Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐỨC HÒA

TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:

63/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 03 - 4 - 2025.

V/v tranh chấp “Ly hôn”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Cương.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Chí Lin
  2. Bà Trần Thị Đổi

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lệ Quân - là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.

Ngày 03 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 63/2025/TLST-HNGĐ ngày 16 tháng 01 năm 2025 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 57/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 26 tháng 02 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 37/2025/QĐST-HNGĐ ngày 17 tháng 3 năm 2025 giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Bà Hồ Sám M, sinh năm 1988.
  • Địa chỉ: Ấp T, xã S, huyện T, tỉnh Đồng Nai.
  • Tạm trú: Ấp M, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An.
  • - Bị đơn: Ông Đặng Minh D, sinh năm 1988.
  • Địa chỉ: Ấp M, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An.
  • (Bà M có đơn xin vắng mặt, ông D vắng mặt không rõ lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ly hôn ngày 16 tháng 01 năm 2025 và những lời khai tiếp theo, nguyên đơn là bà Hồ Sám M trình bày: Bà và ông Đặng Minh D chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện C, tỉnh Long An vào ngày 08/01/2024. Thời gian đầu, vợ chồng chung sống hạnh phúc, sau đó thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do cuộc sống không phù hợp, bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi nhau, không tìm được tiếng nói chung trong hôn nhân. Nay, tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn được nữa nên bà xin ly hôn với ông Đặng Minh D.

Về con chung: Bà và ông D chung sống với nhau có một con chung tên là Đặng Hồ Minh C, sinh ngày 03/02/2024. Hiện con đang sống với bà M. Khi ly hôn, bà M xin tiếp tục nuôi con chung và không yêu cầu ông D cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Bà M trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Bà M trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt thông báo thụ lý, các văn bản tố tụng cần thiết, đã tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và các thủ tục theo pháp luật quy định nhưng ông Đặng Minh D vẫn vắng mặt, cũng không có văn bản ghi ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên Tòa, căn cứ các kết quả xét hỏi tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về tố tụng: Bà Hồ Sám M khởi kiện yêu cầu được ly hôn với ông Đặng Minh D, ông D hiện thường trú tại ấp T, xã S, huyện T, tỉnh Đồng Nai, hiện đang tạm trú và có mặt tại đường số B, khu dân cư T, ấp M, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An nên Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Tại phiên tòa, nguyên đơn là bà Hồ Sám M có đơn xin vắng mặt, bị đơn là ông Đặng Minh D đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt, căn cứ vào Điều 227; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.

[2]. Về quan hệ hôn nhân: Bà Hồ Sám M và ông Đặng Minh D chung sống với nhau, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện C, tỉnh Long An, số đăng ký kết số 02 ngày 08/01/2024 nên hôn nhân giữa ông bà là hôn nhân hợp pháp theo quy định tại Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Trong quá trình chung sống, bà M cho rằng do cuộc sống vợ chồng không phù hợp, bất đồng quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung trong hôn nhân dẫn đến mâu thuẫn ngày càng trầm trọng hơn. Mâu thuẫn giữa ông bà cũng không được gia đình hai bên và chính quyền địa phương giải quyết.

Đối với ông D, từ khi thụ lý vụ án cho đến nay, mặc dù đã được tống đạt thông báo thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng theo quy định, biết được yêu cầu khởi kiện của bà M nhưng ông D không đến Tòa án và cũng không có ý kiến gì phản hồi đối với yêu cầu khởi kiện của bà M. Tại phiên tòa, ông D vẫn vắng mặt, chứng tỏ không có thiện chí để hàn gắn. Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử thấy rằng, tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn, đời sống chung vợ chồng của ông bà không thể tiếp tục, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, xét yêu cầu ly hôn của bà M và ông D là có căn cứ, phù hợp với Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[3]. Về con chung và cấp dưỡng: Bà M trình bày rằng bà và ông D chung sống và có 01 con chung tên Đặng Hồ Minh C, sinh ngày 03/02/2024, hiện đang sống với bà M. Khi ly hôn, bà M xin được tiếp tục nuôi con chung và không yêu cầu ông D cấp dưỡng nuôi con chung. Đối với ông D, dù đã được thông báo về yêu cầu của bà M về con chung nhưng ông D vẫn không đến Tòa án và cũng không có văn bản phản hồi ý kiến gửi Tòa án.

