|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ TỈNH LÂM ĐỒNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 63/2025/HNGĐ-ST Ngày: 24/6/2025. V/v: Ly hôn. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ, TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Minh Huấn
Các hội thẩm nhân dân: Bà Ngô Thị Luân;
Bà Thạch Thị Lan Nhung.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đàm Thị Thu Duy – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Lịch - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số 118/2025/TLST-HNGĐ ngày 26/3/2025 về việc: “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 60/2025/QĐXXST – HNGĐ ngày 06 tháng 6 năm 2025, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Đặng Thị Phú H, sinh năm: 1978; địa chỉ: Thôn P, xã P, huyện L, tỉnh Lâm Đồng.
Bị đơn: Ông Phạm Văn M, sinh năm: 1977; địa chỉ: Thôn P, xã P, huyện L, tỉnh Lâm Đồng.
(Bà H và ông M có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện nguyên đơn bà Đặng Thị Phú H trình bày: Bà và ông M về chung sống với nhau vào năm 1997 trên cơ sở tự nguyện, có tổ chức lễ cưới theo phong tục truyền thống và có đăng ký kết hôn với nhau tại UBND xã P, huyện L, tỉnh Lâm Đồng vào ngày 26 tháng 11 năm 1997. Sau khi kết hôn vợ chồng bà sinh sống tại thôn P, xã P, huyện L. Thời gian đầu vợ chồng bà sống rất hòa thuận, hạnh phúc. Tuy nhiên đến năm 2023 thì xảy ra rất nhiều mâu thuẫn, bất hòa, cãi nhau. Nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung, thường xuyên cãi vã; ông M còn hay uống rượu nên có lời nói và cư xử thiếu tế nhị, thậm chí xô xát vợ con, không chăm lo làm ăn kinh tế. Cuộc sống vợ chồng lúc nào cũng căng thẳng ngột ngạt. Mặc dù, vợ chồng bà đã nhiều lần nói chuyện để giải quyết mâu thuẫn, hàn gắn tình cảm nhưng không thể được. Đến nay mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, không thể cứu vãn được, bà xác định không còn tình cảm với ông M, không thể tiếp tục chung sống với nhau, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông M.
Về con chung: Vợ chồng bà có 03 con chung là Phạm Thị Kiều H1, sinh ngày 07/8/1998, Phạm Thị Kiều T, sinh ngày 20/5/2002, Phạm Kiều N, sinh ngày 08/9/2008. Hiện nay, các con chung là H1 và T đã đủ tuổi trưởng thành và phát triển bình thường nên bà không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết. Còn đối với con chung là Phạm Kiều N khi ly hôn bà đề nghị Tòa án giao cho bà là người trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục con cho đến khi con đủ tuổi trưởng thành, bà không yêu cầu ông M phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung: Vợ chồng bà tự thoả thuận nên bà không yêu cầu Toà án giải quyết.
Về nợ chung: Vợ chồng bà có nợ Ngân hàng N1 – chi nhánh L số tiền 150.000.000 đồng, hiện nay vợ chồng bà đã trả hết nợ nên bà không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Theo bản tự khai, bị đơn ông Phạm Văn M trình bày: Ông và bà H xây dựng gia đình với nhau do tìm hiểu tự nguyện, có tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn tại UBND xã P. Vợ chồng sống với nhau hòa thuận đến đầu năm 2025 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm về kinh tế dẫn đến cãi nhau và bà H đã bỏ nhà đi, ông mong muốn vợ chồng cảm thông về chung sống với nhau, trường hợp bà H vẫn yêu cầu ly hôn thì ông đồng ý.
Về con chung: Vợ chồng ông có 03 con chung là Phạm Thị Kiều H1, sinh ngày 07/8/1998, Phạm Thị Kiều T, sinh ngày 20/5/2002, Phạm Kiều N, sinh ngày 08/9/2008. Hiện nay, các con chung là H1 và T đã đủ tuổi trưởng thành và phát triển bình thường nên ông không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết. Còn đối với con chung là Phạm Kiều N khi ly hôn ông đề nghị Tòa án giải quyết theo nguyện vọng của con, không yêu cầu giải quyết về cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Vợ chồng ông tự thoả thuận nên ông không yêu cầu Toà án giải quyết.
Về nợ chung: Vợ chồng ông có nợ Ngân hàng N1 – chi nhánh L số tiền 150.000.000 đồng, vợ chồng ông sẽ thỏa thuận trả nợ cho Ngân hàng.
Vụ án đã được Tòa án đã tiến hành hòa giải nhưng không được do vắng mặt bị đơn.
Tại phiên tòa: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng cũng như phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án theo hướng đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn xin ly hôn của bà H, xử cho bà H và ông M được ly hôn.
Về con chung: Đối với con chung là Phạm Thị Kiều H1, sinh ngày 07/8/1998, Phạm Thị Kiều T, sinh ngày 20/5/2002 đến nay đã đủ tuổi trưởng thành và phát triển bình thường, cả bà H và ông M không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết nên không đặt ra để xem xét. Đối với con chung là Phạm Kiều N, sinh ngày 08/9/2008 có nguyện vọng ở với mẹ khi bố mẹ ly hôn nên đề nghị Tòa án giao cho bà H là người trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục; về vấn đề cấp dưỡng nuôi con bà H không yêu cầu nên không đặt ra để xem xét.
Về tài sản chung: Bà H và ông M xác định để vợ chồng tự thoả thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra để xem xét.
Về nợ chung: Cả bà H và ông M đều xác định trong quá trình chung sống vợ chồng có nợ Ngân hàng N1 - Chi nhánh L số tiền là 150.000.000 đồng. Tuy nhiên, hiện nay vợ chồng bả H, ông M đã trả nợ xong cho Ngân hàng, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét.
Về án phí: Buộc bà Đặng Thị Phú H phải chịu án phí sơ thẩm về việc ly hôn theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận cũng như ý kiến phát biểu của Viện kiểm sát tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn bà H và bị đơn ông M vắng mặt tại phiên tòa và đều có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên căn cứ khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo thủ tục chung là phù hợp.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Bà Đặng Thị Phú H và ông Phạm Văn M kết hôn trên cơ sở tìm hiểu tự nguyện, có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện L, tỉnh Lâm Đồng vào ngày 26/11/1997 nên quan hệ hôn nhân của bà H và ông M là hợp pháp.
Quá trình giải quyết vụ án bà H đề nghị Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông M. Còn ông M mong muốn bà H cảm thông để vợ chồng cùng về chung sống với nhau, trường hợp bà H cương quyết yêu cầu ly hôn thì ông đồng ý ly hôn theo yêu cầu của bà H. Qua xem xét thì thấy rằng: Quá trình chung sống giữa bà H và ông M có xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân chủ yếu là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, vợ chồng không đồng cảm, chia sẻ được với nhau trong cuộc sống; hơn nữa vợ chồng lại không tin tưởng nhau trong việc làm ăn phát triển kinh tế và ông M còn thường xuyên uống rượu và có lời nói, hành vi thiếu tế nhị với vợ con nên vợ chồng thường xuyên xảy ra bất hòa, cãi nhau. Do không tìm được biện pháp giải quyết nên bà H đã ra ngoài thuê phòng trọ ở riêng. Trong thời gian sống ly thân thì vợ chồng không còn sự quan tâm chăm sóc đến nhau. Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã triệu tập, thông báo cho đương sự đến để làm việc, hòa giải nhưng ông M đều vắng mặt. Bản thân ông M mong muốn vợ chồng đoàn tụ nhưng ông không tìm cách giải quyết mâu thuẫn mà bỏ mặc cho mâu thuẫn vợ chồng ngày càng kéo dài và trầm trọng hơn. Vì vậy, nếu cứ duy trì tinh trạng hôn nhân như hiện nay cũng không mang lại hạnh phúc cho đương sự. Do vậy, căn cứ Điều 53 và khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, cần chấp nhận đơn ly hôn của bà H, xử cho bà H và ông M được ly hôn là phù hợp.
[3] Về con chung: Bà H và ông M xác định trong quá trình chung sống vợ chồng có 03 con chung là Phạm Thị Kiều H1, sinh ngày 07/8/1998, Phạm Thị Kiều T, sinh ngày 20/5/2002 và Phạm Kiều N, sinh ngày 08/9/2008. Đối với con chung là cháu H1 và cháu T hiện nay đã đủ tuổi trưởng thành và phát triển bình thường, cả bà H và ông M không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra để xem xét.
Đối với con chung là Phạm Kiều N, sinh ngày 08/9/2008 khi ly hôn bà H đề nghị Tòa án giao cho bà là người trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi con đủ tuổi trưởng thành; còn ông M đề nghị Tòa án giải quyết theo nguyện vọng của con. Xét thấy, cháu N hiện nay đã trên 07 tuổi có nguyện vọng muốn ở với mẹ khi bố mẹ ly hôn. Do đó, cần giao cháu N cho bà H là người trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp. Về vấn đề cấp dưỡng nuôi con bà H không yêu cầu nên không đặt ra để xem xét.
[4] Về tài sản chung: Bà H và ông M xác định để vợ chồng tự thoả thuận giải quyết với nhau, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét.
[6] Về nợ chung: Cả bà H và ông M đều xác định trong quá trình chung sống vợ chồng có nợ Ngân hàng N1 - Chi nhánh L số tiền là 150.000.000 đồng. Hiện nay vợ chồng bả H, ông M đã trả nợ xong cho Ngân hàng và xuất trình chứng cứ đã tất toán nợ vay với ngân hàng; đồng thời ngân hàng N1 - Chi nhánh L cũng không có yêu cầu gì trong vụ án này nên không đặt ra xem xét.
[5] Về án phí: Buộc bà Đặng Thị Phú H phải chịu 300.000đ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 53, khoản 1 Điều 56; Điều 57; Điều 58 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
Căn cứ khoản 1 Điều 28; Điều 147; Điều 203; khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228 và Điều 266 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
- Chấp nhận đơn xin ly hôn của bà Đặng Thị Phú H, xử cho bà Đặng Thị Phú H và ông Phạm Văn M được ly hôn.
-
Về con chung: Giao con chung là Phạm Kiều N, sinh ngày 08/9/2008 cho bà Đặng Thị Phú H là người trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục theo nguyện vọng của con. Ông Phạm Văn M không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Quyền đi lại thăm nom con, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con; quyền thay đổi người trực tiếp nuôi con; thay đổi mức cấp dưỡng được thực hiện theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình.
- Về án phí: Buộc bà Đặng Thị Phú H phải chịu 300.000đ án phí sơ thẩm về việc ly hôn. Nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ theo biên lai thu tiền số 0005296 ngày 26 tháng 3 năm 2025 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Lâm Hà. Bà Đặng Thị Phú H đã nộp đủ án phí.
- Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Thành viên Hội đồng xét xử | Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa |
|
Ngô Thị Luân |
Trần Minh Huấn |
|
Thạch Thị Lan Nhung |
|
Nơi nhận:
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Minh Huấn |
Bản án số 63/2025/HNGĐ-ST ngày 24/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ, TỈNH LÂM ĐỒNG về ly hôn (hôn nhân gia đình)
- Số bản án: 63/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn (Hôn nhân gia đình)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ, TỈNH LÂM ĐỒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Hòa - Mân ly hôn
