Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. VŨNG TÀU

TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 63/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 23-5-2025

V/v “Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VŨNG TÀU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Trần Thị Huê

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Đặng Song Hoàn

2. Ông Nguyễn Văn Tám

- Thư ký phiên toà: Bà Hoàng Ngọc Thủy– Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu.

Ngày 23 tháng 5 năm 2025 tại Trụ sở tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 161/2025/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 03 năm 2025, về việc “Ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 38/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 21 tháng 4 năm 2025; Quyết định hoãn phiên tòa số 40/2025/QĐ-ST ngày 07 tháng 5 năm 2025, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Trần Thị Hương S, sinh năm 1989.

Nơi thường trú: 1 B, Phường E, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

Chỗ ở hiện nay: C Đ, Phường D, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt).

Bị đơn: Ông Đinh Dương Biên T, sinh năm 1979.

Nơi thường trú và chỗ ở hiện nay: 1 B, Phường E, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 20 tháng 3 năm 2025 và quá trình làm việc tại Tòa án nguyên đơn bà Trần Thị Hương S trình bày:

Bà và ông Đinh Dương Biên T sau một thời gian tìm hiểu thì tự nguyện tiến hành đăng kí kết hôn tại Ủy ban nhân dân Phường E, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu vào ngày 15 tháng 4 năm 2013. Sau khi kết hôn, thời gian đầu, vợ chồng bà chung sống hạnh phúc, đến năm 2015 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung. Ông T thường xuyên ghen tuông nên đánh chửi bà. Bà đã cố gắng hàn gắn tình cảm với ông T nhưng không thành. Bà và ông T đã ly thân. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống chung không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà yêu cầu ly hôn với ông Đinh Dương Biên T.

Về con chung: Bà và ông T có 02 con chung là cháu Đinh Trần Khánh A, sinh ngày 25-9-2013 và cháu Đinh Gia B, sinh ngày 02-12-2017. Tại đơn khởi kiện ngày 20-3-2025, bà S yêu cầu Tòa án được trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung tuy nhiên quá trình giải quyết vụ án, bà S thay đổi yêu cầu khởi kiện, bà yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Khánh A, ông T sẽ trực tiếp nuôi dưỡng cháu Gia B. Về cấp dưỡng nuôi con: Bà và ông T không phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Bà không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Đinh Dương Biên T trình bày: Ông và bà Trần Thị Hương S sau một thời gian tìm hiểu thì tự nguyện tiến hành đăng kí kết hôn tại Ủy ban nhân dân Phường E, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu vào ngày 15 tháng 4 năm 2013. Sau khi kết hôn, thời gian đầu, vợ chồng ông chung sống hạnh phúc, sau đó thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung. Do ông không tin tưởng bà S nên có đánh chửi bà S tuy nhiên không gây thương tích nặng. Ông và bà S đã ly thân. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống chung không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nên ông đồng ý ly hôn với bà Trần Thị Hương S.

Về con chung: Ông và bà S có 02 con chung là cháu Đinh Trần Khánh A, sinh ngày 25-9-2013 và cháu Đinh Gia B, sinh ngày 02-12-2017. Ông yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Gia B. Cháu Khánh A do bà S trực tiếp nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con: Ông và bà S không phải cấp dưỡng nuôi con.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên Tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Bà Trần Thị Hương S có đơn khởi kiện về “Ly hôn” với ông Đinh Dương Biên T, có nơi cư trú tại thành phố V nên xác định đây là vụ án hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu theo quy định tại Điều 28, Điều 35, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Tại phiên tòa hôm nay, bà S có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt, ông T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 228, điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bà S và ông T.

[2]. Về quan hệ hôn nhân:

Xét bà Trần Thị Hương S và ông Đinh Dương Biên T tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân Phường E, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu vào ngày 15 tháng 4 năm 2013. Như vậy, hôn nhân giữa bà S và ông T là hợp pháp.

Trong thời gian bà S và ông T sống với nhau, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bà S, ông T bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung dẫn đến ông bà thường xuyên cãi nhau, ông T còn đánh bà S. Do vậy nên cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc. Bà S có đơn yêu cầu ly hôn. Ông T có ý kiến ông đồng ý ly hôn với bà S.

Căn cứ Điều 19 Luật Hôn nhân và Gia đình quy định:

  1. Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình.
  2. Vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau...”.

Hội đồng xét xử xét thấy hoàn cảnh hôn nhân của bà S, ông T không thỏa mãn được mục đích, ý nghĩa cốt yếu để duy trì đời sống hôn nhân. Nay bà S cương quyết ly hôn do không còn tình cảm với ông T, ông T đồng ý ly hôn với bà S. Vì vậy, căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà S.

[3]. Về con chung: Bà S và ông T có 02 con chung là cháu Đinh Trần Khánh A, sinh ngày 25-9-2013 và cháu Đinh Gia B, sinh ngày 02-12-2017. Quá trình làm việc tại Tòa án, bà S yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Khánh A; còn cháu Gia B do ông T trực tiếp nuôi dưỡng. Ông T vắng mặt tại phiên tòa tuy nhiên quá trình làm việc tại Tòa án ông T yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Gia B; cháu Khánh A do bà S trực tiếp nuôi dưỡng. Xét ý kiến của bà S và ông T hoàn toàn thống nhất với nguyện vọng của 02 con chung. Do vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà S: Cháu Khánh A do bà S trực tiếp nuôi dưỡng. Cháu Gia B do ông T trực tiếp nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con: Do mỗi người nuôi 01 con chung nên bà S và ông T không phải cấp dưỡng nuôi con.

[4]. Về tài sản chung, nợ chung: Bà S và ông T không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[5]. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Bà S phải nộp theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 51, Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình; Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 227, Điều 228 của Bộ Luật tố tụng Dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/UBTVQH ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội qui định về án phí, lệ phí.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị Hương S.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Thị Hương S và ông Đinh Dương Biên T ly hôn.
  2. Về con chung: 02 con chung là cháu Đinh Trần Khánh A, sinh ngày 25-9-2013 và cháu Đinh Gia B, sinh ngày 02-12-2017. Cháu Khánh A do bà S trực tiếp nuôi dưỡng. Cháu Gia B do ông T trực tiếp nuôi dưỡng.

    Về cấp dưỡng nuôi con: Bà S không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi cháu Khánh A. Ông T không yêu cầu bà S cấp dưỡng nuôi cháu Gia B.

    Bà S và ông T có quyền, nghĩa vụ thăm non con chung mà không ai được cản trở.

    Trên cơ sở lợi ích của con, trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con, mức cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

  3. Về tài sản chung, nợ chung: Bà S, ông T không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
  4. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà S phải nộp 300.000₫ (Ba trăm ngàn đồng) án phí hôn nhân và gia đình, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0000163 ngày 20 tháng 3 năm 2025 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Vũng Tàu. Như vậy, bà S đã thi hành xong án phí.
  5. Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử theo thủ tục phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tỉnh BR-VT;
  • - Viện kiểm sát nhân dân Tp . Vũng Tàu;
  • - Chi cục thi hành án dân sự Tp. Vũng Tàu;
  • - UBND Phường 5, thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thị Huê

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 63/2025/HNGĐ-ST ngày 23/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VŨNG TÀU về ly hôn (hôn nhân và gia đình)

  • Số bản án: 63/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn (Hôn nhân và Gia đình)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/05/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VŨNG TÀU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bà S ông T ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger