Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TRẦN ĐỂ

TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 63/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 19 – 6 – 2025

"V/v tranh chấp Ly hôn và nuôi con"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN ĐỂ, TỈNH SÓC TRĂNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Hoàng.

Các Hội thẩm nhân dân:

  • 1/ Ông Trần Huy Tùng.
  • 2/ Bà Hà Ngân Kim Tới.

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Quốc Dũng – Cán bộ Tòa án nhân dân huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng.

Ngày 16 tháng 9 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng, tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 162/2025/TLST- HNGĐ ngày 29 tháng 4 năm 2025 về việc “Tranh chấp Ly hôn và nuôi con". Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 58/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 23 tháng 5 năm 2025, giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Bà Lâm Thị Sà K, sinh ngày 01/01/1985 (Vắng mặt).
  • Địa chỉ: Ấp Đ, xã L, huyện T, tỉnh S.
  • - Bị đơn: Ông Kim N, sinh ngày 01/01/1982 (Vắng mặt).
  • Địa chỉ: Ấp Đ, xã L, huyện T, tỉnh S.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, nguyên đơn bà Lâm Thị Sà K trình bày:

Bà Lâm Thị Sà K với ông Kim N kết hôn với nhau vào năm 2003 nhưng đến năm 2008 mới đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã L, huyện L (nay huyện T), tỉnh S cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 103 ngày 26/4/2008.

Thời gian đầu chung sống hạnh phúc nhưng được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống thường xuyên cãi vả. Cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc. Hai người ly thân từ năm 2020 đến nay.

Về con chung: Có ba con: Kim Kiện, sinh ngày 13/10/2003; Kim Thị Thanh T, sinh ngày 11/5/2006 và Kim T1, sinh ngày 03/6/2008. Hiện cháu K1 và cháu T đã có gia đình riêng. Còn cháu T1 đang sống cùng ông N.

Về tài sản chung: Tự thỏa thuận.

Về nợ chung: Không có.

Nay bà Lâm Thị Sà K yêu cầu Tòa án giải quyết:

  • - Về quan hệ hôn nhân: Yêu cầu được ly hôn với ông Kim N.
  • - Về con chung: Đồng ý giao Kim T1, sinh ngày 03/6/2008 cho ông N trực tiếp nuôi dưỡng. Bà K không phải cấp dưỡng nuôi con. Riêng Kim K1, sinh ngày 13/10/2003 và Kim Thị Thanh T, sinh ngày 11/5/2006 đã trưởng thành, có khả năng lao động, tự nuôi sống bản thân nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  • - Về tài sản chung: Tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  • - Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ông Kim N không có lời trình bày do vắng mặt:

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã ban hành thông báo thụ lý số 162/2025/TB-TLVA ngày 29 tháng 4 năm 2025, tống đạt hợp lệ cho bị đơn ông Kim N nhưng ông N không có văn bản trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của bà Lâm Thị Sà K. Tòa án đã tiến hành triệu tập hợp lệ hai lần đối với ông N để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng ông N đều vắng mặt không có lý do. Tòa án đã lập biên bản về việc vắng mặt ông N, không tiến hành hòa giải được và ông N cũng không có lời khai trong hồ sơ vụ án. Tòa án đưa vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

  1. Về tố tụng: Tại phiên tòa hôm nay ông Kim N và bà Lâm Thị Sà K vắng mặt nhưng nguyên đơn bà K có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết vắng mặt còn ông N thì vắng mặt lần thứ 2 không rõ lý do. Do đó căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án xét xử vắng mặt đối với các đương sự.
  2. Về nội dung: Nguyên đơn bà Lâm Thị Sà K vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện yêu cầu Toà án cho ly hôn với ông Kim N.
  3. Về quan hệ hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa bà Lâm Thị Sà K với ông Kim N là hôn nhân hợp pháp (hai người có đăng ký kết hôn). Sau khi kết hôn hai người chung sống hạnh phúc nhưng đến năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm trong cuộc sống vợ chồng. Hai người ly thân từ đó cho đến nay. Xét thấy tình trạng hôn nhân của hai người đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó bà K yêu cầu được ly hôn với ông N là có căn cứ được quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
  4. Về con chung: Kim Kiện, sinh ngày 13/10/2003; Kim Thị Thanh T, sinh ngày 11/5/2006 và Kim T1, sinh ngày 03/6/2008. Hiện cháu K1 và cháu T đã có gia đình riêng. Còn cháu T1 đang sống cùng ông N. Bà K đồng ý giao Kim T1, sinh ngày 03/6/2008 cho ông N trực tiếp nuôi dưỡng. Bà K không phải cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy yêu cầu của bà K phù hợp với Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Vì quyền lợi hợp pháp của con, Tòa án có thể thay đổi người nuôi con, giải quyết việc cấp dưỡng cho con theo quy định tại Điều 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

  1. Về cấp dưỡng nuôi con, tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
  2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Do bà K yêu cầu nên bà K phải chịu theo luật định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Điều 56, 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Tuyên xử:

  • - Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, bà Lâm Thị Sà K.
  • - Về hôn nhân: Bà Lâm Thị Sà K được quyền ly hôn với ông Kim N.
  • - Về con chung: Giao cháu Kim T1, sinh ngày 03/6/2008 cho ông Kim N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Bà Lâm Thị Sà K không phải cấp dưỡng nuôi con. Bà K có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Trường hợp bà K lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì ông N có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của bà K. Vì quyền lợi hợp pháp của con, Tòa án có thể thay đổi người nuôi con, giải quyết việc cấp dưỡng cho con theo quy định của pháp luật. Riêng Kim K1, sinh ngày 13/10/2003 và Kim Thị Thanh T, sinh ngày 11/5/2006 đã trưởng thành và có gia đình riêng nên không đặt ra xem xét, giải quyết.
  • - Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
  • - Về án phí dân sự sơ thẩm:
    • + Ông Kim N không phải phải nộp án phí.
    • + Bà Lâm Thị Sà K chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0000912 ngày 24/4/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng. Như vậy bà K đã nộp xong án phí.

Án sơ thẩm được xét xử công khai báo cho các đương sự biết có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử phúc thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND huyện Trần Đề;
  • - Chi cục THA huyện Trần Đề;
  • - TAND tỉnh Sóc Trăng (P.KTNV&THA);
  • - Các đương sự.
  • - UBND xã Liêu Tú, huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng;
  • - Lưu HSVA.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

(Đã ký)

Nguyễn Hoàng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 63/2025/HNGĐ-ST ngày 19/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN ĐỂ, TỈNH SÓC TRĂNG về tranh chấp ly hôn và nuôi con

  • Số bản án: 63/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Ly hôn và nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN ĐỂ, TỈNH SÓC TRĂNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bà K yêu cầu ly hôn với ông N
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger