|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
|
|
|
|
Bản án số: 63/2025/DS-PT Ngày: 23/01/2025 V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản |
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI | |
| - Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có: | |
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Ông Cao Anh Tuấn |
| Các Thẩm phán: | Ông: Đàm Văn Thuận |
| Ông: Chu Tuấn Anh | |
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Minh Đức - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân: Bà Nguyễn Thị Phương Lan - Kiểm sát viên tham gia phiên toà.
Ngày 23 tháng 01 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội, xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 616/2024/TLPT-DS ngày 16 tháng 12 năm 2024, về việc “ Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số 115/2024/DS-ST ngày 20 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 13/2025/QĐPT-DS ngày 07 tháng 01 năm 2025; Quyết định hoãn phiên tòa số 32/2025/QĐHPT-PT ngày 15 tháng 01 năm 2025 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ông Hoàng Xuân T, sinh năm 1960;
Nơi đăng ký thường trú: Tổ dân phố C, phường N, quận Đ, thành phố Hải Phòng; Nơi ở: Số B đường L, phường N, quận Đ, thành phố Hải Phòng.
Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Bích H, sinh năm sinh 1958;
Nơi thường trú: Số A phố Đ, phường Đ, quận H, thành phố Hà Nội.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
Bà Chu Lan A, sinh năm 1965 (vợ ông T);
Nơi đăng ký thường trú: Tổ dân phố C, phường N, quận Đ, thành phố Hải Phòng; Nơi ở: Số B đường L, phường N, quận Đ, thành phố Hải Phòng.
Tại phiên toà có mặt: ông T, bà H; vắng mặt: bà Lan A.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo nội dung đơn khởi kiện, các lời khai tại Toà án và tại phiên tòa nguyên đơn là ông Hoàng Xuân T trình bày: Ông không quen biết hay có họ hàng gì với bà H. Bản chất sự việc không phải là việc vay tiền để giải quyết công việc mà do người quen là chị M là cháu bà Nguyễn Thị Bích H giới thiệu bà H xin được việc cho con gái ông vào ngành công an để làm việc. Khi gặp bà H, bà mặc trang phục công an nên ông tin tưởng, ông đặt vấn đề nhờ bà H xin cho con gái đi làm tại Bộ C. Bà H nói với ông chi phí 500 triệu đồng và phải đưa trước 250 triệu đồng, sau Tết nhận quyết định thì sẽ giao hết tiền. Ông đồng ý giao tiền, giao tại nhà riêng của bà H, giao tiền mặt và có viết giấy. Ông yêu cầu viết giấy xin việc cho con ông, 03 tháng không hoàn thành thì phải trả lại tiền cho ông nhưng bà H đề nghị viết giấy vay tiền. Vì vậy, vào ngày 26/10/2015, bà Nguyễn Thị Bích H có viết giấy vay tiền, nội dung vay của ông số tiền 250 triệu đồng để giải quyết công việc, trong giấy không ghi thỏa thuận về lãi và không có thời hạn, hai bên chỉ nói miệng với nhau là sau 03 tháng (tức ngày 26/01/2016) nếu không hoàn thành xin việc cho con ông thì phải trả tiền ông. Đến hạn ngày 26/01/2016, ông không thấy có kết quả, ông có lên nhà bà H tìm hiểu thì mới biết lúc đó bà H đã về hưu nhưng bà H vẫn mặc quần áo công an tiếp ông, cảm thấy có vấn đề, ông xem lại mẫu hồ sơ xin việc bà H đưa cho ông thì là hồ sơ trên mạng chứ không phải do Bộ C phát hành. Từ tháng 01/2016 ông liên tục đòi tiền nhưng bà H không trả ông. Đến ngày 15/01/2022, vì ông đòi quá nhiều mà bà H không trả, ông nói sẽ làm đơn lên công an thì bà H lại khất và viết cho ông giấy hẹn trả nợ. Nội dung từ tháng 3/2022 sẽ trả cho ông mỗi tháng 10 triệu đồng. Tuy nhiên, bà H chỉ trả ông được 50 triệu đồng thì ngừng trả, bà H đã vi phạm cam kết trên. Ngày 04/01/2023, ông đã làm đơn tố giác tội phạm đối với bà H tại Công an quận H, thành phố Hà Nội. Tại Thông báo số 382A/TB-ĐTTH ngày 08/10/2023, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận H đã ra thông báo về việc không khởi tố vụ án hình sự.
Nay, ông khởi kiện bà H, đề nghị Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng buộc bà Nguyễn Thị Bích H phải trả ông số tiền 400 triệu đồng, cụ thể: Số tiền gốc là 250 triệu đồng bà H vay từ 26/10/2015; Số tiền lãi tạm tính đến ngày 26/10/2023 là 200 triệu đồng (ông tính 10%/01 năm), bà H đã thanh toán 50 triệu đồng, số tiền lãi còn phải thanh toán tính đến ngày 26/10/2023 là 150 triệu đồng; Bà H phải tiếp tục phải trả lãi cho số tiền gốc còn nợ theo lãi suất 10%/ năm kể từ ngày 01/11/2023 cho đến khi trả hết nợ.
Ông có vợ là bà Chu Lan A, hiện đang ở cùng ông, số tiền 250 triệu đồng ông đưa cho bà H là tiền riêng của ông, không liên quan gì đến bà Lan A. Quá trình ông đưa tiền cho bà H thì bà Lan A cũng không chứng kiến, không tham gia, vì vậy, ông đề nghị Tòa án không đưa bà Lan A vào tham gia tố tụng.
Bị đơn là bà Nguyễn Thị Bích H trình bày: Ngày 26/10/2015, bà có viết giấy vay tiền, nội dung vay của ông Hoàng Xuân T số tiền 250 triệu đồng để giải quyết công việc. Do không trả được khoản vay, ngày 15/02/2022, bà viết Giấy hẹn trả nợ tiền vay có nội dung: bà xác nhận vay của ông T 250 triệu đồng theo Giấy vay tiền ngày 26/10/2015 và cam kết sẽ trả dần ông T số tiền vay mỗi tháng 10 triệu đồng. Thời gian trả bắt đầu từ tháng 3/2022. Từ tháng 3/2022 đến tháng 8/2022, bà đã trả được cho ông T số tiền 50 triệu đồng. Đến nay, bà xác nhận còn nợ ông T số tiền 200 triệu đồng.
Nay, ông T khởi kiện yêu cầu bà phải trả khoản tiền gốc là 250 triệu đồng và tiền lãi tính trên số tiền vay từ năm 2015 cho đến nay, bà không đồng ý. Bà đề nghị xác định bà chỉ còn nợ ông T số tiền gốc là 200 triệu. Bà đồng ý trả nợ cho ông T và cho bà trả dần số tiền 200 triệu đồng trên, cụ thể: Từ ngày 15/8/2024 bà sẽ trả cho ông T mỗi tháng 2,5 triệu đồng, trả 2 tháng 1 lần là 05 triệu đồng, kỳ tiếp theo là ngày 15/10/2024 và trả cho đến khi hết nợ. Về số tiền lãi, bà xin không trả lãi vì bây giờ hoàn cảnh của bà đang khó khăn, phải ở nhà thuê, Công ty do bà đầu tư đã phá sản, hiện bà không có thu nhập gì việc trả dần tiền gốc là bà đã cố gắng hết sức.
Khoản tiền 250 triệu đồng bà vay ông T để giải quyết việc cá nhân, khi vay chỉ có mình bà vay, thời điểm vay bà đã ly hôn chồng cũ là ông Phạm Xuân K.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là bà Chu Lan A, vợ ông Hoàng Xuân T trình bày: Bà là vợ ông Hoàng Xuân T, việc ông T đưa số tiền 250 triệu đồng cho bà Nguyễn Thị Bích H để xin việc cho con gái, bà có biết. Tuy nhiên, đây là số tiền riêng của ông T, không phải tài sản chung của vợ chồng. Vì vậy, bà đề nghị Tòa án không triệu tập bà đến phiên tòa, bà xin vắng mặt tại các buổi làm việc của Tòa án, văng mặt tại phiên tòa xét xử việc vay nợ giữa ông T với bà H.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số 115/2024/DS-ST ngày 20/8/2024 của Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội đã xử:
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Hoàng Xuân T về việc buộc bà Nguyễn Thị Bích H phải trả khoản tiền vay theo Giấy vay tiền đề ngày 26/10/2015; Giấy hẹn trả nợ tiền vay ngày15/02/2022.
- Buộc bà Nguyễn Thị Bích H phải trả ông Hoàng Xuân T số tiền gốc vay 200.000.000 đồng (hai trăm triệu đồng).
- Buộc bà Nguyễn Thị Bích H phải trả ông Hoàng Xuân T số tiền lãi chậm trả tính trên nợ gốc đến ngày xét xử là: 16.315.600 đồng (mười sáu triệu, ba trăm mười lăm nghìn, sáu trăm đồng).
- Tổng số tiền gốc và lãi bà Nguyễn Thị Bích H phải trả ông Hoàng Xuân T là 216.315.600 đồng (hai trăm mười sáu triệu, ba trăm mười lăm nghìn, sáu trăm đồng).
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất 10%/năm.
Ngoài ra bản án còn quyết định về án phí và quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật.
Không đồng ý với Bản án dân sự sơ thẩm số 115/2024/DS-ST ngày 20/8/2024 của Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội: Ngày 30/8/2024, ông Hoàng Xuân T có đơn kháng cáo toàn bộ Bản án, đề nghị Toà án cấp phúc thẩm xem xét tính lại số tiền nợ gốc là 250.000.000 đồng và tính lại số tiền nợ lãi từ ngày bà H nhận tiền; Ngày 27/8/2024, bà Nguyễn Thị Bích H có đơn kháng cáo toàn bộ Bản án.
Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, yêu cầu kháng cáo; bị đơn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo; các đương sự không thoả thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án. Bà H trình bày và xuất trình tài liệu bản photo thể hiện sau khi xét xử sơ thẩm bà đã chuyển khoản trả được ông T 02 lần: lần 01 ngày 25/10/2024 số tiền 5.000.000 đồng, lần 02 ngày 08/01/2025 số tiền 5.000.000 đồng. Ông T trình bày số tài khoản bà H chuyển trả ông đã không sử dụng nữa nên không có cơ sở xác định bà H đã trả hay chưa. Bà H không có tài liệu bản chính về việc chuyển khoản trả ông T và bà đề nghị sẽ kiểm tra lại và trừ vào số tiền vay khi thi hành bản án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội phát biểu quan điểm:
Về tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay, người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng chấp hành đầy đủ các quy định của bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Sau khi phân tích các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và trình bày của đương sự tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhân kháng cáo của bà Nguyễn Thị Bích H và ông Hoàng Xuân T; Áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự, giữ nguyên Bản án sơ thẩm số 115/2024/DS-ST ngày 20/8/2024 của Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội. Về án phí dân sự phúc thẩm: Bà Nguyễn Thị Bích H và ông Hoàng Xuân T là người cao tuổi và có đơn đề nghị được miễn án phí nên được miễn án phí dân sự sơ thẩm, phúc thẩm theo quy định tại Điều 2 Luật Người cao tuổi và quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, căn cứ kết quả hỏi và tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định:
[1] Về áp dụng pháp luật tố tụng: Đơn kháng cáo của nguyên đơn là ông Hoàng Xuân T và bị đơn là bà Nguyễn Thị Bích H đảm bảo về chủ thể, nội dung và thời hạn theo quy định tại các Điều 271, 272 và 273 Bộ luật tố tụng dân sự nên việc kháng cáo là hợp lệ. Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội giải quyết là đúng thẩm quyền. Bà Chu Lan A đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến phiên toà nhưng bà Lan A vắng mặt và có ý kiến đề nghị xét xử vắng mặt nên xét xử vắng mặt bà Lan A theo quy định tại khoản 2 Điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung vụ án: Xét yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn, bị đơn Hội đồng xét xử xét thấy:
[2.1] Về số tiền nợ gốc: Các đương sự đều thừa nhận, ngày 26/10/2015 ông Hoàng Xuân T giao cho bà Nguyễn Thị Bích H số tiền 250 triệu đồng và bà H viết Giấy vay tiền ngày 26/10/2015 có nội dung vay của ông số tiền 250 triệu đồng để giải quyết công việc. Do không trả được khoản vay, ngày 15/02/2022, ông T và bà H thoả thuận viết Giấy hẹn trả nợ tiền vay có nội dung: bà H xác nhận vay của ông T 250 triệu đồng theo Giấy vay tiền ngày 26/10/2015 và cam kết sẽ trả dần ông T số tiền vay mỗi tháng 10 triệu đồng; thời gian trả bắt đầu từ tháng 3/2022. Đây là thỏa thuận mới, thay thế Giấy vay tiền ngày 26/10/2015. Xét thấy, Giấy vay tiền đề ngày 26/10/2015 và Giấy hẹn trả nợ tiền vay ngày15/02/2022 có nội dung bà H vay của ông T số tiền 250 triệu đồng. Đây là hợp đồng vay tài sản, nội dung và hình thức của hợp đồng phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 463 Bộ luật dân sự 2015 nên có hiệu lực đối với các bên.
Tại Tòa án, bà H và ông T đều xác nhận: Từ tháng 3/2022 đến ngày 24/10/2023 bà H đã trả cho ông T nhiều lần với tổng số tiền là 50 triệu đồng. Theo nội dung thoả thuận tại Giấy hẹn trả nợ tiền vay ngày15/02/2022 số tiền 50 triệu đồng bà H đã trả ông T được trừ vào khoản nợ gốc. Toà án cấp sơ thẩm xác định bà H có nghĩa vụ trả nợ tiền vay và xác định số tiền nợ gốc còn phải trả ông T theo Giấy hẹn trả nợ tiền vay ngày15/02/2022 là 200 triệu đồng là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
[2.2] Về số tiền nợ lãi: Giấy vay tiền ngày 26/10/2015 và Giấy hẹn trả nợ tiền vay ngày15/02/2022 các bên không thỏa thuận về lãi vay nên được xác định là vay không có lãi. Ông T và bà H xuất trình tài liệu và xác nhận bà H ngừng trả nợ tiền vay từ ngày 24/10/2023 nên bà H vi phạm nghĩa vụ trả nợ tiền vay từ ngày 25/10/2023. Toà án cấp sơ thẩm xác định số tiền nợ lãi bà H phải trả ông T là 200.000.000 đồng x (09 tháng 24 ngày) x 0,833%/tháng = 16.315.600 đồng là đúng quy định tại khoản 4 Điều 466 và khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự 2015.
[3] Về lãi suất chậm thi hành án: Theo quy định tại Điều 357, Điều 468 và hướng dẫn tại điểm b khoản 1 Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao thì kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả khoản tiền hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 nên cần sửa bản án sơ thẩm về cách tuyên án đối với việc chậm thực hiện nghia vụ thanh toán.
[4] Về án phí dân sự sơ thẩm: Bản án sơ thẩm quyết định bà Nguyễn Thị Bích H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 10.815.780 đồng là đúng quy định của pháp luật. Tuy nhiên, tại cấp phúc thẩm bà H có đơn kháng cáo toàn bộ bản án và đơn đề nghị miễn nộp tiền án phí nên Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận một phần kháng cáo của bà H, miễn nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm đối với bà H theo quy định tại Điều 2 Luật Người cao tuổi và quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.
Như đã nhận định trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy: Toà án cấp sơ thẩm đã xác định tổng số tiền nợ gốc và nợ lãi bà Nguyễn Thị Bích H phải trả cho ông Hoàng Xuân T là 216.315.600 đồng là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật; kháng cáo của ông Hoàng Xuân T đối với Bản án sơ thẩm số 115/2024/DS-ST ngày 20/8/2024 của Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội là không có cơ sở nên không được chấp nhận; chấp nhận một phần kháng cáo của bà H, sửa Bản án sơ thẩm về cách tuyên án và án phí.
Nhận định của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội cơ bản phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Về án phí: Ông Hoàng Xuân T và bà Nguyễn Thị Bích H là người cao tuổi và có đơn đề nghị được miễn án phí nên được miễn nộp án phí dân sự phúc thẩm theo quy định tại Điều 2 Luật Người cao tuổi và quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Điều 271, Điều 273 và Điều 309 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 357, Điều 466 và Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 2 Luật Người cao tuổi; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội;
Tuyên xử:
Sửa một phần Bản án dân sự sơ thẩm số 115/2024/DS-ST ngày 20/8/2024 của Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội, cụ thể như sau:
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là ông Hoàng Xuân T đối với bị đơn là bà Nguyễn Thị Bích H.
- Trường hợp Quyết định này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
- Về án phí: Miễn nộp án phí dân sự sơ thẩm và án phí dân sự phúc thẩm đối với ông Hoàng Xuân T và bà Nguyễn Thị Bích H.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Buộc bà Nguyễn Thị Bích H trả cho ông Hoàng Xuân T tổng số tiền là 216.315.600 đồng (hai trăm mười sáu triệu, ba trăm mười lăm nghìn, sáu trăm đồng), trong đó nợ gốc là 200.000.000 đồng và tiền nợ lãi là 16.315.600 đồng (mười sáu triệu, ba trăm mười lăm nghìn, sáu trăm đồng).
Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả khoản tiền hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Cao Anh Tuấn (Đã ký) |
Bản án số 63/2025/DS-PT ngày 23/01/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 63/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 23/01/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ông Hoàng Xuân t - Bà Nguyễn Thị Bích H
