|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TRÀ VINH TỈNH TRÀ VINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 63/2025/DS-ST Ngày 09-6-2025 V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TRÀ VINH, TỈNH TRÀ VINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Anh Khoa.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Đặng Văn Dúng;
- Bà Thạch Thị Mỹ Kim.
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Anh Duy, Thư ký Tòa án nhân thành phố Trà Vinh, tỉnh Trà Vinh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Trà Vinh, tỉnh Trà Vinh tham gia phiên tòa: Ông Tăng Phan Nhật T - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Trà Vinh, tỉnh Trà Vinh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 294/2024/TLST-DS ngày 09 tháng 10 năm 2024 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 162/2025/QĐXXST-DS ngày 23 tháng 4 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần Q (MB);
- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1971 (có mặt);
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Nguyễn Ngọc T5, sinh năm 1986 (vắng mặt);
- Bà Trần Thị L, sinh năm 1965 (có mặt);
- Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1964 (vắng mặt);
- Em Trương Quốc V, sinh năm 2010 (vắng mặt);
Địa chỉ: Số A L, phường T, quận C, Thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Hà Anh D, chức vụ: Tổng Giám đốc.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Phạm Anh T1, chức vụ: Phó Giám đốc MBAMC Chi nhánh T6.
Ông Phạm Anh T1 ủy quyền lại cho ông Nguyễn Vạn P, chức vụ: Trưởng phòng Thu hồi nợ M và ông Phạm Thanh T2, ông Trần Quyết T3, ông Trần Bảo T4, chức vụ: Chuyên viên Thu hồi nợ - M, theo văn bản ủy quyền số 175/UQ-MBAMC ngày 14 tháng 02 năm 2025 (có mặt ông Phạm Thanh T2).
Địa chỉ: Ấp V, xã L, thành phố T, tỉnh Trà Vinh.
Cùng địa chỉ: Ấp V, xã L, thành phố T, tỉnh Trà Vinh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo nội dung đơn khởi kiện, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, cũng như tại phiên tòa, ông Phạm Thanh T2 là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày: Ngày 22 tháng 02 năm 2022 bà Nguyễn Thị N và Ngân hàng Thương mại cổ phần Q - Chi nhánh T7 đã ký kết hợp đồng vay số 1382.22.910.17350022.TD và các phụ lục bổ sung khác và các khế ước nhận nợ với số tiền vay là 500.000.000 đồng, mục đích vay để mua sắm thiết bị, đồ dùng gia đình, ngày nhận nợ là ngày 22 tháng 02 năm 2022, lãi suất cho vay là 11,5%/năm, ngày đến hạn là 23 tháng 02 năm 2029.
Tài sản bảo đảm là quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất thuộc thửa số 34, tờ bản đồ số 21, diện tích 240,4 m² tại ấp V, xã L, thành phố T, tỉnh Trà Vinh, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DD 154549, số vào số cấp GCN: CS 24043 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T cấp ngày 26 tháng 01 năm 2022. Hợp đồng thế chấp được công chứng tại Văn phòng C ngày 22 tháng 02 năm 2022 và được đăng ký giao dịch bảo đảm tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố C theo đúng quy định của pháp luật.
Trong quá trình thực hiện hợp đồng, bà Nguyễn Thị N đã không thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo như cam kết trong hợp đồng cho vay và các khế ước nhận nợ bị quá hạn kể từ ngày 29 tháng 8 năm 2023, cụ thể: Đến ngày 29 tháng 5 năm 2024 bà Nguyễn Thị N đã trả được tổng số tiền 188.049.548 đồng, bao gồm 101.390.477 đồng nợ gốc và 86.659.071 đồng lãi trong hạn.
Dư nợ tạm tính đến ngày 09 tháng 6 năm 2025 là 510.271.619 đồng, trong đó nợ gốc là 398.609.523 đồng, lãi trong hạn là 80.646.942 đồng, lãi quá hạn là 23.092.849 đồng, lãi chậm trả là 7.922.305 đồng.
Ngân hàng đã nhiều lần thông báo yêu cầu bà Nguyễn Thị N trả nợ và bàn giao tài sản bảo đảm nhưng bà Nguyễn Thị N không thực hiện.
Nay Ngân hàng Thương mại cổ phần Q yêu cầu bà Nguyễn Thị N thanh toán số tiền tạm tính đến ngày 09 tháng 6 năm 2025 là 510.271.619 đồng, trong đó nợ gốc là 398.609.523 đồng, lãi trong hạn là 80.646.942 đồng, lãi quá hạn là 23.092.849 đồng, lãi chậm trả là 7.922.305 đồng. Ngân hàng Thương mại cổ phần Q yêu cầu bà Nguyễn Thị N thanh toán tiền lãi phát sinh theo hợp đồng tín dụng đã ký kết theo lãi suất nợ quá hạn tính từ ngày 10 tháng 6 năm 2025 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ.
Trường hợp bà Nguyễn Thị N không thực hiện nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng Thương mại cổ phần Q yêu cầu cơ quan có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp
để thu hồi nợ gồm: Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất thuộc thửa đất số 34, tờ bản đồ số 21, diện tích 240,4 m² tại ấp V, xã L, thành phố T, tỉnh Trà Vinh.
Theo nội dung văn bản trình bày ý kiến, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, bà Nguyễn Thị N là bị đơn trình bày: Bà Nguyễn Thị N có vay tiền tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Q và có thế chấp tài sản là phần đất thuộc thửa đất số 34, tờ bản đồ số 21, diện tích 240,4 m² tại ấp V, xã L, thành phố T, tỉnh Trà Vinh. Nay do không có khả năng trả nợ nên bà Nguyễn Thị N thống nhất để ngân hàng phát mãi tài sản thế chấp để thu hồi nợ.
Bà Nguyễn Ngọc T5 là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa nhưng có ý kiến trình bày trong quá trình giải quyết vụ án như sau: Bà Nguyễn Ngọc T5 có vay của bà Nguyễn Thị N số tiền 350.000.000 đồng và có làm hợp đồng chuyển nhượng phần đất thuộc thửa số 34, tờ bản đồ số 21, diện tích 240,4 m² tại ấp V, xã L, thành phố T, tỉnh Trà Vinh để làm tin. Sau đó do không có khả năng trả nên bà N và bà T5 thống nhất để bà T5 sang tên phần đất nêu trên cho bà N để vay tiền tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Q do bà T5 có nợ xấu không vay được. Bà N đứng vay tiền còn tiền lãi bà T5 đóng. Số tiền vay là 500.000.000 đồng. Sau khi nhận tiền vay từ ngân hàng, bà T5 đã trả đủ cho bà N số tiền vốn và lãi đã vay của bà N là 450.000.000 đồng. Bà T5 đóng lãi được 03 tháng thì không có khả năng đóng. Bà N lo sợ bị nợ xấu nên đã đóng lãi thay bà T5 với tổng số tiền là 90.000.000 đồng. Bà N tính tiền lãi của số tiền này thành 100.000.000 đồng. Do khoản tiền bà T5 vay từ bà N bà T5 cho ông Lê Minh P1 vay lại nên bà T5, bà N và ông P1 thống nhất thỏa thuận ông P1 sẽ trả 100.000.000 đồng cho bà N. Còn số tiền nợ ngân hàng khi nào bà T5 trả xong thì bà N sẽ sang tên đất lại cho bà T5.
Nay đối với yêu cầu của Ngân hàng Thương mại cổ phần Q bà T5 thống nhất. Trường hợp bà N không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ thì ngân hàng có quyền yêu cầu phát mãi tài sản thế chấp để thu hồi nợ. Đối với hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất thuộc thửa số 34, tờ bản đồ số 21, diện tích 240,4 m² tại ấp V, xã L, thành phố T, tỉnh Trà Vinh bà T5 sẽ khởi kiện bà N trong một vụ án khác.
Bà Trần Thị L là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có ý kiến trình bày tại phiên tòa như sau: Bà Trần Thị L thống nhất với ý kiến của bà Nguyễn Ngọc T5.
Ông Nguyễn Văn H, em Trương Quốc V là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa. Trong quá trình giải quyết vụ án, các đương sự này không có văn bản trình bày ý kiến nộp cho Tòa án.
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án nhân dân thành phố Trà Vinh đã tiến hành hòa giải để các đương sự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án. Tuy nhiên, việc hòa giải không thành do các đương sự không thống nhất với nhau về việc giải quyết vụ án. Do đó Tòa án đưa vụ án ra xét xử.
Tại phiên tòa, nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vẫn giữ nguyên ý kiến. Các đương sự không nộp
bổ sung tài liệu, chứng cứ và không yêu cầu triệu tập thêm đương sự, người làm chứng, người tham gia tố tụng khác tham gia phiên tòa.
Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Trà Vinh phát biểu quan điểm như sau:
Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã chấp hành đúng quy định.
Về nội dung: Đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần Q. Buộc bà Nguyễn Thị N trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Q số tiền 510.271.619 đồng, trong đó nợ gốc là 398.609.523 đồng, lãi trong hạn là 80.646.942 đồng, lãi quá hạn là 23.092.849 đồng, lãi chậm trả là 7.922.305 đồng và tiền lãi phát sinh từ ngày 10 tháng 6 năm 2025 cho đến khi thực hiện xong nghĩa vụ trả nợ.
Trường hợp bà Nguyễn Thị N không thực hiện nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng Thương mại cổ phần Q được quyền yêu cầu xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ.
Đối với yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng giữa bà Nguyễn Ngọc T5 và bà Nguyễn Thị N do bà T5 không có yêu cầu nên sẽ giải quyết trong một vụ án khác.
Đối với yêu cầu của bà Nguyễn Thị N yêu cầu bà Nguyễn Ngọc T5 trả khoản tiền 100.000.000 đồng do bà N không có yêu cầu nên sẽ giải quyết trong một vụ kiện khác.
Về án phí và chi phí tố tụng: Đề nghị buộc bà Nguyễn Thị N phải chịu toàn bộ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy:
[1] Về tố tụng: Quan hệ pháp luật của vụ án là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”. Bị đơn hiện cư trú tại ấp V, xã L, thành phố T, tỉnh Trà Vinh. Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Trà Vinh. Tại phiên tòa, bà Nguyễn Ngọc T5, ông Nguyễn Văn H và em Trương Quốc V là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ Điều 227; Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự nêu trên.
[2] Về mặt nội dung: Xét thấy việc bà Nguyễn Thị N vay tiền tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Q là có thật, được bà Nguyễn Thị N thừa nhận. Đối với các yêu cầu của Ngân hàng Thương mại cổ phần Q thì bà Nguyễn Thị N cũng thống nhất. Căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì đây là tình tiết, sự kiện không phải chứng minh. Do bà Nguyễn Thị N đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên căn cứ quy định tại Điều 463, Điều 466, Điều 468 của Bộ luật Dân sự
năm 2015; Điều 91 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 7, Điều 8, Điều 12, Điều 13 của Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11 tháng 01 năm 2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao Hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm thì bà Nguyễn Thị N có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Q số tiền nợ tính đến ngày 09 tháng 6 năm 2025 là 510.271.619 đồng, trong đó nợ gốc là 398.609.523 đồng, lãi trong hạn là 80.646.942 đồng, lãi quá hạn là 23.092.849 đồng, lãi chậm trả là 7.922.305 đồng.
[3] Kể từ ngày 10 tháng 6 năm 2025 cho đến khi thi hành án xong, bà Nguyễn Thị N còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng số 1382.22.910.17350022.TD ngày 22 tháng 02 năm 2022.
[4] Trường hợp bà Nguyễn Thị N không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng Thương mại cổ phần Q có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp để thu hồi nợ gồm: Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất thuộc thửa đất số 34, tờ bản đồ số 21, diện tích 240,4 m² tại ấp V, xã L, thành phố T, tỉnh Trà Vinh.
[5] Đối với bà Nguyễn Ngọc T5 là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án trình bày hợp đồng vay nêu trên là bà T5 và bà N thống nhất với nhau để bà N đứng tên vay còn bà T5 sẽ chịu trách nhiệm trả. Bà T5 sang tên phần đất thuộc thửa số 34, tờ bản đồ số 21, diện tích 240,4 m² tại ấp V, xã L, thành phố T, tỉnh Trà Vinh để đem đi thế chấp đảm bảo cho khoản vay tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Q. Tiền vay từ ngân hàng bà T5 dùng để trả nợ cho bà N. Bà T5 xác nhận người vay tiền thực chất là bà T5. Tuy nhiên bà T5 không có yêu cầu độc lập trong vụ án này mà thống nhất với yêu cầu của Ngân hàng Thương mại cổ phần Q. Đối với hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà T5 với bà N đối với phần đất thuộc thửa số 34, tờ bản đồ số 21, diện tích 240,4 m² tại ấp V, xã L, thành phố T, tỉnh Trà Vinh bà T5 cũng không có yêu cầu giải quyết trong vụ án này. Bà Trần Thị L, ông Nguyễn Văn H, em Trương Quốc V cũng không có đơn yêu cầu độc lập. Đối với số tiền vay 100.000.000 đồng bà T5 khai còn nợ bà N nhưng trong vụ án này bà N không có yêu cầu giải quyết. Do các nội dung nêu trên đương sự không có yêu cầu giải quyết trong vụ án này nên Hội đồng xét xử không xem xét. Các đương sự có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết trong một vụ án khác.
[6] Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật với số tiền là 24.410.864 đồng.
[7] Về chi phí tố tụng: Bà Nguyễn Thị N phải chịu toàn bộ chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ với số tiền là 500.000 đồng. Ngân hàng Thương mại cổ phần Q đã nộp tạm ứng 1.000.000 đồng tại Tòa án nhân dân thành phố Trà Vinh. Tòa án đã chi 500.000 đồng cho việc xem xét, thẩm định tại chỗ. Còn lại 500.000 đồng được hoàn trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Q. Bà Nguyễn Thị N có nghĩa vụ nộp số tiền 500.000 đồng tại cơ quan thi hành án dân sự thành phố Trà Vinh để hoàn trả lại cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Q.
[8] Xét thấy ý kiến của Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Trà Vinh là phù hợp với tình tiết khách quan của vụ án cũng như phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử nên có cơ sở để chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 5, khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Căn cứ quy định tại Điều 463, Điều 466, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
Căn cứ vào Điều 91, Điều 95 của Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Căn cứ vào Điều 7, Điều 8, Điều 12, Điều 13 của Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11 tháng 01 năm 2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao Hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm.
Căn cứ vào Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí của Tòa án.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần Q.
Buộc bà Nguyễn Thị N trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Q số tiền là 510.271.619 đồng. Trong đó nợ gốc là 398.609.523 đồng, lãi trong hạn là 80.646.942 đồng, lãi quá hạn là 23.092.849 đồng, lãi chậm trả là 7.922.305 đồng.
Kể từ ngày 10 tháng 6 năm 2025 cho đến khi thi hành án xong, bà Nguyễn Thị N còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng số 1382.22.910.17350022.TD ngày 22 tháng 02 năm 2022.
Trường hợp bà Nguyễn Thị N không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng Thương mại cổ phần Q có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp để thu hồi nợ gồm: Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất thuộc thửa đất số 34, tờ bản đồ số 21, diện tích 240,4 m² tại ấp V, xã L, thành phố T, tỉnh Trà Vinh.
Về án phí: Buộc bà Nguyễn Thị N phải chịu 24.410.864 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả lại cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Q số tiền 10.932.700 đồng đã nộp tạm ứng theo biên lai thu tiền số 0000941 ngày 11 tháng 10 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Trà Vinh, tỉnh Trà Vinh.
Về chi phí tố tụng: Bà Nguyễn Thị N phải chịu toàn bộ chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ với số tiền là 500.000 đồng. Ngân hàng Thương mại cổ phần Q đã nộp tạm ứng 1.000.000 đồng tại Tòa án nhân dân thành phố Trà Vinh. Tòa án đã chi 500.000 đồng cho việc xem xét, thẩm định tại chỗ. Còn lại 500.000 đồng được
hoàn trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Q. Bà Nguyễn Thị N có nghĩa vụ nộp số tiền 500.000 đồng tại cơ quan thi hành án dân sự thành phố Trà Vinh để hoàn trả lại cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Q.
Về quyền kháng cáo: Các đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 của Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Anh Khoa |
Bản án số 63/2025/DS-ST ngày 09/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TRÀ VINH, TỈNH TRÀ VINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 63/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 09/06/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TRÀ VINH, TỈNH TRÀ VINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vụ án tranh chấp hợp đồng tín dụng giữa nguyên đơn Ngân hàng TMCP Q với bị đơn bà Nguyễn Thị N
