Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT

TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 63/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 16-6-2025

V/v: Ly hôn, tranh chấp nuôi con.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Văn Thiện.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Đặng Minh Lý.
  2. Bà Nguyễn Thị Hồng Thanh.

- Thư ký phiên toà: Bà Huỳng Thảo Vy – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Hoài - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 66/2025/TLST-HNGĐ ngày 27 tháng 02 năm 2025 về việc “Tranh chấp về ly hôn, nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 48/2025/QĐXXST-HNGĐ12/5/2025 và Quyết định hoãn phiên toà số 28/2025/QĐHPTST-HNGĐ29/5/2025, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Huỳnh Thị Thủy T, sinh năm 1983; địa chỉ: Số A đường Đ, tổ F, khu phố H, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt
  2. Bị đơn: Ông Nguyễn Thanh X, sinh năm 1973; địa chỉ: Số A đường Đ, tổ F, khu phố H, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Tại đơn khởi kiện, bản tự khai nguyên đơn là bà Huỳnh Thị Thủy T trình bày:

Bà Huỳnh Thị Thủy T và ông Nguyễn Thanh X kết hôn vào năm 2000, có đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 52/2000, Quyển số 01/2000 ngày 28/9/2000 tại UBND xã B, huyện P (nay là xã B, huyện P), tỉnh Bình Phước.

Thời gian đầu chung sống, vợ chồng cũng rất yêu thương, quan tâm lo lắng cho nhau, cuộc sống gia đình đầm ấm và hạnh phúc. Tuy nhiên trong thời gian chung sống, giữa vợ chồng phát sinh những bất đồng trong quan điểm, không có tiếng nói chung.

Bà T đã cố gắng chịu đựng và tìm mọi biện pháp để hàn gắn tình cảm vợ chồng vì con cái nhưng không được. Giờ đây bà T không còn tình cảm với chồng nữa. Bà T nhận thấy mục đích hôn nhân của bà T không đạt được, tình trạng hôn nhân ngày càng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài.

Vì vậy, bà Huỳnh Thị Thủy T yêu cầu cụ thể như sau đối với ông Nguyễn Thanh X như sau:

  • Về quan hệ hôn nhân: Bà Huỳnh Thị Thủy T yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Thanh X.
  • Về con chung: Quá trình chung sống, vợ chồng có 03 con chung gồm Nguyễn Thanh N, sinh ngày 07/6/2001; Nguyễn Thị Như Ý, sinh năm 16/4/2003 và Nguyễn Phú D, sinh ngày 23/02/2015. Sau khi ly hôn, cháu Nguyễn Phú D giao cho ông Nguyễn Thanh X trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng. Cháu Nguyễn Thanh N và cháu Nguyễn Thị Như Ý đã đủ 18 tuổi nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  • Về cấp dưỡng nuôi con chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  • Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Bị đơn là ông Nguyễn Thanh X vắng mặt không có lý do trong suốt quá trình giải quyết vụ án.

Ngoài những lời trình bày theo nội dung đơn khởi kiện, bản tự khai và các tài liệu do nguyên đơn nộp kèm theo đơn khởi kiện, nguyên đơn và bị đơn không cung cấp thêm tài liệu chứng cứ nào khác, bị đơn vắng mặt không có lý do.

Ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa:

Về thủ tục tố tụng: Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một thụ lý giải quyết vụ án đúng thẩm quyền, đảm bảo thời hạn chuẩn bị xét xử. Quá trình điều tra, việc thu thập chứng cứ, hòa giải, tiếp cận công khai chứng cứ và tống đạt văn bản tố tụng được Tòa án thực hiện đúng quy định. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Bị đơn vắng mặt đến lần thứ hai tại phiên tòa không có lý do. Vì vậy, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với nguyên đơn và bị đơn là phù hợp với quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung: Bà T và ông X chung sống như vợ chồng và có tiến hành đăng ký kết hôn với nhau theo quy định. Nay do mâu thuẫn đã trầm trọng, hai vợ chồng không còn quan tâm chăm sóc lẫn nhau, nguyên đơn xác định không còn tình cảm vợ chồng, bị đơn đã được triệu tập hợp lệ để tham gia các phiên họp, hòa giải và xét xử nhưng vắng mặt không có lý do, điều đó cho thấy bản thân ông X không có thiện chí trong việc hòa giải hàn gắn hạnh phúc gia đình. Vì vậy, yêu cầu về việc xin ly hôn của bà T đối với ông X là có căn cứ chấp nhận.

2

Về con chung, bà T và ông X có 03 con chung gồm Nguyễn Thanh N, sinh ngày 07/6/2001; Nguyễn Thị Như Ý, sinh năm 16/4/2003 và Nguyễn Phú D, sinh ngày 23/02/2015. Sau khi ly hôn, bà Tiên đồng Ý1 giao cháu Nguyễn Phú D cho ông Nguyễn Thanh X trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng, do cháu D có nguyện vọng được chung sống cùng cha. Cháu Nguyễn Thanh N và cháu Nguyễn Thị Như Ý đã đủ 18 tuổi nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về tài sản chung và nợ chung, các đương sự không yêu cầu nên không đặt ra xem xét.

Từ những phân tích trên, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với bị đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng: Yêu cầu khởi kiện bà Huỳnh Thị Thủy T là loại việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Do bị đơn là ông Nguyễn Thanh X có địa chỉ cư trú tại thành phố T, tỉnh Bình Dương nên căn cứ quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, thẩm quyền giải quyết vụ án thuộc Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương.

[2] Nguyên đơn bà Huỳnh Thị Thủy T có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Bị đơn ông Nguyễn Thanh X đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến tham gia các phiên họp, hòa giải và xét xử vụ án. Tuy nhiên, ông Nguyễn Thanh X vắng mặt không có lý do. Vì vậy, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với nguyên đơn, bị đơn là phù hợp với quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[3] Về quan hệ hôn nhân: Bà Huỳnh Thị Thủy T và ông Nguyễn Thanh X tự nguyện kết hôn và có đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 52/2000, Quyển số 01/2000 ngày 28/9/2000 tại UBND xã B, huyện P (nay là xã B, huyện P), tỉnh Bình Phước, được pháp luật công nhận là hôn nhân hợp pháp. Trong quá trình chung sống, vợ chồng phát sinh những bất đồng trong quan điểm, không có tiếng nói chung và không còn quan tâm lẫn nhau. Hiện nay, bà T xác định không còn tình cảm với chồng là ông X. Bản thân ông X đã được triệu tập nhiều lần đến tham gia hoà giải, phiên tòa nhưng vắng mặt không có lý do. Theo Biên bản xác minh ngày 15/5/2025 của Tòa án tại địa phương nơi bà T và ông X đang sinh sống cho biết vợ chồng bà T và ông X thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, cải vã và có trình báo chính quyền địa phương. Do đó, đủ cơ sở xác định mâu thuẫn vợ chồng giữa ông X và bà T là có thật và đã trầm trọng, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, bà T yêu cầu ly hôn với ông X là có cơ sở chấp nhận theo quy định tại Điều 51 và Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình.

[4] Về con chung: Quá trình chung sống, bà Huỳnh Thị Thủy T và ông Nguyễn Thanh X có 03 con chung gồm Nguyễn Thanh N, sinh ngày 07/6/2001; Nguyễn Thị Như Ý, sinh năm 16/4/2003 và Nguyễn Phú D, sinh ngày 23/02/2015. Sau khi ly hôn, bà Tiên đồng Ý1 giao cháu Nguyễn Phú D cho ông Nguyễn Thanh X trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng, do cháu D có nguyện vọng được chung sống cùng cha. Vì vậy, việc giao con chung cho ông X nuôi dưỡng là phù hợp. Cháu Nguyễn Thanh N và cháu Nguyễn Thị Như Ý đã đủ 18 tuổi nên Tòa án không xem xét giải quyết.

3

[5]. Về cấp dưỡng nuôi con: Các đương sự không yêu cầu nên Tòa án không xem xét.

[6] Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên Tòa án không xem xét.

[7] Ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.

[8] Từ các nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử nhận thấy có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Huỳnh Thị Thủy T đối với bị đơn ông Nguyễn Thanh X về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con”.

[9] Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Huỳnh Thị Thủy T phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • Các Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình;
  • Các Điều 28, 35, 39, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
  • Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/NQ-UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Huỳnh Thị Thủy T đối với bị đơn ông Nguyễn Thanh X về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con”.

  • - Về quan hệ hôn nhân: Bà Huỳnh Thị Thủy T được ly hôn với ông Nguyễn Thanh X.
  • - Về con chung: Có 03 con chung gồm Nguyễn Thanh N, sinh ngày 07/6/2001; Nguyễn Thị Như Ý, sinh năm 16/4/2003 và Nguyễn Phú D, sinh ngày 23/02/2015. Giao con chung Nguyễn Phú D cho ông Nguyễn Thanh X trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng. Các con chung Nguyễn Thanh N và Nguyễn Thị Như Ý đã đủ 18 tuổi nên Tòa án không xem xét giải quyết.
  • - Về cấp dưỡng nuôi con chung: Các đương sự không yêu cầu nên Tòa án không xem xét.

Bà Huỳnh Thị Thủy T và ông Nguyễn Thanh X đều có quyền và nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con theo quy định của pháp luật. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Trường hợp người không trực tiếp nuôi con lạm dụng quyền thăm nom con để gây cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc chăm sóc, giáo dục con chung thì người đang trực tiếp nuôi có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Vì lợi ích của con chưa thành niên, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con khi có đơn yêu cầu.

2. Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên Tòa án không xem xét.

3. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Huỳnh Thị Thủy T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), được khấu trừ vào 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) đã nộp tạm ứng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0009144 ngày 12/02/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương.

4. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND TP. Thủ Dầu Một;
  • - Chi cục THADS TP. Thủ Dầu Một;
  • - Các đương sự (02);
  • - Lưu: VT, HS (02).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Văn Thiện

5

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 63/2025/HNGĐ-ST ngày 16/06/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT, TỈNH BÌNH DƯƠNG về ly hôn, tranh chấp nuôi con.

  • Số bản án: 63/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con.
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT, TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger