TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO BẰNG TỈNH CAO BẰNG Bản án số: 63/2024/HSST Ngày 17/4/2024 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ——————— |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO BẰNG, TỈNH CAO BẰNG:
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Dương Thị Hương Thảo.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thanh Vũ.
Ông Trịnh Văn Phương.
Thư ký phiên toà: Ông Vi Hoàng Tùng – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng tham gia phiên toà: Ông Đinh Mạnh Thông - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 25/2024/HSST ngày 06 tháng 02 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 95/2024/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 4 năm 2024 đối với các bị cáo:
1. Bế Ngọc H; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày: 25/9/1963 tại huyện H, tỉnh Cao Bằng; Nơi cư trú: tổ G, phường H, thành phố C, tỉnh Cao Bằng; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hoá: 02/10; dân tộc: Tày; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Bế Ngọc M; Sinh năm 1939; và bà: Hoàng Nguyệt B (Đã chết); vợ: Phạm Thanh T; Sinh năm: 1971; Con: có 01 con, sinh năm 1994; tiền án, tiền sự: không.
Tiền án: Bị cáo có 03 tiền án
- Ngày 26/6/2002 bị Tòa án nhân dân tỉnh Cao Bằng xử phạt 9 năm tù về Tội mua bán trái phép chất ma túy;
- Ngày 26/11/2010 bị Tòa án nhân dân huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng xử phạt 3 năm tù về Tội trộm cắp tài sản;
- Ngày 27/12/2016 bị Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng xử phạt 8 năm tù về Tội mua bán trái phép chất ma túy.
Tiền sự: Không.
Nhân thân:
- Ngày 29/7/1987 bị Tòa án nhân dân thị xã Cao Bằng (nay là thành phố C) xử phạt 01 năm tù về Tội trộm cắp tài sản của công dân;
- Ngày 13/8/1988 bị Tòa án nhân dân thị xã Cao Bằng (nay là thành phố C) xử phạt 09 tháng tù về Tội trộm cắp tài sản của công dân;
- Ngày 20/01/1997 bị Tòa án nhân dân thị xã Cao Bằng (nay là thành phố C) xử phạt 12 tháng tù về Tội tổ chức dùng chất ma túy;
- Ngày 25/3/1998 bị Tòa án nhân dân thị xã Cao Bằng (nay là thành phố C) xử phạt 12 tháng tù về Tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố C từ ngày 12/10/2023 đến nay. Hiện đang tạm giam theo Quyết định tạm giam số 127/2024/HSST-QĐTG ngày 04/4/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng; Có mặt.
2. Đinh Văn T1; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày: 26/02/1966 tại thành phố C, tỉnh Cao Bằng; Nơi thường trú: tổ D, phường Đ, thành phố C, tỉnh Cao Bằng; Chỗ ở hiện nay: tổ A, phường T, thành phố C, tỉnh Cao Bằng; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: 07/10; dân tộc: Tày; giới tính: nam, tôn giáo: không; quốc tịch Việt Nam; con ông Đinh Văn V (Đã chết) và bà Nguyễn Thị T2 (Đã chết); Vợ: Phạm Thanh H1 (Đã ly hôn); Con: bị cáo có 01 con, sinh năm 1995; Tiền án: Bị cáo có 04 tiền án:
- Năm 1996 bị Tòa án nhân dân thị xã Cao Bằng (nay là thành phố C) xử phạt 33 tháng tù về Tội tàng trữ trái phép chất ma túy và Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy;
- Ngày 27/8/1999 bị Tòa án nhân dân tỉnh Cao Bằng xử phạt 08 năm tù về Tội tàng trữ trái phép chất ma túy;
- Ngày 26/6/2007 bị Tòa án nhân dân thị xã Cao Bằng xử phạt 08 năm tù về Tội mua bán trái phép chất ma túy;
- Ngày 31/7/2014 bị Tòa án nhân dân tỉnh Cao Bằng xử phạt 10 năm tù về Tội mua bán trái phép chất ma túy;
Tiền sự: Không;
Nhân thân: Ngày 05/8/1986 bị Tòa án nhân dân thị xã Cao Bằng (nay là thành phố C) xử phạt 24 tháng tù về Tội trộm cắp tài sản của công dân.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố C từ ngày 12/10/2023 đến nay. Hiện đang tạm giam theo Quyết định tạm giam số 128/2024/HSST-QĐTG ngày 04/4/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng; Có mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- Lê Thanh L; Sinh năm: 1994; Địa chỉ: tổ D, phường Đ, thành phố C, tỉnh Cao Bằng; Vắng mặt.
