Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN NINH PHƯỚC

TỈNH NINH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 63/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 18-6-2025

V/v: Ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH PHƯỚC, TỈNH NINH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Nguyễn Thanh Bình

Các Hội thẩm nhân dân: ông Lê Quang Chính và ông Phạm Ngọc Minh

- Thư ký phiên tòa: bà Vũ Trần Bảo Trân – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Phước tham gia phiên toà: bà Trần Thị Mai Lan - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 45/2025/TLST-HNGĐ, ngày 20/02/2025 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 52/2025/QĐXXST–HNGĐ, ngày 05/5/2025, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: bà Trần Thị H – Sinh năm: 1965 - Có mặt.

Bị đơn: ông Trần Bá Q – Sinh năm: 1960 – Vắng mặt.

Cùng địa chỉ: thôn P, xã P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1. Theo đơn khởi kiện ngày 19/02/2025 và tại phiên tòa nguyên đơn bà Trần Thị H trình bày:

Bà H và ông Q chung sống với nhau tự nguyện từ năm 1990, có tổ chức cưới hỏi. Quá trình chung sống có hai con chung là Trần Hoàng P – Sinh ngày 09/10/1991, Trần Hoàng T – Sinh ngày: 10/8/1993. Năm 2017, bà H và ông Q làm thủ tục đăng ký kết hôn theo giấy chứng nhận kết hôn số 66/2017 ngày 26/7/2017 của Ủy ban nhân dân xã P (giấy chứng nhận kết hôn đã thất lạc). Trong thời kỳ hôn nhân, vợ chồng chung sống không được hạnh phúc, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống cụ thể: ông Q có tính cách độc đoán, áp đặt ý chí buộc bà H phải làm theo dù bà không đồng ý. Từ đầu năm 2021 vợ chồng mâu thuẫn trầm trọng, bà H về nhà cha mẹ đẻ sinh sống, không còn chung sống cùng ông Q. Trong thời gian sống cách xa nhau đến nay, bà H và ông Q không còn quan tâm tới nhau, mạnh ai người đó sống. Bà H xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà H được ly hôn với ông Q. Đối với con chung đã trưởng thành, lao động tự tục được nên bà không có yêu cầu xem xét; tài sản chung, nợ chung vợ chồng sẽ tự thỏa thuận, trường hợp không thỏa thuận được bà sẽ khởi kiện bằng vụ kiện khác, không yêu cầu Tòa án giải quyết trong vụ án này.

2. Ý kiến của bị đơn đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

Bị đơn ông Trần Bá Q được Tòa án thông báo về việc khởi kiện nhưng không có văn bản trình bày ý kiến trình bày ý kiến về việc khởi kiện bà H. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập lấy lời khai, tham gia tố tụng tại phiên tòa sơ thẩm nhưng vắng mặt không có lý do nên không có ghi nhận được ý kiến.

3. Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Phước phát biểu về thủ tục tố tụng cũng như nội dung giải quyết vụ án được tóm tắt như sau:

Về thủ tục tố tụng: Tòa án xác định đúng quan hệ tranh chấp, thụ lý giải quyết vụ án đúng thẩm quyền. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, Thư ký đã tiến hành đúng các thủ tục tố tụng, đảm bảo đầy đủ quyền và lợi ích hợp pháp cho đương sự. Bị đơn vắng mặt đến lần thứ 2 không có lý do, không vì sự kiện bất khả khắng hoặc do trở ngại khách quan nên căn cứ Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự đề nghị xét xử vắng mặt bị đơn.

Về nội dung vụ án: Áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147; Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Các điều 51, 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016.

Chấp nhận cho bà H được ly hôn với ông Q và buộc bà H phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ kết quả tranh luận tại phiên Tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về thủ tục tố tụng:

Bị đơn ông Trần Bá Q vắng mặt đến lần thứ 2 không có lý do, không vì sự kiện bất khả kháng hoặc do trở ngại khách quan. Căn cứ Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án xét xử vắng mặt bị đơn.

[2]. Xét yêu cầu của bà Trần Thị H yêu cầu được ly hôn với ông Trần Bá Q thấy:

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án thực hiện tống đạt trực tiếp thông báo thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng khác, thông báo cho ông Q biết về việc bà H khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Q. Tuy nhiên, ông Q không có văn bản trình bày ý kiến phản đối về nội dung khởi kiện của bà H, không chấp hành giấy báo, giấy triệu tập của Tòa án.

Mặt khác, tại biên bản xác minh ngày 29/4/2025 về tình trạng hôn nhân của bà H và ông Q tại chính quyền địa phương nơi bà H và ông Q chung sống xác định bà H và ông Q hiện nay không còn chung sống với nhau, không quan quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ cùng nhau thực hiện các công việc trong gia đình.

Từ sự phân tích trên, căn cứ hướng dẫn tại khoản 3 Điều 4 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, có đủ căn cứ xác định tình trạng hôn nhân giữa bà H và ông Q đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, bà H yêu cầu ly hôn với ông Q là có căn cứ chấp nhận.

Bà H và ông Q có hai con chung là Trần Hoàng P – Sinh ngày 09/10/1991, Trần Hoàng T – Sinh ngày: 10/8/1993. Xét con chung đã trưởng thành, lao động tự túc được nên Tòa không xem xét.

Về tài sản chung, nợ chung trong thời kỳ hôn nhân: do các đương sự không có yêu cầu nên không xem xét.

[3]. Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí Ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật, số tiền án phí là 300.000 đồng nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

[4]. Quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Phước về việc chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và xử lý về án phí là phù hợp với quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các điều: 51, 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Xử:

  • - Chấp nhận cho bà Trần Thị H được ly hôn với ông Trần Bá Q.
  • - Về án phí: bà Trần Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí bà Trần Thị H đã đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ninh Phước theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0005164 ngày 21/02/2025, bà Trần Thị H đã nộp đủ án phí sơ thẩm.
  • - Quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm có mặt nguyên đơn, quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa tuyên án (ngày 18/6/2025). Bị đơn vắng mặt, quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Ninh Thuận;
  • - VKSND huyện Ninh Phước;
  • - Chi cục THADS huyện Ninh Phước;
  • - UBND xã Phước Vinh;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu HS, AV.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Nguyễn Thanh Bình

3

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 63/2025/HNGĐ-ST ngày 18/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH PHƯỚC, TỈNH NINH THUẬN về ly hôn

  • Số bản án: 63/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH PHƯỚC, TỈNH NINH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger