Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ MỸ THO

TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do- Hạnh phúc

Bản án số:63/2025/DS-ST

Ngày: 14-4-2025

V/v tranh chấp “ Hợp đồng tín

dụng"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

***

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MỸ THO, TỈNH TIỀN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Cao Thị Trúc Linh.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Lê Thị Bé Bảy
  2. Bà Bùi Thị Thu Nhi.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Trạng – Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân Thành phố Mỹ Tho.

Trong ngày 14 tháng 4 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 519/2024/TLST-DS ngày 30/10/2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 88/2025/QĐXXST-DS ngày 17 tháng 3 năm 2025 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần B.

    Địa chỉ: Tòa nhà H N, phường E, quận C, thành phố Hồ Chí Minh

    Người đại diện theo pháp luật : ông Ngô Quang T – Tổng giám đốc

    Người đại diện theo ủy quyền : ông Phan Thanh H – Phó giám đốc Trung tâm quản lý và thu hồi nợ.

    Người đại diện theo ủy quyền tham gia tố tụng: Ông Trịnh Công D;

    Địa chỉ:143 Nam Kỳ Khởi Nghĩa, phường 4, thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang

  2. Bị đơn:

    - Bà Phạm Ngọc T1 sinh năm 1968.

    Địa chỉ: số E G, phường A, thành phố M, tỉnh Tiền Giang ;

    - Ông Thái Thanh L sinh năm 1970.

    Địa chỉ: ấp T, xã L, huyện C, tỉnh Tiền Giang

    ( Ông D có mặt, ông L, bà T1 vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo Đơn khởi kiện đề ngày 15/10/2024, và trong quá trình giải quyết vụ án, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:

Ngày 22/01/2021 ông Thái Thanh L và bà Phạm Ngọc T1 có ký với ngân hàng TMCP B hợp đồng tín dụng từng lần số 03121100002500, để vay số tiền 330.000.000 đồng, với mục đích vay bổ sung vốn kinh doanh, thời hạn vay 84 tháng. Ngày 27/3/2023 ông L và bà T1 đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo hợp đồng ký kết. Khi phát sinh nợ quá hạn, ngân hàng đã nhiều lần liên hệ nhắc nhở ông L và bà T1 thực hiện nghĩa vụ thanh toán nhưng ông bà vẫn không thực hiện. Nay ngân hàng khởi kiện yêu cầu bà Phạm Ngọc T1 và ông Thái Thanh L phải thanh toán cho ngân hàng TMCP B tổng số tiền vốn lãi tính đến ngày 02/10/2024 là 193.682.128 đồng (Trong đó, vốn gốc là 150.714.302 đồng, tiền lãi 42.967.826 đồng) và tiền lãi phát sinh theo hợp đồng tín dụng tính từ ngày 03/10/2024 đến khi trả hết nợ. Yêu cầu trả 01 lần khi án có hiệu lực pháp luật.

Bị đơn ông Thái Thanh L và bà Phạm Ngọc T1 đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng bà T1 và ông L không đến Tòa án và cũng không gửi bản trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Tại phiên tòa: Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Yêu cầu ông Thái Thanh L và bà Phạm Ngọc T1 trả cho ngân hàng tổng số vốn và lãi tính đến ngày 14/4/2025 là 174.489.224 đồng, không yêu cầu Tòa án xem xét hợp đồng thế chấp tài sản mà Ngân hàng đã ký kết với ông L và bà T1. Bị đơn vắng mặt không rõ lý do

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]- Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn khởi kiện bị đơn yêu cầu thanh toán khoản nợ theo Hợp đồng tín dụng đã ký kết. Bị đơn Phạm Ngọc T1 có địa chỉ tại thành phố M tỉnh Tiền Giang và hợp đồng tín dụng được thực hiện tại thành phố M. Do đó, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2]- Sự có mặt của đương sư: Bị đơn không có đơn xin xét xử vắng mặt và đã đực Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng vẫn vắng mặt không rõ lý do lần thứ hai. Do đó, căn cứ vào quy định tại khoản 2 Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

[3]- Về nội dung yêu cầu của nguyên đơn: hợp đồng tín dụng từng lần số 03121100002500 ngày 22/01/2021 giữa Ngân hàng TMCP B với ông Thái Thanh L và bà Phạm Ngọc T1 được xác lập trên cơ sở tự nguyện thỏa thuận giữa các bên, hình thức và nội dung của hợp đồng không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội và phù hợp với quy định của pháp luật nên là hợp đồng hợp pháp. Ông Thái Thanh L và bà Phạm Ngọc T1 đã nhận tiền giải ngân từ ngân hàng thông qua các Giấy nhận nợ mà Ngân hàng đã cung cấp kèm theo hồ sơ khởi kiện với tổng số tiền là 330.000.000 đồng. Theo hợp đồng tín dụng được hai bên ký kết, bên vay có nghĩa vụ trả nợ theo phương thức trả vốn, lãi theo thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng với lịch trả nợ gốc hàng tháng và lịch trả lãi vào ngày 25 hàng tháng theo phiếu tính lãi của ngân hàng, ngoài ra tại hợp đồng còn quy định cụ thể về phương thức tính lãi suất trên dự nợ gốc quá hạn và lãi suất chậm trả. Quá trình thực hiện nghĩa vụ thanh toán phía ông L và bà T1 đã không thực hiện đúng thỏa thuận, ngân hàng cũng đã nhiều lần thông báo cho ông L và bà T1 về việc thu hồi nợ trước hạn nhưng vẫn không thực hiện nên đã vi phạm hợp đồng, làm ảnh hưởng đến quyền lợi của bên cho vay. Do đó, ngân hàng khởi kiện yêu cầu ông ông L và bà T1 trả số tiền nợ vốn là 130.357.163 đồng và tiền lãi là 44.232.061 đồng (Trong đó lãi trong hạn chưa thanh toán là 43.109.521 đồng, lãi phạt chậm lãi là 1.118.156 đồng và lãi phạt chậm vốn là 4.384 đồng) là có căn cứ. Ông L và bà T1 đã được Tòa án triệu tập nhiều lần tham gia hòa giải và công khai chứng cứ cũng như tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không có lý do, không chứng minh đã trả cho ngân hàng bao nhiêu tiền là tự từ bỏ nghĩa vụ chứng minh của mình. Do đó, căn cứ vào mức lãi suất hai bên thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng nêu trên thì số tiền mà phía ngân hàng yêu cầu ông L và bà T1 phải trả là phù hợp với quy định tại các Điều 91, 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 nên có căn cứ chấp nhận.

[4]- Tại phiên tòa, đại diện nguyên đơn có yêu cầu bị đơn phải tiếp tục chịu lãi suất phát sinh theo hợp đồng đã ký kết, từ sau ngày 14/4/2025 cho đến khi bị đơn thanh toán xong các khoản nợ với Ngân hàng. Căn cứ vào Án lệ số 08/2016/AL được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 17/8/2016 và công bố theo Quyết định số 698/QĐCA ngày 17/10/2016 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Hội đồng xét xử xét thấy, hợp đồng vay có thỏa thuận mức lãi suất cho vay trong hạn, lãi suất nợ quá hạn. Do các bị đơn vi phạm nghĩa vụ thanh toán như đã phân tích trên nên kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm bị đơn còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.

[5]- Đối với hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất: Để bảo đảm cho khoản vay bà Phạm Ngọc T1 và ông Thái Thanh L đã ký với ngân hàng TMCP B - chi nhánh T2 hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 0312100002600 ngày 24/01/2021, tài sản thế chấp là thửa đất số 176 từ bản đồ 22 tại ấp B, xã Đ, thành phố M, tỉnh Tiền Giang, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H02861 do UBND thành phố M cấp cho bà Phạm Ngọc T1. Tuy nhiên, trong suốt quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn không có yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết đến hợp đồng thế chấp đã ký kết với ông L và bà T1, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

[6]- Về án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  • - Căn cứ khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 điều 91, Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 228 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
  • - Căn cứ vào Điều 91, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010;
  • - Căn cứ Án lệ số 08/2016/AL được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 17/8/2016 và công bố theo Quyết định số 698/QĐCA ngày 17/10/2016 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao;
  • - Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Xử:

  1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần B .

    - Buộc bà Phạm Ngọc T1 và ông Thái Thanh L có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng thương mại cổ phần B số tiền còn nợ cả gốc lẫn lãi là 174.589.224 đồng

    - Từ ngày tiếp theo của ngày 14/4/2025, bà Phạm Ngọc T1 và ông Thái Thanh L còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi của số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà ông L và bà T1 vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.

  2. Án phí dân sự sơ thẩm:
    1. Bà Phạm Ngọc T1 và ông Thái Thanh L phải chịu 8.729.500 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
    2. H1 lại cho Ngân hàng thương mại cổ phần B số tiền tạm ứng án phí đã nộp là: 4.842.000 ( Mười bốn triệu bốn trăm năm mươi chín ngàn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0006949 ngày 30/10/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Mỹ Tho.
  3. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày được nhận bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự năm 2008 (được sửa đổi, bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự năm 2008 (được sửa đổi, bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự năm 2008 (được sửa đổi, bổ sung năm 2014)./.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang.
  • - VKS nhân dân TP Mỹ Tho.
  • - Cơ quan Thi hành án dân sự TP Mỹ Tho.
  • - Các đương sự.
  • - Lưu hồ sơ, án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Cao Thị Trúc Linh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 63/2025/DS-ST ngày 14/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MỸ THO, TỈNH TIỀN GIANG về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 63/2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/04/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MỸ THO, TỈNH TIỀN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: 1. Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần Bản Việt. Địa chỉ: Tòa nhà HM Town 412 Nguyễn Thị Minh Khai, phường 5, quận 3, thành phố Hồ Chí Minh Người đại diện theo pháp luật : ông Ngô Quang Trung – Tổng giám đốc Người đại diện theo ủy quyền : ông Phan Thanh Hải – Phó giám đốc Trung tâm quản lý và thu hồi nợ. Người đại diện theo ủy quyền tham gia tố tụng: Ông Trịnh Công Danh; Địa chỉ:143 Nam Kỳ Khởi Nghĩa, phường 4, thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang 2. Bị đơn: - Bà Phạm Ngọc Thúy sinh năm 1968. Địa chỉ: số 50/23 Giồng Dứa, phường 1, thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang ; - Ông Thái Thanh Liêm sinh năm 1970. Địa chỉ: ấp Thạnh Hòa, xã Long Hưng, huyện Châu Thành, tỉnh Tiền
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger