|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 63/2025/HNGĐ-ST Ngày: 16-4-2025 V/v: Xin ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Hà Ngân
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Bùi Văn Hồng
Ông Nguyễn Tất Thể
Thư ký phiên tòa: Ông Lê Nguyễn Hoàng Đức – Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên toà:
Bà Phạm Thị Hòa - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 4 năm 2025, tại Hội trường xét xử Toà án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình sơ thẩm thụ lý số 30/2025/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 02 năm 2025 về việc “Xin ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 52/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 25 tháng 3 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 52/2025/QĐST-HNGĐ ngày 09 tháng 4 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Nguyễn Tuấn A, sinh năm: 1982; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: thôn N, xã C, huyện N, tỉnh Hà Tĩnh; (Có đơn xin xét xử vắng mặt)
- Bị đơn: Chị Phan Thị S, sinh năm: 1983; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú trước khi xuất cảnh: thôn N, xã C, huyện N, tỉnh Hà Tĩnh; Hiện đang lao động tự do tại Tây Ban Nha. (Có ý kiến xin xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo nội dung đơn khởi kiện và lời khai có trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn anh Nguyễn Tuấn A trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Tuấn A và chị Phan Thị S kết hôn trên tinh thần tự nguyện, có tổ chức lễ cưới, đăng ký kết hôn vào ngày 12/6/2009 tại Ủy ban nhân dân xã C, huyện N, tỉnh Hà Tĩnh. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc tại địa phương. Cuối năm 2017, chị S đi xuất khẩu lao động tại Tây Ban Nha. Đến khoảng năm 2023 thì vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm, không có tiếng nói chung, thường xuyên xảy ra cãi vã. Vợ chồng sinh sống xa cách nhau nên không còn tình cảm, không còn quan tâm, trách nhiệm gì với nhau. Nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, mâu thuẫn không thể hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được nên anh Nguyễn Tuấn A làm đơn khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn với chị Phan Thị S.
- Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân, vợ chồng có một con chung là cháu Nguyễn Tuấn D, sinh ngày: 22/05/2010. Khi ly hôn, vợ chồng thống nhất giao con chung cho chị Phan Thị S được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi con chung đủ tuổi thành niên. Trong thời gian chị S ở nước ngoài, vợ chồng thống nhất việc chị S sẽ nhờ bố mẹ đẻ của chị S chăm sóc, nuôi dưỡng con chung.
Vợ chồng tự thỏa thuận về việc cấp dưỡng, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tòa án đã tiến hành đăng tin trên kênh của Ban Đối ngoại (VOV5) Đ trong ba ngày liên tiếp 20, 21, 22/02/2025 để thông báo cho chị Phan Thị S có mặt tại Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh tham gia giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên hết thời hạn được thông báo, chị S không có mặt tại Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành làm việc với chị Phan Thị S thông qua cuộc gọi video có hình ảnh với tài khoản Facebook của chị S là “Nguyễn Tuấn D” (do ông Phan Thanh C là bố đẻ của chị S cung cấp thông tin) tại Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh. Tại buổi làm việc, bị đơn chị Phan Thị S trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Phan Thị S thống nhất về nội dung trình bày của anh Nguyễn Tuấn A về việc kết hôn, quá trình chung sống và phát sinh mâu thuẫn. Chị S đồng ý với yêu cầu xin ly hôn của anh Tuấn A, đề nghị Tòa án giải quyết cho chị S và anh Tuấn A được ly hôn.
- Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân, vợ chồng có một con chung là cháu Nguyễn Tuấn D, sinh ngày: 22/05/2010. Khi ly hôn, vợ chồng thống nhất sẽ đề nghị Tòa án giao cháu D cho chị S được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Trong thời gian chị S đi xuất khẩu lao động, chị S sẽ nhờ bố mẹ đẻ là ông Phan Thanh C và bà Lê Thị L chăm sóc, nuôi dưỡng con chung cho đến khi chị S về Việt Nam. Việc cấp dưỡng do vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Chị S trình bày đang lao động tại Tây Ban Nha, không thể về Việt Nam giải quyết ly hôn, không cung cấp được địa chỉ tại Tây Ban Nha cho Tòa án. Chị S xin được vắng mặt trong toàn bộ quá trình Tòa án giải quyết vụ án và ủy quyền cho bố đẻ là ông Phan Thanh C thay chị S thực hiện việc giao nhận các tài liệu, văn bản tố tụng với Tòa án. Quá trình làm việc, ông Phan Thanh C đồng ý việc ủy quyền giao nhận tài liệu, văn bản của chị Phan Thị S, cam kết sẽ thông báo lại kịp thời nội dung các tài liệu, văn bản tố tụng của Tòa án để chị S được biết. Bên cạnh đó, ông C cũng tự nguyện thay chị S chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Nguyễn Tuấn D cho đến khi chị S về Việt Nam.
Quá trình Tòa án giải quyết, cháu Nguyễn Tuấn D có đơn trình bày nguyện vọng về việc nếu vợ chồng anh Nguyễn Tuấn A và chị Phan Thị S ly hôn thì cháu D có nguyện vọng được sống với mẹ.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh sau khi nhận xét việc chấp hành pháp luật của Thẩm phán, Thư ký và các đương sự đã phân tích nội dung vụ việc, các vấn đề đương sự đã thỏa thuận thống nhất được với nhau và đề nghị Tòa án áp dụng: Áp dụng Điều 51, 55, 57, 81, 82, 83, 123 Luật hôn nhân và gia đình 2014; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 37, 39, 147, 227, 228, 238, 266, 271, 273, 464, 469, 479 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015; Điều 3, 10, 11 Nghị Quyết 01/2024 ngày 16/5/2024 của Hội đồng thẩm phán tòa án nhân dân tối cao về hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ án hôn nhân gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH quy định về mức thu miễn giảm thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí và lệ phí, giải quyết:
Công nhận thuận tình ly hôn giữa anh Nguyễn Tuấn A và chị Phan Thị S.
Về con chung: Ghi nhận sự thỏa thuận của vợ chồng, giao 01 con chung là cháu Nguyễn Tuấn D, sinh ngày: 22/05/2010 cho chị Phan Thị S trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi con chung đủ tuổi thành niên. Việc cấp dưỡng nuôi con do vợ chồng tự thỏa thuận.
Về nợ chung, tài sản chung: Không yêu cầu nên không xem xét.
Về án phí: Ghi nhận sự tự nguyện của anh Nguyễn Tuấn A về việc tự nguyện chịu án phí sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có tại hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến trình bày của đương sự và đại diện Viện kiểm sát; Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về tố tụng:
[1.1]. Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Anh Nguyễn Tuấn A và chị Phan Thị S đăng ký kết hôn ngày 12/6/2009 tại Ủy ban nhân dân xã C, huyện N, tỉnh Hà Tĩnh. Nay anh Nguyễn Tuấn A khởi kiện yêu cầu được ly hôn với chị Phan Thị S. Tại công văn cung cấp thông tin xuất nhập cảnh số 270/QLXNC-Đ1 ngày 17/3/2025 của Phòng Q – Công an tỉnh H, xác nhận: Chị Phan Thị S, sinh ngày 19/12/1983; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: xã C, huyện N, tỉnh Hà Tĩnh đã xuất cảnh lần gần đây nhất vào ngày 16/10/2023, hiện chưa có thông tin nhập cảnh về nước. Căn cứ các Điều 28, 37, 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự; nội dung khởi kiện của nguyên đơn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh.
[1.2]. Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn anh Nguyễn Tuấn A có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Bị đơn chị Phan Thị S hiện đang sinh sống, lao động tự do tại Tây Ban Nha, không cung cấp được địa chỉ và thuộc trường hợp bị đơn cố tình dấu địa chỉ. Mặc dù đã được Tòa án thông báo làm việc, triệu tập hợp lệ theo quy định của pháp luật nhưng chị S không có mặt tại Tòa án để tham gia giải quyết vụ án và vắng mặt lần thứ hai tại phiên tòa. Căn cứ Điều 227, 228, 238 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 10 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao; Tòa án tiến hành mở phiên tòa xét xử vắng mặt anh Tuấn A, chị S theo thủ tục chung.
[2]. Về nội dung:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Tuấn A và chị Phan Thị S tự do tìm hiểu, kết hôn trên tinh thần tự nguyện vào năm 2009, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã C, huyện N, tỉnh Hà Tĩnh cấp giấy chứng nhận kết hôn. Căn cứ quy định tại Điều 8, 9 Luật Hôn nhân và gia đình, hôn nhân của anh Tuấn A và chị S là hợp pháp. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc tại địa phương. Cuối năm 2017, chị S đi xuất khẩu lao động tại Tây Ban Nha. Đến khoảng năm 2023 thì vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm, không có tiếng nói chung, thường xuyên xảy ra cãi vã. Vợ chồng sinh sống xa cách nhau nên không còn tình cảm, không còn quan tâm, trách nhiệm gì với nhau. Nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, mâu thuẫn không thể hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được nên anh Nguyễn Tuấn A làm đơn khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn với chị Phan Thị S. Chị Phan Thị S thống nhất về nội dung trình bày của anh Nguyễn Tuấn A về việc kết hôn, quá trình chung sống và phát sinh mâu thuẫn; thừa nhận tình cảm vợ chồng không còn nữa nên việc anh Tuấn A xin ly hôn thì chị S cũng đồng ý.
Xét thấy mâu thuẫn giữa anh Tuấn A và chị S là có xảy ra trên thực tế và đã trầm trọng, vợ chồng không còn quan tâm, trách nhiệm gì đến nhau, mục đích hôn nhân không đạt được; anh Tuấn A và chị S đều có ý kiến đề nghị Tòa án giải quyết cho vợ chồng ly hôn. Do đó, căn cứ Điều 51, 55 Luật Hôn nhân và gia đình, công nhận thuận tình ly hôn giữa anh Nguyễn Tuấn A và chị Phan Thị S.
[2.2] Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân, vợ chồng có 01 con chung là cháu Nguyễn Tuấn D, sinh ngày: 22/05/2010. Cả anh Tuấn A và chị S đều thống nhất giao con chung cho chị Phan Thị S trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi con đủ tuổi thành niên. Bản thân cháu Nguyễn Tuấn D cũng có đơn trình bày ý kiến với nội dung nếu bố mẹ ly hôn thì cháu muốn được ở với mẹ. Xét thấy việc thỏa thuận của hai vợ chồng và ý kiến của cháu D là tự nguyện nên Tòa án ghi nhận sự thỏa thuận này cũng như ý kiến của cháu D. Căn cứ quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân gia đình, giao con chung là cháu Nguyễn Tuấn D, sinh ngày: 22/05/2010 cho chị Phan Thị S trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi con đủ tuổi thành niên là phù hợp với quy định của pháp luật và sự thỏa thuận, ý kiến của các bên.
Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Vợ chồng không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
[2.3]. Về tài sản chung, nợ chung: Vợ chồng không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
[3]. Về án phí và quyền kháng cáo: Ghi nhận sự tự nguyện của nguyên đơn anh Nguyễn Tuấn A về việc tự nguyện chịu án phí sơ thẩm; Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 37, 39, 147, 227, 228, 238, 266, 271, 273, 464, 469, 479 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;
Căn cứ các Điều 8, 9, 51, 55, 57, 81, 82, 83, 123 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ Điều 26, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;
Điều 3, Điều 10, điểm a khoản 2 Điều 11 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao.
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Công nhận thuận tình ly hôn giữa anh Nguyễn Tuấn A và chị Phan Thị S.
-
Về con chung: Ghi nhận sự thỏa thuận của vợ chồng, giao con chung là cháu Nguyễn Tuấn D, sinh ngày: 22/05/2010 cho chị Phan Thị S trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi con chung đủ tuổi thành niên.
Anh Nguyễn Tuấn A có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở.
- Về án phí: Ghi nhận sự tự nguyện của nguyên đơn anh Nguyễn Tuấn A về việc tự nguyện chịu 150.000 đồng án phí sơ thẩm. Anh Nguyễn Tuấn A được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo Giấy thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số [...] ngày 18/02/2025 ký bởi Công ty Cổ phần T; trả lại cho anh Tuấn A số tiền 150.000 đồng.
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật, bị đơn vắng mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo trong hạn 01 tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
THAY MẶT HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Hà Ngân |
6
Bản án số 63/2025/HNGĐ-ST ngày 16/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH về xin ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 63/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Xin ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/04/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Cho ly hôn
