|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỎ CÀY BẮC TỈNH BẾN TRE |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 63/2025/HNGĐ-ST.
Ngày: 10-6-2025.
V/v: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỎ CÀY BẮC, TỈNH BẾN TRE
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Nguyên.
Các Hội thẩm nhân dân:
+ Bà Phạm Thị Thu Vân.
+ Ông Nguyễn Thanh Vũ.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trường Thịnh - Thư ký Tòa án nhân
dân huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre
tham gia phiên tòa: Ông Phan Trọng Thế - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre, Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 76/2025/TLST-HNGĐ ngày 25 tháng 3 năm 2025 về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 112/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 5 năm 2025, Quyết định hoãn phiên tòa số: 84/2025/QĐST-HNGĐ ngày 27 tháng 5 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Võ Văn T - Sinh năm: 1986, địa chỉ: Ấp H, xã H, huyện M, tỉnh Bến Tre (vắng mặt).
- Bị đơn: Chị Trương Thị Thùy D - Sinh năm: 1994; địa chỉ nơi đăng ký thường trú: Ấp H, xã H, huyện M, tỉnh Bến Tre; địa chỉ nơi cư trú: Ấp T, xã T, huyện M, tỉnh Bến Tre (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là anh T trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị D kết hôn vào năm 2011, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện M, tỉnh Bến Tre vào ngày 16/3/2011 và đã được cấp giấy chứng nhận kết hôn, việc kết hôn là hoàn toàn tự nguyện. Sau khi kết hôn, anh và chị D chung sống hạnh phúc đến năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn làm cho cuộc sống chung không còn hạnh phúc mà nguyên nhân chủ yếu là do bất đồng quan điểm sống. Anh và chị D đã sống ly thân từ năm 2023 cho đến nay. Cho rằng hôn nhân không còn hạnh phúc, không thể đoàn tụ để tiếp tục cuộc sống chung của vợ chồng nên anh T yêu cầu được ly hôn với chị D, không yêu cầu cấp dưỡng giữa vợ chồng khi ly hôn.
Về con chung: Anh và chị D có hai người con chung là: Võ Trung H - Sinh ngày 13/02/2011 và Võ Thị Diệu H1 - Sinh ngày 16/8/2014 (hiện hai người con đang sống chung với anh T). Khi ly hôn, anh T yêu cầu được quyền nuôi con, không yêu cầu chị D cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Anh T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Anh T trình bày là không có.
Bị đơn là chị Trương Thị Thùy D vắng mặt trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, không gửi cho Tòa án văn bản trình bày ý kiến về các vấn đề có liên quan đến vụ án.
Tại phiên tòa:
Anh T, chị D vắng mặt tại phiên tòa sơ thẩm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre phát biểu: Thẩm phán thụ lý, giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên toà thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Nguyên đơn thực hiện đúng các quyền, nghĩa vụ theo quy định tại các điều 70, 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Bị đơn chưa thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, Điều 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Về việc giải quyết vụ án: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ vào các điều 21, 28, 35, 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; các điều 56, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Cụ thể:
(1) Về quan hệ hôn nhân: Anh Võ Văn T được ly hôn với chị Trương Thị Thùy D.
(2) Về con chung: Giao cho anh T được quyền tiếp tục, trực tiếp nuôi hai người con chung giữa anh với chị D là: Võ Trung H - Sinh ngày 13/02/2011 và Võ Thị Diệu H1 - Sinh ngày 16/8/2014 (hiện đang sống chung với anh T); chị D không phải cấp dưỡng nuôi con.
(3) Về cấp dưỡng giữa vợ chồng khi ly hôn, về tài sản chung, về nợ chung: Không xem xét, giải quyết do không có yêu cầu.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Anh T có đơn khởi kiện về việc ly hôn, tranh chấp nuôi con với chị D có địa chỉ cư trú tại ấp T, xã T, huyện M, tỉnh Bến Tre. Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, xác định đây là vụ án hôn nhân gia đình về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre.
[2] Chị D vắng mặt tại phiên hòa giải vào ngày 18/4/2025, đồng thời anh T có đơn đề nghị không hòa giải nên vụ án thuộc trường hợp không hòa giải được theo quy định tại Điều 207 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Anh T có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, chị D đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai nên Tòa án xét xử vắng mặt anh T, chị D theo quy định tại Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[3] Về quan hệ hôn nhân:
[3.1] Anh T, chị D có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện M, tỉnh Bến Tre vào năm 2011, việc kết hôn là hoàn toàn tự nguyện, phù hợp với quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình nên được công nhận.