Xét thấy, từ khi bà M và ông D xa nhau đến nay, bà M là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung, bà vẫn đảm bảo sự phát triển bình thường của con chung. Ngoài ra, con chung còn nhỏ, cần sự chăm sóc của người mẹ. Do đó, Hội đồng xét xử thấy rằng cần tiếp tục giao con chung Minh C cho bà M nuôi dưỡng là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Bà M không yêu cầu ông D cấp dưỡng nuôi con chung nên HĐXX không đề cập, xem xét đến.

[4]. Về tài sản chung: Bà M trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết; ông D không có văn bản phản hồi ý kiến về tài sản chung nên HĐXX không xem xét. Nếu ông D có tranh chấp về tài sản chung thì sẽ khởi kiện trong một vụ án khác.

[5]. Về nợ chung: Bà M trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết; ông D không có văn bản phản hồi ý kiến về nợ chung nên HĐXX không xem xét. Nếu ông D có tranh chấp về nợ chung thì sẽ khởi kiện trong một vụ án khác.

[6]. Về án phí: Bà Hồ Sám M phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, 273, 483, Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào Điều 9, 56, 81, 82, 83, và 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Hồ Sám M đối với ông Đặng Minh D về việc “Ly hôn”.
    • - Về quan hệ hôn nhân: Bà Hồ Sám M được ly hôn với ông Đặng Minh D.
    • - Về con chung: Bà Hồ Sám M được quyền tiếp tục nuôi dưỡng con chung tên Đặng Hồ Minh C, sinh ngày 03/02/2024. Ông Đặng Minh D không phải cấp dưỡng nuôi con chung vì bà M không yêu cầu.

Cả hai bên đều có quyền và nghĩa vụ đối với con chung. Bên không nuôi con được quyền tới lui, thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được quyền ngăn cản. Trường hợp bên không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung thì bên trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con theo quy định pháp luật. Bên trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình không được quyền cản trở bên không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung.

Khi cần thiết, trên cơ sở lợi ích của con chung thì bên trực tiếp nuôi con, bên không trực tiếp nuôi con, cơ quan, tổ chức và cá nhân có thẩm quyền có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người nuôi con, mức cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

  • - Về tài sản chung: Bà M trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết; Ông D không có văn bản phản hồi ý kiến về tài sản chung nên HĐXX không đề cập, xem xét. Nếu ông D có tranh chấp về tài sản chung thì sẽ khởi kiện trong một vụ án khác.
  • - Về nợ chung: Bà M trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết; Ông D không có văn bản phản hồi ý kiến về nợ chung nên HĐXX không đề cập, xem xét. Nếu ông D có tranh chấp về nợ chung thì sẽ khởi kiện trong một vụ án khác.
  1. Về án phí: Bà Hồ Sám M chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm sung công quỹ nhà nước. Bà M được khấu trừ 300.000 đồng tạm ứng án phí nộp tại biên lai thu số 0004138 ngày 19/12/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Hòa, tỉnh Long An để thi hành.

Án xử sơ thẩm công khai, nguyên đơn và bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án để xin xét xử phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - TAND tỉnh Long An;
  • - VKSND huyện Đức Hòa;
  • - UBND xã Sông Thao, huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai;
  • - Chi cục THADS huyện Đức Hòa;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Nguyễn Thị Kim Cương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 63/2025/HNGĐ-ST ngày 03/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN về ly hôn

  • Số bản án: 63/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 03/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hồ Sám M ly hôn Đặng Minh D
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger