Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 63/2025/DS – PT

Ngày: 27-02-2025

V/v “T/c về thừa kế nhà, đất”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Bích Hải

Các Thẩm phán: Bà Lê Thị Minh Trang

Bà Nguyễn Thị Trang Thư

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Huyền – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thị Hồng Nhi - Kiểm sát viên.

Trong ngày 27 tháng 02 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Cần Thơ xét xử phúc thẩm vụ án thụ lý số 483/2024/TLPT-DS ngày 09 tháng 12 năm 2024 về việc “Tranh chấp về thừa kế nhà, đất”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số 93/2024/DS-ST ngày 11/7/2024 của Tòa án nhân dân quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 539/2024/QĐ - PT ngày 18 tháng 12 năm 2024, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Ông Võ Tấn P, sinh năm 1976.

    Cư trú: số E, tổ A, khu V, phường H, quận C, thành phố Cần Thơ.

  2. Bị đơn: Bà Võ Kim N, sinh năm 1967

    Địa chỉ: số E, tổ A, khu V, phường H, quận C, thành phố Cần Thơ.

    Đại diện theo ủy quyền của bà N: Ông Đỗ Tấn L, sinh năm 1990. Địa chỉ: số E, tổ A, khu V, phường H, quận C, thành phố Cần Thơ.

    Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà N: Luật sư Mai Công N1, sinh năm 1962. Văn phòng L3- Đoàn luật sư thành phố C. Địa chỉ: số F, đường số B phường A, quận N, thành phố Cần Thơ.

  3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
    1. Ông Võ Thanh L1, sinh năm 1960.

      Địa chỉ: Khóm B, phường T, Thị xã B, tỉnh Vĩnh Long.

    2. Ông Võ Hoàng D, sinh năm 1963.

      Địa chỉ thường trú: số E, tổ A, khu V, phường H, quận C, thành phố Cần Thơ.

      Địa chỉ tạm trú: số A đường C, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ.

    3. Ông Võ Lâm Thanh T, sinh năm 1970

      Địa chỉ: số I, tổ A, Khu V, phường H, quận C, thành phố Cần Thơ.

    4. Bà Võ Thị P1, sinh năm 1965

      Địa chỉ: P Chung cư B, Khu V, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ.

      Địa chỉ tạm trú: số B đường T, phường H, quận N, thành phố Cần Thơ.

    5. Bà Võ Minh N2, sinh năm 1971

      Địa chỉ: M đường D, Khu D, Khu V, phường P, quận C, thành phố Cần Thơ.

    6. bà Võ Thị D1, sinh năm 1978

      Địa chỉ: Khóm B, thị trấn C, huyện P, tỉnh Cà Mau.

    7. Bà Võ Thúy D2.

      Địa chỉ: số G, tổ D, Khu V, phường H, quận C, thành phố Cần Thơ.

    8. Ông Đỗ Tấn L, sinh năm 1990

      Địa chỉ: số E, tổ A, khu V, phường H, quận C, thành phố Cần Thơ.

Người kháng cáo: Nguyên đơn ông Võ Tấn P, bị đơn bà Võ Kim N, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Đỗ Tấn L

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn ông Võ Tấn P trình bày: Cha mẹ ông P là ông Võ Ngọc Q, sinh năm 1942 (mất ngày 21/6/2021) và bà Lâm Thị Ngọc A, sinh năm 1943 (mất ngày 20/2/2004), chung sống với nhau có 09 người con là ông L1, ông D, ông T, bà P1, bà N, bà N2, ông P, bà Võ Thị D1, bà Võ Thanh H (mất từ nhỏ, không chồng con). Ngoài ra, ông Q còn có 01 người con riêng là bà Võ Thúy D2. Sinh thời, cha mẹ ông P tạo lập được quyền sử dụng đất diện tích 101.9m² thuộc thửa số 17, tờ bản đồ số 05 tại Khu V, phường H, thành phố Cần Thơ, tỉnh Cần Thơ (Nay là Khu V, phường H, quận C, Thành phố Cần Thơ), theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 0107643, số vào sổ 00794 cấp ngày 17/4/2000.

Ông P là con út trong gia đình, sống chung với cha mẹ từ nhỏ. Khi cha mẹ hết tuổi lao động, ông P là người trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc còn các anh chị thì đều có gia đình ở riêng. Vào năm 2003, ông trúng số đã dùng tiền này xây nhà số E, tổ A, khu V, phường H, quận C, thành phố Cần Thơ trên đất để phụng dưỡng cha mẹ, thờ cúng ông bà. Năm 2010 ông lấy vợ, đến năm 2012 về bên vợ sống nhưng vẫn cùng với anh em tới lui, thay nhau chăm sóc ông Q. Khi bà N ly hôn chồng thì đưa con là Đỗ Tấn L về sống cùng, bà N không có việc làm, ông P là người nuôi ăn ở đến lúc ông Q già yếu, các anh em họp mặt nhờ bà N chăm sóc cha già và góp tiền cho bà N nhưng bà không chịu gây hiềm khích, mắng chửi các anh em trong nhà, thái độ bất kính, không phụng dưỡng cha già. Do cha mẹ chết không để lại Di chúc nên ông P yêu cầu chia thừa kế di sản trên theo quy định pháp luật, ông nhận nhà và đất, hoàn trả giá trị lại cho các anh chị em, trong đó trả cho bà N tương đương 100.000.000 đồng và tiền bà và cháu L đã sửa chữa lại căn nhà trong quá trình sinh sống.

Bị đơn bà Võ Kim N trình bày: Tài sản của cha mẹ để lại, bà sinh sống hơn 60 năm nay trong căn nhà này. Các anh chị em đều có tài sản riêng, nhà của riêng còn bà và con cháu của bà thì không có chỗ ở nào khác nên không đồng ý chia thừa kế. Bà có hùn với ông P 05 lượng vàng 24K và 02 chỉ vàng 18K để xây nhà năm 2003, toàn bộ tài sản trong nhà hiện nay là của bà.

Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông L1, ông D, bà P1, bà N, ông T, bà N2, ông P, bà Võ Thị D1, bà Võ Thúy D2 thống nhất trình bày: Ông P là con út sinh sống trong nhà với cha mẹ từ nhỏ. Năm 2003, ông P trúng số đã xây sửa lại căn nhà để cha mẹ ở, mẹ con bà N lúc này về ở vì bà N ly hôn chồng, cháu L còn nhỏ không có chỗ ở nào khác. Cho đến khi ông Q già yếu anh chị em thay phiên nhau chăm sóc thì thái độ bà N đã không thoải mái, hằn hộc, xích mích với các anh chị em. Việc cư xử, nuôi phụng dưỡng cha già không đàng hoàng. Sau khi ông Q chết, tình cảm anh chị em càng tệ hơn mỗi khi tới ngày giỗ ông bà, cha mẹ các anh em không về được và nếu có về thì không thoải mái với thái độ khó chịu của bà N nên phải tập hợp lại tổ chức ngày giỗ riêng. Do đó, yêu cầu khởi kiện của ông P thì các ông bà thống nhất đồng thời cũng có yêu cầu chia thừa kế theo pháp luật bằng hiện vật và tặng cho ông P thừa hưởng để ông tiếp tục thờ cúng ông bà, cha mẹ, để các anh chị em có nơi tụ họp.

Ông Đỗ Tấn L có yêu cầu độc lập, trình bày: Ông L là con bà N hiện đang ở trong căn nhà này. Năm 2003, lúc đó ông L 13 tuổi có biết mẹ có hùn tiền xây nhà với ông P. Năm 2019 ông L sơn sửa, làm lại hàng rào, la phông hết 57.000.000 đồng nên khi chia thừa kế thì yêu cầu trả lại cho ông số tiền trên.

Tiến trình tố tụng Tòa án đã đo đạc, định giá tài sản vào ngày 10/01/2024. Kết quả đo đạc tại Bản trích đo địa chính số 27/VPĐKĐĐ ngày 06/5/2024 của Văn phòng Đăng ký đất đai Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố C. Về giá: Ông P xác định giá trị thị trường đối với đất 800.000.000 đồng, giá nhà 300.000.000 đồng. Bà N và ông L xác định tổng giá nhà và đất theo giá thị trường là 800.000.000 đồng. Hội đồng định giá xác định giá đất 10.000.000 đồng/m²; Giá nhà gồm: Nhà ở chính 253.060.200 đồng, Nhà sau 105.625.200 đồng/mẻ. Phần ông L sửa chữa: Hàng rào 12.109.500 đồng, Hàng rào sắt 730.000 đồng, La phông phòng ngủ (do ông L lắp mới) giá 1.462.500 đồng.

Tại bản án sơ thẩm số 93/2024/DS-ST ngày 11/7/2024 của Tòa án nhân dân quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ đã tuyên như sau:

  • Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Võ Tấn P về việc chia thừa kế theo quy định pháp luật; Chấp nhận yêu cầu độc lập của ông Võ Thanh L1, ông Võ Hoàng D, bà Võ Thị P1, ông Võ Lâm Thanh T, bà Võ Minh N2, bà Võ Thúy D2 về việc chia thừa kế theo quy định pháp luật và tặng cho toàn bộ kỷ phần thừa kế cho ông Võ Tấn P hưởng.
  • Ghi nhận bà Võ Thị Diễm T1 cho kỷ phần thừa kế của mình cho ông Võ Tấn P.
  • Chấp nhận một phần yêu cầu độc lập của ông Võ Tấn L2 về số tiền đóng góp sửa chữa nhà 14.302.000đồng.
  • Ông Võ Tấn P được hưởng thừa kế quyền sử dụng đất diện tích 99.9m (ODT) và căn nhà trên đất tại thửa số 17, tờ bản đồ số 05, địa chỉ đất tại Khu V, phường H, thành phố Cần Thơ, tỉnh Cần Thơ (N là Khu V, phường H, quận C, Thành phố Cần Thơ) theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất sốQ 107643, số vào sổ cấp GCN 00794 Ủy ban nhân dân Thành phố C, tỉnh Cần Thơ cấp ngày 17/4/2000 cho ông Võ Ngọc Q (Kèm theo Bản trích đo địa chính số 27/VPĐKĐĐ ngày 06/5/2024 của Văn phòng Đăng ký đất đai Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố C ngày 06/5/2024).
  • Buộc ông Võ Tấn P hoàn trả cho bà Võ Kim N 160.282.000 đồng (tiền được hưởng thừa kế sau khi đã quy ra giá trị) và 40.000.000 đồng tiền hỗ trợ công sức đóng góp. Trả cho ông Võ Tấn L2 14.302.000 đồng tiền đầu tư sửa chữa nhà. Sau khi ông Võ Tấn P hoàn trả hết số tiền trên, buộc bà Võ Kim N và ông Võ Tấn L2 giao trả nhà đất trên cho ông Võ Tấn P quản lý sử dụng. Ông Võ Tấn P được quyền liên hệ cơ quan chức năng thực hiện thủ tục điều chỉnh, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất cho mình theo quy định pháp luật.
  • Dành quyền lưu cư cho bà Võ Kim N, ông Võ Tấn L2 trong thời gian 06 tháng kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
  • Ngoài ra, bản án còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí và quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định pháp luật

Ngày 15/7/2024, bị đơn bà Võ Kim N kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xem xét cho gia đình bà N được tiếp tục ở lại căn nhà trên phần đất tranh chấp, bà N đồng ý thối tiền cho các anh chị em.

Ngày 15/7/2024, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Đỗ Tấn L kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, ông L không đồng ý chia thừa kế, đề nghị cho gia đình ông L được ở ổn định tại căn nhà tranh chấp, gia đình ông lộc sẽ thu xếp trả lại dần khoản tiền giá trị căn nhà.

Ngày 31/7/2024, nguyên đơn ông Võ Tấn P kháng cáo một phần bản án sơ thẩm, ông P đồng ý chia thừa kế theo pháp luật cho những kỷ phần Tòa án đã xác định nhưng đề nghị chia theo giá trị đất số tiền 999.000.000 đồng, bà N nhận được khoảng 111.000.000 đồng, đối với căn nhà trên đất ông P trúng số xây dựng năm 2003 nên không đồng ý chia giá trị nhà.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Nguyên đơn ông Võ Tấn P trình bày: Ông P đồng ý trả cho ông Võ Tấn L2 số tiền đóng góp sửa chữa nhà là 30.000.000 đồng và thống nhất trả cho bà N giá trị của một suất được hưởng thừa kế là 160.282.000 đồng và hỗ trợ công sức đóng góp của bà N 40.000.000 đồng.

Về phương thức thực hiện nghĩa vụ thanh toán, ông Võ Tấn P thực hiện trả số tiền 230.282.000 đồng cho bà Võ Kim N, ông Đỗ Tấn L 02 đợt, như sau:

Đợt 1: Vào ngày 01/3/2025, ông P trả cho ông L 30.000.000đồng.

Đợt 2: Vào ngày 01/4/2025, ngay sau khi ông L, bà N giao nhà cho ông P thì ông P sẽ giao hết số tiền còn lại 200.282.000đồng cho bà N.

Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn bà Võ Kim N – ông Đỗ Tấn L trình bày: Ông L thống nhất với ý kiến của ông P tại phiên tòa và đồng ý sau khi ông Võ Tấn P hoàn trả hết số tiền trên, trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày 01/03/2025 đến ngày 01/04/2025, bà Võ Kim N và ông Võ Tấn L2 sẽ giao trả nhà đất tại số E, tổ A, khu V, phường H, quận C, Thành phố Cần Thơ) theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số Q 107643, số vào sổ 00794 do Ủy ban nhân dân Thành phố C, tỉnh Cần Thơ cấp ngày 17/4/2000 cho ông Võ Ngọc Q, nêu trên cho ông Võ Tấn P quản lý sử dụng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến như sau:

  • - Về thủ tục tố tụng: Từ khi thụ lý theo thủ tục phúc thẩm và tại phiên tòa hôm nay, đương sự và Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
  • - Về nội dung giải quyết vụ án: Qua diễn biến tại phiên toà và trên cơ sở ý kiến trình bày của luật sư, các đương sự, Đại diện viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ cho rằng đương sự có kháng cáo nhưng tại phiên tòa đã thống nhất thỏa thuận được với nhau toàn bộ nội dung tranh chấp, việc thỏa thuận trên là hoàn toàn tự nguyện không trái đạo đức xã hội. Do vậy, đề nghị áp dụng Khoản 2 Điều 308 bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 sửa bản án dân sự sơ thẩm, công nhận sự thỏa thuận của các đương sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:

[1] Về tố tụng: Thủ tục kháng cáo của nguyên đơn ông Võ Tấn P, bị đơn bà Võ Kim N, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Đỗ Tấn L thực hiện trong thời hạn luật định nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

[2] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Trên cơ sở yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Võ Tấn P, yêu cầu độc lập của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Đỗ Tấn L cấp sơ thẩm xác định quan hệ pháp luật “Tranh chấp về thừa kế nhà, đất”, theo quy định tại Khoản 5 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự, là có căn cứ.

[3] Về nội dung tranh chấp, nhận thấy:

[3.1] Về hàng thừa kế: Các đương sự thống nhất xác định ông Võ Ngọc Q (chết ngày 21/6/2021), bà Lâm Thị Ngọc A (chết ngày 20/2/2024). chung sống với nhau có 08 người con chung: ông Võ Thanh L1, ông Võ Hoàng D, ông Võ Lâm Thanh T, bà Võ Thị P1, bà Võ Kim N, bà Võ Minh N2, ông Võ Tấn P, bà Võ Thị D1 và thống nhất bà Võ Thúy D2 là con riêng của ông Q.

Do vậy, các ông bà là người thừa kế theo pháp luật thuộc hàng thừa kế thứ nhất của ông Q, bà A theo quy định tại Điều 651 bộ luật dân sự năm 2015.

[3.2] Về di sản thừa kế:

Căn cứ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00794/QSDĐ cấp ngày 17/4/2000 đối với thửa số 17, diện tích 101,9m², tờ bản đồ số 05 tại Khu V, phường H, thành phố Cần Thơ, tỉnh Cần Thơ (Nay là Khu V, phường H, quận C, Thành phố Cần Thơ), mang tên ông Võ Ngọc Q. Các đương sự thống nhất quyền sử dụng thửa đất trên là tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân của ông Q và bà A. Trước khi mất, ông Q, bà A không để lại di chúc nên phần tài sản của ông bà được xem là di sản thừa kế và được giải quyết theo quy định tại Khoản 1 Điều 650, Điều 651, Điều 654 Bộ luật Dân sự.

Căn cứ theo Bản trích đo địa chính số 27/VPĐKĐĐ ngày 06/5/2024 của Văn phòng Đăng ký đất đai Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố C, hiện trạng đo đạc thực tế thửa 17 có diện tích là 99,9m², chênh lệch thiếu 2m² so với diện tích được công nhận theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00794/QSDĐ cấp ngày 17/4/2000 đối với thửa số 17, diện tích 101,9m². Tuy nhiên, các đương sự đều có ý kiến thống nhất theo kết quả đo đạc nên giải quyết theo diện tích thực tế là 99,9m².

Theo Biên bản định giá tài sản ngày 10/01/2024, giá trị tài sản bao gồm

  • Nhà chính diện tích 68,58m², có giá trị là 253.060.200đồng và nhà sau diện tích 29,67m², có giá trị là 105.625.200 đồng, tổng giá trị là 358.685.400 đồng như đã nhận định trên không phải là di sản nên không chia thừa kế theo pháp luật. Cấp sơ thẩm xác định căn nhà trên đất là do ông P xây dựng nhưng lại gộp chung với giá trị đất để chia thừa kế là chưa phù hợp cần điều chỉnh lại phần này.
  • Thửa đất 17, diện tích 99,9m² được xác định theo giá thị trường là 999.000.000 đồng, giá trị tổng diện tích trên là căn cứ để chia thừa kế.

[3.3] Về việc phân chia di sản thừa kế: Xét thấy, quyền sử dụng đất diện tích 99,9m², thuộc thửa 17 không thể chia được bằng hiện vật nên cấp sơ thẩm tính giá trị để hoàn trả là phù hợp. Căn cứ theo quy định tại khoản 2 Điều 651 của Bộ luật Dân sự năm 2015, những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.

Bà Võ Thúy D2 là con riêng của ông Q nên được hưởng thừa kế theo kỷ phần bằng với các anh chị em còn lại trong một phần hai giá trị tài sản của ông Q trong khối tài sản chung với bà Ngọc A. Cụ thể: 999.000.000 đồng chia làm 02 phần, phần của ông Q là 499.500.000 đồng (làm tròn), bà D2 được hưởng một phần chín số tiền này là 55.500.000 đồng.

Sau khi trừ 55.500.000 đồng bà D2 được hưởng vào tổng giá trị di sản 999.000.000 đồng thì còn lại 943.500.000 đồng sẽ được chia đều cho 08 người con chung của ông Q, bà Ngọc A mỗi người được hưởng 01 phần thừa kế là 1/8 di sản, tương đương tổng giá trị quyền sử dụng đất 943.500.000đồng : 8 = 117.937.000đồng (giá trị 01 phần thừa kế theo pháp luật).

[4] Trong quá trình giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm, ông D, bà N2, ông T, bà Võ Thị D1, ông L1, bà P1, bà Võ Thúy D2 xác định căn nhà trên đất là tài sản của ông P xây không phải là di sản thừa kế. Do đó, ông P được hưởng toàn bộ nhà, đất diện tích 99,9m², tại thửa số 17, tờ bản đồ số 05 tại Khu V, phường H, thành phố Cần Thơ, tỉnh Cần Thơ (Nay là Khu V, phường H, quận C, Thành phố Cần Thơ), đồng thời thối lại giá trị một suất thừa kế cho bà N 117.937.000 đồng, ghi nhận ông P tự nguyện hỗ trợ công sức đóng góp cho bà N 40.000.000 đồng.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Đỗ Tấn L cho rằng đã sửa chữa làm hàng rào sắt, trần la phông với tổng số tiền 57.000.000 đồng nhưng không có giấy tờ chứng minh. Tuy nhiên, các đương sự trong vụ án cũng thừa nhận việc ông L sửa chữa hàng rào và đóng trần la phong. Theo Biên bản định giá tài sản ngày 10/01/2024, giá trị hàng rào 12.109.500 đồng, hàng rào sắt 730.000 đồng, thay mới la phông 1.462.500 đồng, tổng số tiền là 14.302.000 đồng. Cấp sơ thẩm chấp nhận phần ông L đã sửa chữa và buộc ông P phải trả số tiền này cho ông L là có cơ sở.

[5] Xét yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn ông Võ Tấn P, bị đơn bà Võ Kim N, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Đỗ Tấn L, Nhận thấy, tại phiên tòa các đương sự thống nhất thỏa thuận:

  • Ông Võ Tấn P thống nhất trả cho ông Võ Tấn L2 số tiền đóng góp sửa chữa nhà là 30.000.000 đồng.
  • Ông Võ Tấn P có nghĩa vụ hoàn trả cho bà Võ Kim N 160.282.000 đồng (tiền được hưởng thừa kế sau khi đã quy ra giá trị) và 40.000.000 đồng tiền hỗ trợ công sức đóng góp, tổng số tiền phải trả là 200.282.000đồng.

Về phương thức thực hiện nghĩa vụ thanh toán, ông Võ Tấn P thực hiện trả số tiền 230.282.000 đồng cho bà Võ Kim N, ông Đỗ Tấn L 02 đợt, như sau:

Đợt 1: Vào ngày 01/3/2025, ông P trả cho ông L 30.000.000đồng.

Đợt 2: Vào ngày 01/4/2025, ngay sau khi ông L, bà N giao nhà cho ông P thì ông P sẽ giao hết số tiền còn lại 200.282.000đồng cho bà N.

Sau khi ông Võ Tấn P hoàn trả hết số tiền trên, trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày 01/03/2025 đến ngày 01/04/2025, buộc bà Võ Kim N và ông Võ Tấn L2 phải giao trả nhà đất tại số E, tổ A, khu V, phường H, quận C, Thành phố Cần Thơ) theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số Q 107643, số vào sổ 00794 do Ủy ban nhân dân Thành phố C, tỉnh Cần Thơ cấp ngày 17/4/2000 cho ông Võ Ngọc Q, nêu trên cho ông Võ Tấn P quản lý sử dụng. Ông Võ Tấn P được quyền liên hệ cơ quan chức năng thực hiện thủ tục điều chỉnh, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất sang tên ông P theo quy định pháp luật.

Xét thấy, việc thỏa thuận giữa các đương sự là hoàn toàn tự nguyện, không trái quy định của pháp luật nên công nhận. Quan điểm của đại diện viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp với nhận định của Hội đống xét xử nên chấp nhận.

[8] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do sửa án sơ thẩm nên công nhận sự thỏa thuận của các đương sự nên không ai phải chịu án phí.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 300, khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự như sau:

  1. Các đương sự thống nhất với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Võ Tấn P và yêu cầu độc lập của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Võ Thanh L1, ông Võ Hoàng D, bà Võ Thị P1, ông Võ Lâm Thanh T, bà Võ Minh N2, bà Võ Thúy D2 về việc chia thừa kế theo quy định pháp luật đối với quyền sử dụng đất diện tích 99.9m (ODT), tại thửa số 17, tờ bản đồ số 05, địa chỉ đất tại Khu V, phường H, thành phố Cần Thơ, tỉnh Cần Thơ và thông nhất ông Võ Thanh L1, ông Võ Hoàng D, ông Võ Lâm Thanh T, bà Võ Thị P1, bà Võ Minh N2, bà Võ Thị Diễm T1 cho toàn bộ kỷ phần thừa kế cho ông Võ Tấn P hưởng.
  2. Công nhận bà Võ Thị Diễm T1 cho kỷ phần thừa kế của mình cho ông Võ Tấn P
  3. Ông Võ Tấn P thống nhất trả cho ông Võ Tấn L2 số tiền đóng góp sửa chữa nhà là 30.000.000 đồng.
  4. Các đương sự thống nhất ông Võ Tấn P được hưởng thừa kế quyền sử dụng đất diện tích 99.9m (ODT) và căn nhà trên đất tại thửa số 17, tờ bản đồ số 05, địa chỉ nhà đất tại Khu V, phường H, thành phố Cần Thơ, tỉnh Cần Thơ (N là Khu V, phường H, quận C, Thành phố Cần Thơ) theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số Q 107643, số vào sổ cấp GCN 00794 do Ủy ban nhân dân Thành phố C, tỉnh Cần Thơ cấp ngày 17/4/2000 cho ông Võ Ngọc Q (Kèm theo Bản trích đo địa chính số 27/VPĐKĐĐ ngày 06/5/2024 của Văn phòng Đăng ký đất đai Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố C).
  5. Ông Võ Tấn P có nghĩa vụ hoàn trả cho bà Võ Kim N 160.282.000 đồng (tiền được hưởng thừa kế theo thỏa thuận) và 40.000.000 đồng tiền hỗ trợ công sức đóng góp, tổng số tiền phải trả là 200.282.000đồng.

    Về phương thức thực hiện nghĩa vụ thanh toán, ông Võ Tấn P thực hiện trả số tiền 230.282.000 đồng cho bà Võ Kim N, ông Đỗ Tấn L 02 đợt, như sau:

    • - Đợt 1: Vào ngày 01/3/2025, ông P trả cho ông L 30.000.000đồng.
    • - Đợt 2: Vào ngày 01/4/2025, ngay sau khi ông L, bà N giao nhà cho ông P thì ông P sẽ giao hết số tiền còn lại 200.282.000đồng cho bà N.

    Sau khi ông Võ Tấn P hoàn trả hết số tiền trên, trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày 01/03/2025 đến ngày 01/04/2025, buộc bà Võ Kim N và ông Võ Tấn L2 phải giao trả nhà đất tại số E, tổ A, khu V, phường H, quận C, Thành phố Cần Thơ) theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số Q 107643, số vào sổ 00794 do Ủy ban nhân dân Thành phố C, tỉnh Cần Thơ cấp ngày 17/4/2000 cho ông Võ Ngọc Q, nêu trên cho ông Võ Tấn P quản lý sử dụng. Ông Võ Tấn P được quyền liên hệ cơ quan chức năng thực hiện thủ tục điều chỉnh, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất sang tên ông P theo quy định pháp luật.

  6. Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ: Ghi nhận ông P tự nguyện chịu toàn bộ chi phí đo đạc, định giá tài sản 5.890.000 đồng (đã thực hiện xong).
  7. Về án phí dân sự sơ thẩm: Ghi nhận ông Võ Tấn P tự nguyện án phí cho tất cả các đương sự phải chịu án phí trong vụ án này 36.104.000 đồng. Khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí ông P đã nộp 300.000 đồng theo Biên lai số 0003052 ông phải nộp thêm 35.896.000 đồng; Bà N3 được nhận lại 2.500.000 đồng theo B lại số 0003123 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Cái Răng. Bà P1 được nhận lại 2.500.000 đồng theo Biên lai số 0003122 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Cái Răng. Ông T được nhận lại đã nộp 2.500.000 đồng theo Biên lai số 0003120 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Cái Răng. Bà Võ Thúy D2 được được nhận lại 2.500.000 đồng theo B lại số 0003121 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Cái Răng.

    Do ông Võ Tấn P tự nguyện trả thêm chi phí sửa chữa nhà cho ông Đỗ Tấn L nên không phải chịu án phí.

  8. Về án phí dân sự phúc thẩm: Bà Võ Kim N, ông Võ Tấn L2 không phải chịu nên được nhận lại 300.000đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lại thu số 0000197 ngày 06/10/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự quận Cái Răng.

    Ông Võ Tấn P không phải chịu án phí nên được nhận lại tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu số 0003642 ngày 07/8/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ.

  9. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
  10. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - Viện KSND thành phố Cần Thơ;
  • - Tòa án nhân dân quận Cái Răng;
  • - Chi cục THADS quận Cái Răng;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Võ Bích Hải

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 63/2025/DS – PT ngày 27/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tranh chấp về thừa kế nhà, đất

  • Số bản án: 63/2025/DS – PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về thừa kế nhà, đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 27/02/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Thừa kế tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger