|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 63/2025/DS-PT Ngày: 11 - 6 - 2025. “V/v Tranh chấp về đất đai” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Thúy Quỳnh.
Các Thẩm phán: Nguyễn Quang Trung, bà Đoàn Thị Kiều Hương
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Phương Thuý - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Tâm - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 09 và 11 tháng 6 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An, xét xử phúc thẩm công khai vụ án Dân sự phúc thẩm thụ lý số 100/2022/TLPT-DS ngày 21 tháng 12 năm 2021 về việc “Tranh chấp về đất đai”. Do Bản án Dân sự sơ thẩm số 51/2021/DS-ST ngày 28/9/2021 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Chương bị kháng cáo; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 84/2025/QĐPT-DS ngày 15/5/2025; Quyết định hoãn phiên tòa số 244/2025/QĐ-PT ngày 30/5/2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Võ Thị T, sinh năm 1946; địa chỉ: Thôn A, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt. Cóp đơn xin xét xử vắng mặt.
- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn Q, sinh năm 1963; bà Phan Thị M, sinh năm 1969. Cùng trú tại: Thôn A, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An. Có mặt.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn: Luật sư Nguyễn Vinh D. Văn phòng Luật sư Vinh D và Cộng sự - Đoàn Luật sư tỉnh N. Có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
+ Ủy ban nhân dân huyện T:
Người đại diện theo uỷ quyền: bà Nguyễn Thị H - Phó Trưởng phòng Phòng Nông nghiệp và Môi trường huyện. Vắng mặt. Có văn bản xin xét xử vắng mặt.
+ Ủy ban nhân dân xã T:
Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Cảnh N. Chức vụ: Chủ tịch. Vắng mặt. Có văn bản xin xét xử vắng mặt.
+ Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1926. Trú tại: Thôn A, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
1
+ Anh Nguyễn Danh H1, sinh năm 1976. Trú tại: Đường H, phường H, thành phố P, tỉnh Đắk Lắk. Vắng mặt.
+ Chị Nguyễn Thị H2, sinh năm 1984. Địa chỉ: thôn D, xã T, huyện K, tỉnh Đắk Lắk. Vắng mặt.
+ Chị Nguyễn Thị H3, sinh năm 1984. Địa chỉ: Số A, tỉnh lộ 10, phường T, quận B, thành phố Hồ Chí Minh. Vắng mặt.
+ Chị Nguyễn Thị H4, sinh năm 1986. Địa chỉ: Tổ D, thị trấn P, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.
Anh H1, chị H2, chị H3, chị H4 đều có văn bản xin xét xử vắng mặt.
Người đại diện theo ủy quyền của bà T, bà L, anh H1, chị H2, chị H3, chị H4: Ông Nguyễn Danh H5, sinh năm 1960. Trú tại: Thôn A, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An. Có mặt.
Người kháng cáo: Ông Nguyễn Văn Q.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 20/10/2020, bản tự khai, biên bản hòa giải và tại phiên tòa, người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn, ông Nguyễn Danh H5 trình bày:
Năm 2006, gia đình bà T được Ủy ban nhân dân (viết tắt UBND) huyện T, tỉnh Nghệ An cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng (viết tắt GCNQSD) đất đối với thửa đất số 160, tờ bản đồ số 2 thuộc khu vực khe H, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An mang tên ông Nguyễn Danh T1 là chồng của bà, với phần diện tích được cấp là 45.140m². Trong quá trình giao đất, do không xác định được vị trí cụ thể đối với thửa đất cho nên gia đình bà đã làm lấn sang phần đất của hộ gia đình khác. Còn thửa đất số 160, tờ bản đồ số 2 đã được cấp cho gia đình mình thì ông Nguyễn Văn Q và bà Phan Thị M sử dụng. Năm 2015, chồng bà T là ông Nguyễn Danh T1 chết. Khi ông Nguyễn Danh T1 chết thì mẹ ông T1 là bà Nguyễn Thị L và các con ông T1 là Nguyễn Danh H6, Nguyễn Thị H2, Nguyễn Thị H4 và Nguyễn Thị H3 sống cùng nhau và không phân chia tài sản đối với thửa đất này mà vẫn để sử dụng chung. Năm 2019, bà phát hiện thửa đất đã được cấp cho gia đình bà đang do gia đình ông Nguyễn Văn Q và bà Phan Thị M sử dụng nên đã yêu cầu trả lại nhưng gia đình ông Q không đồng ý.
Hiện nay, trên thửa đất này ông Nguyễn Văn Q và bà Phan Thị M đã trồng keo và chè.
Nay bà yêu cầu ông Q và bà M trả lại phần diện tích đất trên cho bà. Đối với các cây cối đang trồng trên thửa đất và tài sản khác, bà đề nghị trích trả cho ông Q và bà M giá trị tài sản, không yêu cầu ông Q và bà M thu hoạch, di dời toàn bộ để trả lại phần đất đó.
Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, bị đơn ông Q, bà M trình bày:
Thửa đất 160, tờ bản đồ số 2, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An mà hiện nay ông bà đang sử dụng có nguồn gốc là vào năm 2005, gia đình ông và bà được cán bộ
2
địa chính xã T và cấp trên cụ thể làm gì ở đâu thì ông bà không biết đã tiến hành giao cho gia đình ông bà sử dụng. Sau khi được giao thì gia đình ông bà đã trồng một phần diện tích chè từ năm 2007, còn một phần diện tích thì ông và bà đã trồng keo từ năm 2017 và sử dụng ổn định từ đó cho đến nay và chỉ có bản thân ông bà sử dụng ở thửa đất đó. Ngoài ra không có ai đóng góp gì trên thửa đất đó. Năm 2019, thì xảy ra tranh chấp với gia đình bà Võ Thị T. Bà Thân yêu C ông bà trả lại phần diện tích đất trên thì ông bà không đồng ý.
Với nội dung trên, Bản án Dân sự sơ thẩm số 51/2021/DS-ST ngày 28/9/2021 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An đã quyết định: Căn cứ khoản 9 Điều 26; khoản 1 Điều 147; Điều 157; Điều 165 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 166 của Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 100; Điều 202; Điều 203 Luật Đất đai; khoản 4 Điều 26 Nghị quyết số 326/UBTVQH ... xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà T. Buộc ông Q và bà M trả lại cho bà T, các con của bà T và ông T1 và mẹ đẻ của ông T1 45.140m² đất tại thửa đất số 160, tờ bản đồ số 2, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An có giá trị 203.130.000 đồng.
Giao cho bà T được quyền sở hữu: Phần diện tích trồng chè: 6.824m². Giá trị phần cây trồng này là 6.824m² x 16.000 cây/ha x 8000 đồng/cây = 87.347.200 đồng.
Phần diện tích trồng keo trên 3 năm tuổi 9.279m². Giá trị phần cây trồng trên diện tích này là 46.395.000 đồng.
Phần diện tích trồng keo dưới 3 năm tuổi: 10.243m². Giá trị phần cây trồng trên diện tích này là 40.972.000 đồng. (Về diện tích cụ thể có sơ đồ kèm theo).
Buộc bà T trả cho ông Q bà M trị giá các cây đã trồng trên thửa đất số 160, tờ bản đồ số 2, xã T là 174.714.200 đồng.
Buộc ông Q, bà M trả cho bà T số tiền chi phí thẩm định là 5.510.000 đồng.
Kỷ phần: Ông Nguyễn Văn Q: 2.755.000.đồng; bà Phan Thị M: 2.755.000 đồng.
Về án phí: Buộc ông Nguyễn Văn Q, bà Phan Thị M phải chịu 300.000 đồng tiền án phí đòi lại tài sản và 8.735.700 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Kỷ phần: Ông Nguyễn Văn Q: 4.517.800 đồng; bà Phan Thị M: 4.517.000 đồng.
Bản án còn quyết định về lãi suất do chậm thi hành án, nghĩa vụ thi hành án, thỏa thuận thi hành án, án phí và quyền kháng cáo của các đương sự trong vụ án.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 08 tháng 10 năm 2021, ông Nguyễn Văn Q kháng cáo với nội dung: Bác bỏ đơn khởi kiện của bà T vì ông không lấn chiếm đất của bà T.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Toà án cấp phúc thẩm đã tiến hành xem xét thẩm định, định giá lại tại sản đang tranh chấp theo yêu cầu của nguyên đơn. Kết quả như sau:
Về xem xét thẩm định: Tài sản trên thửa đất số 160, tờ bản đồ số 2, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An gồm có: cây keo trên 01 năm tuổi; cây chè trồng vào
3
khoảng năm 2008; trên đất có 01 cái ao mới đào; có diện tích trồng sắn ăn củ. Đất hiện nay ông Q và bà M đang sử dụng; cây chè, cây sắn, cây keo do ông Q và bà M trồng; cái ao do ông Q và bà M mới múc (đào). Chi tiết diện tích trồng sắn, chè, keo và ao được thể hiện trong bản đo đạc.
Kết quả định giá: Thửa đất số 160, tờ bản đồ số 2, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An có giá 5.000 đồng/m²; cây keo trên 01 năm tuổi có giá 30.000.000 đồng/ha x 19.522m² = 58.566.000 đồng; cây chè trồng vào khoảng năm 2008 có giá 4.000 đồng/m² x 6.824m² = 27.296.000 đồng; diện tích ao trên thửa đất có giá 32.000 đồng/m² x 1.286m² = 41.152.000 đồng; có diện tích trồng sắn ăn củ có giá 3.000 đồng/kg.
Các đương sự không có ý kiến gì về kết quả xem xét thẩm định, định giá.
Tại phiên tòa phúc thẩm, ông Nguyễn Văn Q giữ nguyên kháng cáo và bổ sung các nội dung kháng cáo như sau: bỏ sót người liên quan là các con của ông bà; yêu cầu thanh toán công sức, tôn tạo đất. Đề nghị hủy bản án sơ thẩm để giải quyết lại.
Bà T, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không đồng ý với kháng cáo của ông Q. Đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm, giữa người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đứng về phía nguyên đơn là ông Nguyễn Danh H6 và các bị đơn ông Nguyễn Văn Q và bà Phan Thị M thỏa thuận được với nhau về các nội dung: Nguyên đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đứng về phía nguyên đơn đồng ý giao lại cho bị đơn ông Nguyễn Văn Q và bà Phan Thị M toàn bộ quyền sử dụng đất và tài sản trên đất đối với thửa đất số 160, diện tích 45.140m² tại khu vực C, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An; ông Nguyễn Văn Q và bà Phan Thị M có nghĩa vụ giao lại cho bà Võ Thị T và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đứng về phía nguyên đơn là thông qua người đại diện theo ủy quyền là ông Nguyễn Danh H6 số tiền 210.000.000 đồng (hai trăm mười triệu). Khi bị đơn giao đủ tiền thì nguyên đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đứng về phía nguyên đơn có nghĩa vụ giao lại GCNQSD đất cho bị đơn. Về chi phí tố tụng, nguyên đơn chịu toàn bộ. Ông Nguyễn Danh H6 có nghĩa vụ giao lại đầy đủ số tiền do bị đơn giao cho bà T, bà L và các con của bà T. Về án phí, đề nghị tòa án giải quyết theo quy định pháp luật.
Phát biểu của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tại phiên tòa:
- Về việc tuân theo pháp luật của những người tiến hành tố tụng: Trong quá trình từ khi thụ lý vụ án đến khi xét xử phúc thẩm, Thẩm phán được phân công đã thực hiện đúng quy định của pháp luật. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân theo đúng trình tự, thủ tục phiên tòa.
- Về việc chấp hành pháp luật của các đương sự: Nguyên đơn, bị đơn, người đại diện theo ủy quyền và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn đã chấp hành đúng quy định tại Điều 70, Điều 71, Điều 72, Điều 75, Điều 76, Điều 85, Điều 86 và Điều 294 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Quyền tranh tụng của các đương sự được bảo đảm.
4
- Về thủ tục kháng cáo: Ông Nguyễn Văn Q kháng cáo trong thời hạn luật định, có nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm nên được Tòa án cấp phúc thẩm thụ lý, giải quyết là đúng pháp luật.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An nêu quan điểm: Chấp nhận kháng cáo của bị đơn, sửa án sơ thẩm theo hướng công nhận sự thỏa thuận của các đương sự; về án phí, các đương sự phải chịu theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Về thủ tục kháng cáo:
Bị đơn, ông Nguyễn Văn Q có đơn kháng cáo đúng hạn và đã nộp tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm nên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An thụ lý vụ án là đúng quy định.
[1.2] Về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng:
Nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đứng về phía nguyên đơn vắng mặt nhưng đã có người đại diện theo uỷ quyền có mặt; UBND huyện T, UBND xã T có đơn xin xét xử vắng mặt, nên Hội đồng xét xử tiếp tục làm việc là đúng quy định pháp luật.
[2] Về nội dung:
Tại phiên tòa phúc thẩm, giữa người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đứng về phía nguyên đơn là ông Nguyễn Danh H6 và các bị đơn ông Nguyễn Văn Q và bà Phan Thị M thỏa thuận được với nhau về các nội dung của vụ án: Nguyên đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đứng về phía nguyên đơn đồng ý giao lại cho bị đơn ông Nguyễn Văn Q và bà Phan Thị M toàn bộ quyền sử dụng đất và tài sản trên đất đối với thửa đất số 160, diện tích 45.140m² tại khu vực C, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An đã được UBND huyện T cấp GCNQSD đất mang tên Nguyễn Danh T1 ngày 15/9/2005; ông Nguyễn Văn Q và bà Phan Thị M có nghĩa vụ giao lại cho bà Võ Thị T và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đứng về phía nguyên đơn là thông qua người đại diện theo ủy quyền là ông Nguyễn Danh H5 số tiền 210.000.000 đồng (hai trăm mười triệu). Khi bị đơn giao đủ tiền thì nguyên đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đứng về phía nguyên đơn có nghĩa vụ giao lại GCNQSD đất cho bị đơn.
Ông Nguyễn Danh H5 cam đoan có nghĩa vụ giao lại đầy đủ số tiền đã nhận từ bị đơn giao lại cho bà T, bà L và các con của bà T.
Về chi phí tố tụng, nguyên đơn tự nguyện chịu toàn bộ.
Về án phí, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật.
Tại phiên tòa ông Nguyễn Danh H5 khai, hiện nay bà T và bà L sức khỏe đã yếu, các con của bà T đều đi làm ăn xa không có nhu cầu sản xuất, sử dụng đối với thửa đất 160, ông Q và bà T đang canh tác trên đất, đã đầu tư trên đất trong thời gian qua và có nguyện vọng muốn được sử dụng lâu dài đối với thửa đất này.
5
Ông Q, bà M đồng ý như ý kiến ông H5. Ông H5, ông Q, bà M cam đoan sự thỏa thuận của hai bên là tự nguyện, không bị ép buộc nên đề nghị Tòa án chấp nhận.
Xét thấy, sự thỏa thuận này là tự nguyện, không vi phạm quy định của pháp luật nên chấp nhận.
Do đó, có căn cứ chấp nhận nội dung kháng cáo của bị đơn, sửa bản án sơ thẩm theo hướng công nhận sự thỏa thuận của các đương sự.
[5] Về án phí:
Nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Thị L là người cao tuổi, có đơn xin miễn án phí nên không phải chịu. Bị đơn ông Nguyễn Văn Q là người cao tuổi, không có đơn xin miễn án phí và bà Phan Thị M cùng các đương sự khác phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Về án phí đối với tài sản tranh chấp các đương sự đã thỏa thuận được tại phiên tòa: 210.000.000 đồng x 5% giá trị tài sản tranh chấp = 1.050.000 đồng : 6 người (gồm bà Phan Thị M, ông Nguyễn Văn Q, anh Nguyễn Danh H1, chị Nguyễn Thị H2, chị Nguyễn Thị H3, chị Nguyễn Thị H4) = 175.000 đồng/người.
[6] Về chi phí tố tụng:
Nguyên đơn đã nộp tạm ứng 20.000.000 đồng, đã chi phí hết và tự nguyện chịu toàn bộ nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[6] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị, Hội đồng xét xử không xem xét và đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 2 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự: chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Văn Q, sửa bản án sơ thẩm theo hướng công nhận sự thỏa thuận của các đương sự.
