Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN MƯỜNG LA

TỈNH SƠN LA

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

—————————

Bản án số: 63/2025/HNGĐ-ST

Ngày 11-6-2025.

V/v: Ly hôn giữa chị Thương và anh Hà.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG LA, TỈNH SƠN LA

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Minh Tuấn.

Các Hội thẩm nhân dân:

  • 1 – Ông Quàng Văn Mầng.
  • 2 – Ông Lò Văn Khẹt.

Thư ký phiên toà: Ông Quàng Công Thành – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mường La, tỉnh Sơn La.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường La tham gia phiên tòa: Ông Lò Văn Khuyên – Kiểm sát viên.

Ngày 11/6/2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mường La, tỉnh Sơn La, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 88/2025/TLST–HNGĐ ngày 18 tháng 4 năm 2025 về việc: Tranh chấp ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 111/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 5 năm 2025, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Chị Lò Thị T, sinh 1991, trú tại: Bản T, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La. Có đề nghị xử vắng mặt.
  2. Bị đơn: Anh Lò Văn H, sinh 1986, trú tại: Bản T, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La. Hiện đang chấp hành án phạt tù tại Phân trại số 2, đội số 27 thuộc Trại giam N, Cục C2, Bộ C3. Địa chỉ: Thị Trấn B, huyện K, tỉnh Hà Nam. Có đề nghị xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 14/4/2025 và trong quá trình xét xử nguyên đơn chị Lò Thị T trình bày:

Chị và anh Lò Văn H kết hôn trên cơ sở tự nguyện, ngày 05/02/2009 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã C, huyện M, tỉnh Sơn La. Cuộc sống chung hạnh phúc đến năm 2019 phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do anh Lò Văn H nghiện ma túy và dẫn đến phạm tội. Hiện đang chấp hành án phạt tù tại đội số 27, Phân trại số B, Trại giam N. Từ đó hai người sống không quan tâm đến cuộc sống của nhau. Chị Lò Thị T xác định tình cảm vợ chồng không còn, yêu cầu được ly hôn anh Lò Văn H.

Về con chung: Có hai con là Lò Mạnh C, sinh ngày 01/10/2008 và Lò Thị Hồng D, sinh ngày 18/7/2010. Chị có nguyện vọng nuôi hai con trong thời gian anh đi tù và anh không phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, riêng, nợ: Đều không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn anh Lò Văn H trình bày: Anh xác nhận quan hệ hôn nhân giữa chị Lò Thị T và anh Lò Văn H. Xác nhận nguyên nhân mâu thuẫn phù hợp với lời khai của nguyên đơn chị Lò Thị T. Công nhận nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng không khắc phục được và nhất trí ly hôn.

Về con chung: Có hai con là Lò Mạnh C, sinh ngày 01/10/2008 và Lò Thị Hồng D, sinh ngày 18/7/2010. Anh xác nhận hiện nay chị Lò Thị T đang nuôi con, nhất trí để chị Lò Thị T nuôi con và anh không phải cấp dưỡng.

Về tài sản chung, riêng, nợ: Đều không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ý kiến của Kiểm sát viên: Việc áp dụng pháp luật tố tụng dân sự của Thẩm phán và Hội đồng xét xử đúng quy định.

Về nội dung:

Căn cứ khoản 1 Điều 56; các Điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình; Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về Án phí, Lệ phí Toà án:

Có căn cứ xử cho chị Lò Thị T được ly hôn anh Lò Văn H.

Về con chung: Giao hai con là Lò Mạnh C, sinh ngày 01/10/2008 và Lò Thị Hồng D, sinh ngày 18/7/2010 cho chị Lò Thị T trực tiếp nuôi dưỡng. Anh Lò Văn H không phải cấp dưỡng.

Về tài sản chung, riêng, nợ: Đều không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Chị Lò Thị T là người dân tộc thiểu số cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn được miễn án phí dân sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên toà, căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên toà và các quy định của pháp luật. Tòa án phân tích, đánh giá, nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Bị đơn anh Lò Văn H sau khi được thông báo về việc thụ lý vụ án, đã khai trình bầy nguyện vọng, anh Lò Văn H đã được cấp tống đạt các văn bản tố tụng và đã được triệu tập xét xử hợp lệ có xác nhận của Trại giam N. Các đương sự đều có đề nghị xử vắng mặt, căn cứ quy định của Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự có đủ căn cứ xử vắng mặt các đương sự.

[2] Về quan hệ hôn nhân và mâu thuẫn vợ chồng: Chị Lò Thị T và anh Lò Văn H kết hôn có đăng ký, có tìm hiểu, tự nguyện là đúng pháp luật. Cuộc sống chung hoà thuận thời gian đầu, mâu thuẫn vợ chồng chủ yếu do anh Lò Văn H không chăm lo xây dựng gia đình, có nghiện ma túy và dẫn đến phạm tội. Hai người sống ly thân từ năm 2019 đến nay không quan tâm đến cuộc sống của nhau.

Xét thấy: Mâu thuẫn vợ chồng chị Lò Thị T và anh Lò Văn H đã được gia đình và chính quyền khuyên giải, đã kéo dài, trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Mâu thuẫn vợ chồng không khắc phục được là có căn cứ. Nay chị Lò Thị Thương yêu C1 được ly hôn là có căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình. Cần chấp nhận xử cho chị Lò Thị T được ly hôn anh Lò Văn H.

[3] Về con chung: Có hai con là Lò Mạnh C, sinh ngày 01/10/2008 và Lò Thị Hồng D, sinh ngày 18/7/2010. Hiện nay chị Lò Thị T đang nuôi con, có nguyện vọng xin được nuôi con, đồng thời đúng nguyện vọng của hai con đều muốn ở với mẹ và chị không yêu cầu anh Lò Văn H cấp dưỡng nuôi con. Cần chấp nhận giao hai con cho chị Lò Thị T trực tiếp nuôi dưỡng, anh Lò Văn H không phải cấp dưỡng nuôi con, theo quy định của các Điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình.

[4] Về tài sản chung, riêng, nợ: Đều không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Chị Lò Thị T là người dân tộc thiểu số cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn được miễn án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 56; các Điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình; Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về Án phí, Lệ phí Toà án:

  1. Xử cho chị Lò Thị T được ly hôn anh Lò Văn H.
  2. Về con chung: Giao hai con là Lò Mạnh C, sinh ngày 01/10/2008 và Lò Thị Hồng D, sinh ngày 18/7/2010 cho chị Lò Thị T trực tiếp nuôi dưỡng. Anh Lò Văn H không phải cấp dưỡng nuôi con.

Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con, không ai được cản trở người đó thực hiện quyền này, không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con.

  1. Về tài sản chung, riêng, nợ: Đều không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  2. Về án phí: Chị Lò Thị T được miễn án phí dân sự sơ thẩm.

Chị Lò Thị T, anh Lò Văn H được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Sơn La;
  • - VKSND huyện Mường La (2);
  • - Chi cục THADS huyện Mường La;
  • - UBND xã Chiềng Hoa, huyện Mường La (để vào sổ hộ tịch);
  • - Các đương sự (2);
  • - Lưu: Hồ sơ, án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

(Ký tên, ghi rõ họ tên, đóng dấu)

Nguyễn Minh Tuấn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 63/2025/HNGĐ-ST ngày 11/06/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG LA, TỈNH SƠN LA về ly hôn

  • Số bản án: 63/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG LA, TỈNH SƠN LA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bản án hôn nhân gia đình số 63, ngày 11/6/2025
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger