày 03/3/2022 nên quan hệ hôn nhân giữa chị T và anh N là hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ.
Chị T xác định cuộc sống hôn nhân phát sinh nhiều mâu thuẫn, thường cự cãi do anh N không quan tâm đến vợ con, hay có tình cảm khác, vợ chồng đã sống ly thân từ đầu năm 2024 đến nay. Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã thực hiện tống đạt các văn bản tố tụng cho bị đơn tại nơi cư trú. Như vậy, bị đơn anh Lưu Anh N đã được Tòa án đã tống đạt hợp lệ tất cả các văn bản tố tụng theo quy định pháp luật và đã được biết việc nguyên đơn chị T yêu cầu ly hôn với anh nhưng trong quá trình chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa hôm nay, anh N đều vắng mặt, cũng không có ý kiến phản hồi gửi cho Tòa án nên không ghi nhận được ý kiến của anh N. Điều này cho thấy anh N đã bỏ mặc mối quan hệ hôn nhân, không có thiện chí hàn gắn tình cảm vợ chồng với chị T. Hội đồng xét xử xét thấy, hôn nhân được xây dựng trên mối quan hệ tình cảm vợ chồng và các thành viên trong gia đình, vợ chồng phải có nghĩa vụ thương yêu, cùng nhau chia sẻ, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau anh N đã bỏ mặc hôn nhân, không mong muốn hàn gắn. Từ đó cho thấy hôn nhân giữa chị T và anh N đã đến mức trầm trọng, các bên không thể hàn gắn, đời sống chung không thể tiếp tục, mục đích hôn nhân không đạt được, Hội đồng xét xử áp dụng quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 chấp nhận cho chị Nguyễn Ngọc T ly hôn với anh Lưu Anh N.
[3.2] Về con chung: Theo lời trình bày của chị T phù hợp với giấy khai sinh, cho thấy giữa chị T và anh N có một người con chung là cháu Lưu Trí N1, sinh ngày 25/5/2022. Xét yêu cầu xin nuôi con của chị T, Hội đồng xét xử thấy rằng, con chung đã sống cùng chị T từ khi chị T và anh N sống ly thân đến nay. Chị T đảm bảo điều kiện nuôi dưỡng, chăm sóc con chung và cháu đang phát triển bình thường, sức khỏe ổn định. Mặt khác, cháu Lưu Trí N1, sinh ngày 25/5/2022 còn quá nhỏ, cần phải có sự chăm sóc của người mẹ. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 chấp nhận giao cháu N1 cho chị T tiếp tục nuôi dưỡng để ổn định cuộc sống của cháu khi cha mẹ ly hôn. Anh N có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
[3.3] Về cấp dưỡng nuôi con: Chị T không yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi con, xét thấy đây là sự tự nguyện của đương sự nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
[3.4] Về tài sản chung: Chị T xác định chị và anh N không có tài sản chung, không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
[3.5] Về nợ chung: Chị T xác định chị và anh N không có nợ chung, không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
[4] Đối với ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bạc Liêu tại phiên tòa về việc tuân theo pháp luật tố tụng và quan điểm giải quyết vụ án là có căn cứ và phù hợp quy định pháp luật nên được chấp nhận.
[5] Về án phí: Chị Nguyễn Ngọc T yêu cầu ly hôn nên phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 và khoản 4 Điều 207, Điều 227, Điều 228, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Căn cứ vào các Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình 2014;
- Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của chị Nguyễn Ngọc T.
- Về hôn nhân: Cho chị Nguyễn Ngọc T ly hôn với anh Lưu Anh N.
- Về con chung: Giao cháu Lưu Trí N1, sinh ngày 25/5/2022 cho chị Nguyễn Ngọc T tiếp tục trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục, (hiện cháu N1 đang sống chung cùng chị T). Anh Lưu Anh N có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
- Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Nguyễn Ngọc T không yêu cầu anh Lưu Anh N cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
- Về tài sản chung: không có, không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
- Về nợ chung: không có, không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
- Về án phí: Chị Nguyễn Ngọc T phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Chị T đã nộp tạm ứng án phí số tiền là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0000421 ngày 07 tháng 5 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bạc Liêu nên được chuyển thu án phí.
Trong trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
7. Án xử công khai, các đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án, hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
Bản án số 63/2025/HNGĐ-ST ngày 27/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẠC LIÊU, TỈNH BẠC LIÊU về tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Số bản án: 63/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẠC LIÊU, TỈNH BẠC LIÊU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: bản án