- Căn cứ Điều 300 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; xử:
Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự như sau:
Bà Võ Thị T, bà Nguyễn Thị L, anh Nguyễn Danh H1, chị Nguyễn Thị H2, chị Nguyễn Thị H3, chị Nguyễn Thị H4 có nghĩa vụ giao lại cho bị đơn ông Nguyễn Văn Q và bà Phan Thị M toàn bộ quyền sử dụng đất và tài sản trên đất là thửa đất số 160, diện tích 45.140m² tại khu vực C, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An, đã được UBND huyện T cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên Nguyễn Danh T1 ngày 15/9/2005 và được nhận từ ông Nguyễn Văn Q và bà Phan Thị M số tiền 210.000.000 đồng (hai trăm mười triệu) thông qua người đại diện theo ủy quyền là ông Nguyễn Danh H5.
Ông Nguyễn Văn Q và bà Phan Thị M được quyền nhận từ bà Võ Thị T, bà Nguyễn Thị L, anh Nguyễn Danh H1, chị Nguyễn Thị H2, chị Nguyễn Thị H3, chị Nguyễn Thị H4 toàn bộ quyền sử dụng đất và tài sản trên đất là thửa đất số
6
160, diện tích 45.140m² tại khu vực C, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An, đã được UBND huyện T cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên Nguyễn Danh T1 ngày 15/9/2005 và có nghĩa vụ giao lại cho bà Võ Thị T, bà Nguyễn Thị L, anh Nguyễn Danh H1, chị Nguyễn Thị H2, chị Nguyễn Thị H3, chị Nguyễn Thị H4 số tiền 210.000.000 đồng (hai trăm mười triệu) thông qua người đại diện theo ủy quyền là ông Nguyễn Danh H5.
Ông Nguyễn Danh H5 có nghĩa vụ giao lại số tiền 210.000.000 đồng (hai trăm mười triệu) cho bà Võ Thị T, bà Nguyễn Thị L, anh Nguyễn Danh H1, chị Nguyễn Thị H2, chị Nguyễn Thị H3, chị Nguyễn Thị H4. Bà Võ Thị T, bà Nguyễn Thị L, anh Nguyễn Danh H1, chị Nguyễn Thị H2, chị Nguyễn Thị H3, chị Nguyễn Thị H4 được quyền nhận từ ông Nguyễn Danh H5 số tiền 210.000.000 đồng (hai trăm mười triệu đồng).
Khi ông Nguyễn Văn Q và bà Phan Thị M giao đủ tiền thì bà Võ Thị T, bà Nguyễn Thị L, anh Nguyễn Danh H1, chị Nguyễn Thị H2, chị Nguyễn Thị H3, chị Nguyễn Thị H4 có nghĩa vụ giao lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 160, diện tích 45.140m² tại khu vực C, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An, đã được UBND huyện T cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên Nguyễn Danh T1 ngày 15/9/2005 cho ông Nguyễn Văn Q và bà Phan Thị M.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
- Về án phí: Căn cứ Điều 147, Điều 148 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm đ khoản 1 Điều 12; Điều 14; Điều 15; khoản 5 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
- Bà Võ Thị T là người cao tuổi, có đơn xin miễn án phí nên không phải nộp án phí dân sự sơ thẩm, án phí dân sự phúc thẩm và án phí chia tài sản.
- Ông Phan Văn Q1 và bà Phan Thị M phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn) án phí dân sự sơ thẩm.
- Về án phí phúc thẩm: Ông Nguyễn Văn Q phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn). Đã nộp đủ theo Biên lai số 0008962 ngày 15/10/2012 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thanh chương, tỉnh Nghệ An.
7
- Về án phí dân sự đối với tài sản do các đương sự thỏa thuận: ông Nguyễn Văn Q, bà Phan Thị M, anh Nguyễn Danh H1, chị Nguyễn Thị H2, chị Nguyễn Thị H3, chị Nguyễn Thị H4 mỗi người phải chịu 175.000 đồng (một trăm bảy mươi lăm nghìn đồng).
- Về chi phí tố tụng bà Võ Thị T tự nguyện chịu 20.000.000 đồng (hai mươi triệu), đã nộp đủ.
- Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
- Bản án dân sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận: - VKSND tỉnh Nghệ An; - TAND h. Thanh Chương; - Chi cục THADS h. Thanh Chương; - Các đương sự; - Lưu HSVA. |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Thúy Quỳnh |
8
Bản án số 63/2025/DS-PT ngày 11/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về tranh chấp về đất đai
- Số bản án: 63/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về đất đai
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/06/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: tranh chấp đất
