|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 63/2025/HNGĐ-ST
Ngày 14/03/2025
“V/v Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung"
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Trung Thông
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Ngô Văn Bê
Ông Tô Văn Đức
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Như Ý - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa:
Bà Nguyễn Thị Tuyết - Kiểm sát viên trung cấp.
Ngày 14/03/2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 313/2024/TLST-HNGĐ về “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 37/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 14/01/2025, Quyết định hoãn phiên tòa số 37/2025/QĐST-HNGĐ ngày 14/02/2025 giữa các đương sự:
- * Nguyên đơn: Anh Hoàng Trung L, sinh năm 1985 (xin vắng mặt)
- Địa chỉ: TDP T, phường N, thành phố B, tỉnh Bắc Giang
- * Bị đơn: Chị Lê Thị Q, sinh năm 1988 (vắng mặt)
- HKTT: TDP T, phường N, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
- Chị Q hiện đang ở nước ngoài, không rõ địa chỉ.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện, bản tự khai, tại phiên toà sơ thẩm nguyên đơn anh Hoàng Trung L trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị Lê Thị Q được tự do tìm hiểu, việc kết hôn giựa trên cơ sở tình cảm đôi bên. Anh chị đã thực hiện việc đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện Y (nay là phường N, thành phố B) vào ngày 20/11/2007. Sau khi kết hôn anh chị chung sống hạnh phúc đến năm 2019 chị Q đi xuất khẩu lao động tại Đảo S. Từ đó anh chị phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ
chồng xa cách, bất đồng quan điểm, không quan tâm nhau và không liên lạc với nhau nữa. Đến nay anh xác định tình cảm vợ chồng không còn, không thể chung sống với nhau được nữa nên anh đề nghị Toà án cho anh được ly hôn với chị Q.
- Về con chung: Vợ chồng anh chị có 02 con chung là cháu Hoàng Trung K, sinh ngày 04/8/2009 và cháu Hoàng Lê Quỳnh N, sinh ngày 03/9/2015. Hiện nay các cháu đều đang do anh L nuôi dưỡng. Ly hôn, anh đề nghị Tòa án giao cả hai con chung cho anh trực tiếp nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con anh chị sẽ tự thoả thuận, không yêu cầu Toà án giải quyết.
- Về tài sản chung và công nợ: không đề nghị Tòa án giải quyết.
* Bị đơn là chị Lê Thị Q hiện đang lao động ở nước ngoài, không có địa chỉ cụ thể. Tòa án đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật đối với chị Q đến nay không nhận được thông tin của chị.
Tòa án đã xác minh thu thập chứng cứ thông qua mẹ đẻ của chị Q là bà Nguyễn Thị D, sinh năm 1963; địa chỉ: TDP T, phường N, thành phố B, tỉnh Bắc Giang. Bà có ý kiến trình bày như sau: bà là mẹ đẻ của chị Lê Thị Q, hiện nay chị Q đang lao động tại nước ngoài nhưng bà không biết địa chỉ của chị ở nước ngoài. Bà đã được Toà án thông báo về việc anh L khởi kiện ly hôn, tranh chấp con chung với chị Q và đã thông báo tới chị. Quan điểm của chị Q như sau:
- Về quan hệ hôn nhân: Anh L đề nghị ly hôn chị thì chị không đồng ý. Chị đề nghị đến khi nào chị về nước thì anh chị giải quyết tiếp.
- Về con chung: Ly hôn anh L đề nghị được nuôi cả hai con chung thì chị không đồng ý. Quan điểm của chị là đợi chị về nước rồi hai anh chị giải quyết tiếp với nhau.
* Tòa án đã làm việc với cháu Hoàng Trung K và cháu Hoàng Lê Quỳnh N, các cháu đều có nguyện vọng được tiếp tục ở với anh L để ổn định việc học tập và sinh hoạt.
* Tại phiên tòa sơ thẩm chị Q vắng mặt không có lý do và không có quan điểm gì trình bày. Hội đồng xét xử tóm tắt nội dung vụ án, công bố các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.
* Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm:
- Việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký, nguyên đơn kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã được đảm bảo đúng quy định của pháp luật. Bị đơn không chấp hành quy định của pháp luật.
- Về nội dung: Đề nghị HĐXX áp dụng khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, khoản 2 Điều 123, Điều 127 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273, khoản 2 Điều 479 BLTTDS; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTBVQH14 ngày 30/12/2016 Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Hoàng Trung L. Xử:
Về quan hệ hôn nhân: Anh Hoàng Trung L được ly hôn chị Lê Thị Q.
Về con chung: Giao 02 con chung là cháu Hoàng Trung K và cháu Hoàng Lê Quỳnh N cho anh L trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục. Về việc cấp dưỡng không đặt ra xem xét giải quyết.
Về tài sản chung và công nợ chung không đặt ra xem xét giải quyết.
Về án phí: anh Hoàng Trung L phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được công bố tại phiên toà, quan điểm của đại diện Viện kiểm sát. Sau khi thảo luận và nghị án. Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về quan hệ pháp luật, thẩm quyền giải quyết vụ án: Anh Hoàng Trung L có đơn đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn, trách nhiệm nuôi con chung với chị Lê Thị Q. Bị đơn chị Lê Thị Q có hộ khẩu tại tỉnh Bắc Giang và hiện đang lao động tại nước ngoài không có địa chỉ cụ thể. Căn cứ công văn số: 29808/QLXNC-P3 ngày 16/12/2024 của Cục Q1 - Bộ C thì chị Lê Thị Q đã xuất cảnh ra nước ngoài ngày 11/09/2018, hiện chưa có thông tin nhập cảnh về nước. Đây là vụ án “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Do bị đơn chị Lê Thị Q được xác định là đang ở nước ngoài nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang, theo quy định tại khoản 2 Điều 123 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 3 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 37 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2]. Về sự vắng mặt của đương sự: Chị Q đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do. Tòa án đã làm việc với bà Nguyễn Thị D là mẹ đẻ của chị Q nhưng bà không biết địa chỉ cụ thể của chị ở nước ngoài để cung cấp cho Tòa án. Tòa án đã niêm yết tống đạt, thông báo các văn bản tố tụng cho chị Q theo quy định tại khoản 5 Điều 177; Điều 179 Bộ luật Tố tụng dân sự. HĐXX thấy việc vắng mặt của bị đơn không ảnh hưởng quá trình giải quyết vụ án. Do vậy căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
[3]. Về quan hệ hôn nhân: Anh Hoàng Trung L và chị Lê Thị Q kết hôn với nhau ngày 20/11/2007 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện Y (nay là phường N, thành phố B), việc kết hôn trên cơ sở tự nguyện tìm hiểu nên đây là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống phát sinh mâu thuẫn anh L xác định tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị được ly hôn với chị Q. HĐXX thấy: Đến nay anh L và chị Q đã không còn quan tâm gì nhau và không còn liên lạc với nhau nữa. Chị Q hiện đang ở nước ngoài vợ chồng xa cách, anh L xác định không còn tình cảm. Như vậy, tình trạng mâu thuẫn vợ chồng giữa anh L và chị Q đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do vậy, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 53 và khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh L, xử cho anh L được ly hôn với chị Q.
[4]. Về con chung: Anh L và chị Q có 02 con chung là cháu Hoàng Trung K, sinh ngày 04/8/2009 và cháu Hoàng Lê Quỳnh N, sinh ngày 03/9/2015, hiện cả hai cháu đang ở cùng anh L và đều có nguyện vọng được tiếp tục ở cùng anh L. Chị Q hiện đang sinh sống và lao động tại nước ngoài không có địa chỉ nên không đủ điều kiện nuôi con. Vì vậy để đảm bảo quyền lợi của con chung cần áp dụng Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình, giao cho anh L được trực tiếp nuôi dưỡng, trông nom, chăm sóc, giáo dục hai con chung là cháu K và cháy N. Về cấp dưỡng nuôi con anh L không yêu cầu nên không đặt ra xem xét giải quyết.
Sau khi ly hôn, chị Q không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở theo quy định tại Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Trường hợp chị Q có nguyện vọng nuôi con chung hoặc vì quyền lợi chính đáng của con chung, các đương sự có quyền khởi kiện yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn bằng vụ án khác theo quy định tại Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014
[5]. Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản (công nợ): Anh L không đề nghị nên Tòa án không đặt ra xem xét giải quyết.
[6]. Về án phí: Căn cứ quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội, buộc anh Hoàng Trung L phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm.
[7]. Quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 271; Điều 273 và khoản 1, 2 Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, khoản 2 Điều 123 và Điều 127 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 37; khoản 4 Điều 147; Điều 228, Điều 238; Điều 271; Điều 273, khoản 2 Điều 479 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTBVQH14 ngày 30/12/2016 Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Hoàng Trung L.
1. Về quan hệ hôn nhân: Anh Hoàng Trung L được ly hôn chị Lê Thị Q.
2. Về con chung: Giao cháu Hoàng Trung K, sinh ngày 04/8/2009 và cháu Hoàng Lê Quỳnh N, sinh ngày 03/9/2015 cho anh Hoàng Trung L trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục đến khi đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Về việc cấp dưỡng nuôi con chung không đặt ra giải quyết.
Sau khi ly hôn, chị Q không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở theo quy định tại Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
3. Về án phí: Anh Hoàng Trung L phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng đã nộp tạm ứng án phí sơ thẩm theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0000191 ngày 18/11/2024 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang.
4. Về quyền kháng cáo:
- - Chị Lê Thị Q có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng (30 ngày) kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
- - Anh Hoàng Trung L có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Trung Thông |
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Trung Thông |
Bản án số 63/2025/HNGĐ-ST ngày 14/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG về tranh chấp ly hôn, nuôi con chung
- Số bản án: 63/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/03/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Hoàng Trung L ly hôn, tranh chấp nuôi con chung với Lê Thị Q