[3.2] Trên cơ sở lời trình bày của anh T, biên bản xác minh nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, xác định được anh T, chị D có phát sinh mâu thuẫn, đã sống ly thân từ năm 2023 cho đến nay, giữa anh chị không còn sự quan tâm, chăm sóc lẫn nhau, chị D không có mặt tại Tòa án để tham gia phiên hòa giải nhằm mục đích đoàn tụ, từ đó cho thấy quan hệ hôn nhân giữa anh T với chị D đã đến mức trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên chấp nhận yêu cầu của anh T về việc ly hôn với chị D theo quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
[4] Về con chung: Anh T yêu cầu được quyền nuôi hai người con chung giữa anh với chị D là: Võ Trung H - Sinh ngày 13/02/2011 và Võ Thị Diệu H1 - Sinh ngày 16/8/2014, không yêu cầu chị D cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy, chị D vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án, cũng không gửi cho Tòa án văn bản có yêu cầu về việc nuôi con, trong khi đó cháu H, cháu H1 đang sống chung với anh T, tại biên bản hỏi ý kiến của người con từ đủ bảy tuổi trở lên trong vụ án hôn nhân và gia đình ngày 18/4/2025 thì cháu H, cháu H1 có nguyện vọng muốn được tiếp tục sống chung với anh T nên giao cho anh T tiếp tục nuôi hai người con chung này theo quy định tại Điều 81 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014. Anh T không yêu cầu chị D cấp dưỡng nuôi con nên chị D không phải cấp dưỡng nuôi con.
[5] Về cấp dưỡng giữa vợ chồng khi ly hôn, về tài sản chung, về nợ chung: Anh T không yêu cầu Tòa án giải quyết về cấp dưỡng giữa vợ chồng khi ly hôn, về tài sản chung và trình bày là không có nợ; chị D vắng mặt và không có văn bản yêu cầu gì về cấp dưỡng giữa vợ chồng khi ly hôn, về tài sản chung, nợ chung. Đồng thời Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre cũng không nhận được đơn yêu cầu giải quyết về nợ có liên quan đến vụ án nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[6] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
[7] Về án phí dân sự sơ thẩm: Anh T là người khởi kiện yêu cầu ly hôn nên anh phải chịu 300.000VNĐ (ba trăm ngàn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các điều 56, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; các điều 5, 147, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án; tuyên: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Võ Văn T, cụ thể:
-
1/ Về quan hệ hôn nhân: Anh Võ Văn T được ly hôn với chị Trương Thị Thùy D.
-
2/ Về con chung:
Anh Võ Văn T được quyền tiếp tục trực tiếp nuôi hai người con chung giữa anh với chị Trương Thị Thùy D là: Võ Trung H - Sinh ngày 13/02/2011 và Võ Thị Diệu H1 - Sinh ngày 16/8/2014 (hiện hai người con đang sống chung với anh T) cho đến khi các người con này đủ mười tám tuổi. Chị Trương Thị Thùy D không phải cấp dưỡng nuôi con do anh T không yêu cầu.
Chị D có quyền thăm nom con mà không ai được cản trở chị thực hiện quyền này. Trường hợp chị D lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con thì anh T có quyền làm đơn yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của chị D.
Vì lợi ích của con chung, anh T, chị D hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình có quyền làm đơn yêu cầu Tòa án quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.
-
3/ Về việc cấp dưỡng giữa vợ chồng khi ly hôn, về tài sản chung, về nợ chung: Không xem xét, giải quyết do không có yêu cầu.
-
4/ Về án phí dân sự sơ thẩm: Anh Võ Văn T phải chịu 300.000VNĐ (ba trăm ngàn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn; nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là: 300.000VNĐ (ba trăm ngàn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số 0009349 ngày 25 tháng 3 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre; anh T đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
-
5/ Về quyền kháng cáo: Anh Võ Văn T, chị Trương Thị Thùy D vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre giải quyết lại vụ án theo thủ tục phúc thẩm./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Văn Nguyên |
Bản án số 63/2025/HNGĐ-ST ngày 10/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỎ CÀY BẮC, TỈNH BẾN TRE về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 63/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỎ CÀY BẮC, TỈNH BẾN TRE
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con giữa Võ Văn T - Trương Thị Thùy D