- Phạm Thanh T; Sinh năm: 1971; Địa chỉ: tổ G, phường H, thành phố C, tỉnh Cao Bằng; Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 10 giờ 15 phút ngày 12/10/2023, tại khu vực tổ A, phường T, thành phố C, tổ công tác Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về kinh tế - ma túy Công an thành phố C bắt quả tang Đinh Văn T1 (sinh ngày: 26/02/1966; trú tại: tổ A, phường T, thành phố C) có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Vật chứng thu giữ:
- 04 (bốn) gói nhỏ trong đó có 02 (hai) gói giấy bạc màu trắng, 02 (hai) gói giấy bạc màu vàng bên trong đều chứa chất bột màu trắng dạng cục lẫn bột (T1 khai nhận là H2) có tổng khối lượng 0,26g (không phẩy hai sáu gam);
- 01 (một) điện thoại di động màu đen, mặt sau có chữ OPPO, số IMEI: 861063052721558, điện thoại cũ đã qua sử dụng;
- 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu HONDA, màu nâu, biển kiểm soát 11F3-3405, xe cũ đã qua sử dụng.
Tại cơ quan điều tra, T1 khai nhận số Heroine bị thu giữ là của T1 mua với Bế Ngọc H (sinh ngày: 25/9/1963; trú tại: tổ G, phường H, thành phố C).
Hồi 16 giờ 10 phút cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C tiến hành khám xét khẩn cấp người, chỗ ở của Bế Ngọc H tại tổ G, phường H, thành phố C. Thu giữ vật chứng gồm:
- 01 (một) túi nilon màu trắng bên trong chứa chất bột màu trắng dạng cục lẫn bột (H khai nhận là H2) có khối lượng 3,78g (ba phẩy bẩy tám gam) do H tự giác lấy từ trong túi đằng trước bên trái chiếc quần H đang mặc ra giao nộp. Ký hiệu "KX01";
- 01 (một) túi nilon màu trắng có khóa vuốt bên trong chứa chất bột màu trắng dạng cục lẫn bột (H khai nhận là H2) có khối lượng 1,55g (một phẩy năm năm gam) của H để tại đầu giường trong phòng ngủ đã tự giác giao nộp. Ký hiệu “KX02”;
Tổng khối lượng chất bột màu trắng thu giữ được là 5,33g (năm phẩy ba ba gam)
- 01 (một) điện thoại di động màu hồng mặt sau có chữ SAMSUNG, có số IMEI: 350128819777561/01, điện thoại cũ đã qua sử dụng, thu giữ trong túi đằng trước bên phải chiếc quần H đang mặc;
- 01 (một) điện thoại di động màu đen, mặt sau có chữ SAMSUNG, có số IMEI: 350970302287255/01, điện thoại cũ đã qua sử dụng, thu giữ trên giường trong phòng ngủ của Bế Ngọc H;
- 01 (một) cân điện tử màu đen có chữ POCKET SCALE, thu giữ trong tủ phòng khách nhà của H;
- Tiền Việt Nam: 800.000đ (tám trăm nghìn đồng) thu giữ trong túi áo khoác chiếc áo H đang mặc;
- Tiền Việt Nam: 97.000.000đ (chín mươi bảy triệu đồng) thu giữ trong gác xép ở bếp nhà của H.
Ngày 13/10/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh C ra Quyết định trưng cầu giám định số 354 đối với vật chứng vụ án. Tại bản kết luận giám định số 536 ngày 19/10/2023 của Phòng K, Công an tỉnh C, kết luận: “03 (ba) mẫu chất bột màu trắng bên trong 03 (ba) phong bì niêm phong gửi giám định đều là ma túy, loại: Heroine (Heroin)”.
Quá trình điều tra xác định: Khoảng 10 giờ ngày 10/10/2023, Bế Ngọc H đi xe khách từ thành phố C đến thành phố T tìm mua ma túy với mục đích để bán lại kiếm lời. Khoảng 15 giờ cùng ngày, H đến B thành phố T, tại đây H gặp một người đàn ông khoảng 40 tuổi trông giống người nghiện nên hỏi mua Heroine với số tiền 4.000.000đ (bốn triệu đồng). Người đàn ông đồng ý rồi đi khoảng 10 phút sau quay lại đưa cho H 01 (một) gói nilon màu trắng bên trong có chứa Heroine. H nhận gói H2 và đưa cho người đàn ông số tiền 4.000.000đ (bốn triệu đồng) rồi đi xe khách về nhà tại thành phố C. Đến khoảng 20 giờ ngày 11/10/2023, khi H đang ở nhà thì Đinh Văn T1 gọi điện thoại cho H hỏi mua Heroine với giá 1.000.000đ (một triệu đồng). H đồng ý và hẹn T1 đến khu vực gần Siêu thị C thuộc tổ A phường H, thành phố C để trao đổi mua bán. Sau đó, H chia số Heroine mua được thành 03 (ba) phần (01 gói nilon màu trắng, 02 túi nilon màu trắng). Khoảng 20 giờ 30 phút cùng ngày, H đến chỗ hẹn, tại đây T1 đưa cho H số tiền 1.000.000đ (một triệu đồng), H cầm tiền và đưa cho T1 01 (một) gói Heroine gói bằng nilon màu trắng. Sau khi mua được H2, T1 đi về nhà chia Heroine thành 06 (sáu) gói nhỏ để sử dụng cho bản thân và đã sử dụng hết 02 (hai) gói, còn lại 04 (bốn) gói T1 cho vào trong túi quần đang mặc. Khoảng 10 giờ 15 phút ngày 12/10/2023, T1 mang theo 04 (bốn) gói Heroine rồi điều khiển xe mô tô nhãn hiệu HONDA, màu nâu, biển kiểm soát 11F3-3405 đi từ nhà đến khu vực Bệnh viện đa khoa tỉnh C thì bị cơ quan Công an bắt quả tang, thu giữ 04 (bốn) gói Heroine có tổng khối lượng 0,26g (không phẩy hai sáu gam). Đến 16 giờ 10 phút cùng ngày, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C tiến hành khám xét khẩn cấp người, chỗ ở của Bế Ngọc H đã thu giữ 02 (hai) gói Heroine có tổng khối lượng 5,33g (năm phẩy ba mươi ba gam) H tàng trữ nhằm mục đích bán lại kiếm lời.
Bản cáo trạng số 29/CT-VKSTP ngày 02/02/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng quyết định truy tố: Bị cáo Bế Ngọc H về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo điểm i, q khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự; truy tố bị cáo Đinh Văn T1 về Tội tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, các bị cáo đều thừa nhận bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng đã phản ánh đúng hành vi phạm tội của mình; nhất trí với khối lượng ma túy bị thu giữ cũng như kết luận giám định ngày 19/10/2023 của Phòng K Công an tỉnh C. Các bị cáo đều nhận bản thân nghiện ma túy lâu năm.
Bị cáo Bế Ngọc H khai: Do bản thân nghiện ma túy, lười lao động nhưng vẫn muốn có ma túy sử dụng cho bản thân nên H đã trực tiếp tìm mua ma túy đem về nhà cất giấu nhằm mục đích để sử dụng dần cho bản thân và bán lại kiếm lời. Ngày 12/10/2023, H đã bán cho T1 một gói ma túy với giá 1.000.000đ, bị cáo đã sử dụng 200.000đ để tiêu sài cá nhân, còn lại 800.000đ cất trong túi áo khoác đã bị tạm giữ. Đối với 02 chiếc điện thoại Samsung, bị cáo chỉ sử dụng chiếc điện thoại màu hồng vào việc mua bán ma túy. Riêng số tiền 97.000.000đ thu giữ tại gác xép nhà bếp không phải là tiền của bị cáo là của vợ bị cáo, mong Hội đồng xét xử trả lại cho vợ bị cáo là bà Phạm Thanh T. Chiếc cân điện tử bị thu giữ là vật bị cáo sử dụng để chia nhỏ ma túy bán kiếm lời.
Lời khai của Đinh Văn T1 tại phiên tòa phù hợp với lời khai của Bế Ngọc H. Bị cáo khai quen H do cùng là người nghiện ma túy. Ngày 12/12/2023 bị cáo mua ma tuý để bản thân sử dụng, ngoài ra không có mục đích gì khác. Đối với tài sản bị tạm giữ bị cáo khai: Chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda màu nâu, biển kiểm soát 11F3-3405 là của chị dâu - Lê Thanh L, chị L không biết việc bị cáo sử dụng xe để đi mua ma túy. Mong Hội đồng xét xử trả lại chiếc xe trên cho chị L.
Tại đơn xin xét xử vắng mặt của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án chị Lê Thanh L và các tài liệu trong hồ sơ thể hiện: Chị là chị dâu của bị cáo T1. Chiếc xe mô tô biển kiểm soát 11F3-3405 là của chị (giấy đăng ký xe mang tên chị). Khi cho T1 mượn xe, chị không biết T1 sử dụng xe mô tô để đi mua ma túy, mong Hội đồng xét xử xem xét trả lại chiếc xe trên cho chị.
Tại đơn xin xét xử vắng mặt của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án bà Phạm Thanh T và các tài liệu trong hồ sơ thể hiện: Bà là vợ của bị cáo T1. Số tiền 97.000.000đ bị Công an thu giữ tại gác xép khi khám xét nhà là tiền của riêng chị lao động tích góp có được, mong Hội đồng xét xử xem xét trả lại số tiền trên cho chị.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng tham gia phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố đối với các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố: Bị cáo Bế Ngọc H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; bị cáo Đinh Văn T1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Áp dụng điểm i, q khoản 2, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Bế Ngọc H từ 08 đến 09 năm tù; phạt bổ sung đối với bị cáo H số tiền 10.000.000đ.
- Áp dụng điểm o khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Đinh Văn T1 từ 05 năm 06 tháng đến 06 năm 06 tháng tù; không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo T1.
- Về vật chứng của vụ án: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự đề nghị tịch thu, tiêu hủy vật chứng là 03 phong bì niêm phong chứa ma túy. Tịch thu số tiền 800.000đ là số tiền bị cáo thu lợi bất chính, buộc bị cáo H phải nộp lại số tiền 200.000 đồng để nộp vào ngân sách nhà nước. Tịch thu phát mại nộp ngân sách nhà nước: 02 chiếc điện thoại di động các bị cáo đã sử dụng để giao dịch mua bán ma túy; 01 cân điện tử màu đen dùng vào việc thực hiện hành vi phạm tội. Trả lại cho bị cáo H 01 điện thoại di động màu đen mặt sau có chữ SAMSUNG, trả lại cho người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan - chị Lê Thanh L chiếc xe mô tô Honda màu nâu biển kiểm soát 11F3-3405; trả lại cho người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan - bà Phạm Thanh T số tiền 97.000.000đ.
Các bị cáo đều nhất trí với kết luận của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng về tội danh, hành vi phạm tội, mức hình phạt, quan điểm xử lý và không có ý kiến tranh luận.
Khi được nói lời sau cùng, các bị cáo đều tỏ thái độ ăn năn và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho hưởng mức án thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C, tỉnh Cao Bằng; Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng; Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tội danh:
Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với nhau và phù hợp với nội dung biên bản bắt người phạm tội quả tang; các biên bản cân xác định khối lượng; kết luận giám định; bản tự khai, biên bản hỏi cung; vật chứng; cùng các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định:
Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 11/10/2023, tại khu vực tổ A phường H, thành phố C, Bế Ngọc H có hành vi bán cho Đinh Văn T1 01 (một) gói Heroine với giá 1.000.000đ (một triệu đồng). Sau khi mua được H2, T1 đã chia thành 06 (sáu) gói nhỏ để sử dụng cho bản thân và đã sử dụng hết 02 (hai) gói. Hồi 10 giờ 15 phút ngày 12/10/2023, tại khu vực tổ A, phường T, thành phố C, tổ công tác Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về kinh tế - ma túy Công an thành phố C bắt quả tang Đinh Văn T1 có hành vi tàng trữ trái phép 04 (bốn) gói Heroine có tổng khối lượng 0,26g (không phẩy hai sáu gam) của T1 mua với H vào ngày 11/10/2023 nhằm mục đích sử dụng cho bản thân. Hồi 16 giờ 10 phút ngày 12/10/2023, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C tiến hành khám xét khẩn cấp người, chỗ ở của Bế Ngọc H đã thu giữ 02 (hai) gói Heroine có tổng khối lượng 5,33g (năm phẩy ba mươi ba gam) của H tàng trữ nhằm mục đích bán lại kiếm lời.
Do vậy, Đinh Văn T1 phải chịu trách nhiệm về hành vi tàng trữ trái phép 0,26g (không phẩy hai sáu gam) Heroine; Bế Ngọc H phải chịu trách nhiệm về hành vi mua bán trái phép 5,59g (năm phẩy năm chín gam) Heroine.
Đây là vụ án Mua bán, tàng trữ trái phép chất ma túy có tính chất rất nghiêm trọng. Hành vi của các bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách quản lý độc quyền của Nhà nước đối với các chất gây nghiện, gây mất trật tự trị an, an toàn xã hội và là nguyên nhân làm phát sinh các loại tội phạm khác. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được tác hại nhiều mặt của ma túy nhưng vẫn thực hiện hành vi mua bán, tàng trữ trái phép chất ma túy với lỗi cố ý.
Mặc dù cả hai bị cáo đã nhiều lần bị đưa ra xét xử và phải chấp hành hình phạt tù đối với các loại tội phạm liên quan đến chất ma túy, nhưng các bị cáo chưa thực sự thể hiện thái độ ăn năn hối cải. Năm 2022, hai bị cáo chấp hành xong hình phạt tù và được trở về sinh sống với gia đình tại địa phương nhưng khi chưa được xoá án tích, các bị cáo lại tiếp tục phạm tội mới. Hành vi của các bị cáo thuộc trường hợp “tái phạm nguy hiểm” được coi là tình tiết định khung hình phạt theo quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 và điểm q khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Như vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng truy tố bị cáo Bế Ngọc H về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm i, q khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự; truy tố bị cáo Đinh Văn T1 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 của Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, không oan.
[3] Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội; nhân thân và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
[3.1] Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội:
Hội đồng xét xử nhận định trong vụ án này hành vi phạm tội của các bị cáo cấu thành tội một cách độc lập, riêng biệt; không có đồng phạm. Mỗi bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự riêng, với số Heroin mà mình đã tàng trữ, mua bán trái phép.
Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm, đi ngược lại chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước ta trong cuộc đấu tranh đẩy lùi và bài trừ tệ nạn ma tuý đang ngày càng diễn biến phức tạp, hành vi mua bán, tàng trữ trái phép chất ma tuý của các bị cáo đã góp phần làm gia tăng tệ nạn xã hội và các hành vi vi phạm pháp luật khác, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội nên cần xử lý nghiêm khắc để làm gương cho người khác, đồng thời phục vụ công tác phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm ma tuý ở địa phương.
[3.2] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Về nhân thân: Các bị cáo đều là người nghiện ma túy lâu năm, nhân thân xấu. Bị cáo H có 03 tiền án, bị cáo T1 có 04 tiền án.
- Đối với: Bản án số 35/HSST ngày 29/7/1987 và bản án số 22/HSST ngày 13/8/1988 của Tòa án nhân dân thị xã Cao Bằng (nay là thành phố C) xử phạt bị cáo H về Tội trộm cắp tài sản của công dân; Bản án số 15/HSST ngày 05/8/1986 của Tòa án nhân dân thị xã Cao Bằng (nay là thành phố C) xử phạt bị cáo T1 về Tội trộm cắp tài sản của công dân. Tuy quá trình xác minh không tìm thấy dữ liệu bản án nhưng tại phần thủ tục bắt đầu phiên tòa, khi chủ tọa kiểm tra thông tin lý lịch, các bị cáo đã tự trình bày về các tiền án, tiền sự, nhân thân của mình. Các tiền án, tiền sự, nhân thân mà bị cáo H, T1 trình bày trùng khớp, phù hợp với tiền án, tiền sự, nhân thân mà Cáo trạng đã thể hiện.
- Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội nên khi quyết định hình phạt cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
- Về tình tiết tăng nặng: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[4] Về hình phạt:
[4.1] Về hình phạt chính:
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng đề nghị áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với các bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy, các bị cáo đều là đối tượng nghiện ma túy, cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới đủ để cải tạo giáo dục riêng cũng như phòng ngừa chung trong xã hội. Tuy nhiên, cần căn cứ hành vi phạm tội, nhân thân, cùng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với từng bị cáo để đưa ra mức hình phạt tương xứng.
Các bị cáo đều là đối tượng nghiện ma túy lâu năm, có nhân thân rất xấu, đã nhiều lần bị kết án về các tội phạm liên quan đến ma túy nhưng vẫn không lấy đó làm bài học cho bản thân mà tiếp tục phạm tội. Các bị cáo đều hiểu rất rõ ma túy là chất bị nhà nước cấm sử dụng và tác hại của ma túy đối với bản thân, cũng như xã hội nhưng vẫn coi thường, bất chấp quy định của pháp luật mua bán, tàng trữ ma túy nhằm mục đích kiếm lời, sử dụng cho bản thân. Vì vậy, cần đưa ra mức hình phạt nghiêm khắc cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới tương xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo, đồng thời răn đe, cảnh cáo những đối tượng khác đã và đang có ý định phạm tội.
[4.2] Về hình phạt bổ sung:
Ngoài hình phạt chính, tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự còn quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng...”.
Xét thấy: Khối lượng ma túy bị cáo Bế Ngọc H mua bán và số tiền thu lợi bất chính tương đối lớn. Bị cáo đã bị kết án nhiều lần về các tội phạm liên quan đến ma túy nhưng vẫn bất chấp quy định của pháp luật để mua bán ma túy kiếm lời. Hội đồng xét xử xét thấy, cần áp dụng khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự phạt bổ sung đối với bị cáo Bế Ngọc H số tiền 10.000.000đ để nộp ngân sách nhà nước.
Xét thấy bị cáo Đinh Văn T1 là người nghiện ma túy không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định; số lượng ma túy tàng trữ không lớn nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[5] Việc xử lý vật chứng:
Căn cứ quy định tại Điều 47 Bộ luật Hình sự và Khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự, Hội đồng xét xử xét thấy cần:
- Tịch thu tiêu hủy toàn bộ ma túy là vật bị cấm tàng trữ, lưu hành.
- Tịch thu của bị cáo Bế Ngọc H: Tiền Việt Nam 800.000 đồng (tám trăm nghìn đồng) (thu giữ trong túi áo khoác chiếc áo Hưng đang mặc). Buộc bị cáo Bế Ngọc H phải nộp lại số tiền 200.000 đồng (là số tiền H bán ma túy cho T1 nhưng bị cáo đã tiêu sài hết) để nộp ngân sách nhà nước.
- Tịch thu phát mại nộp ngân sách nhà nước 02 điện thoại di động của các bị cáo do sử dụng để liên lạc mua bán ma túy và 01 cân điện tử màu đen dùng vào việc thực hiện hành vi phạm tội.
- Trả lại: 01 chiếc điện thoại Samsung màu đen cho bị cáo Bế Ngọc H; trả lại số tiền 97.000.000đ cho bà Phạm Thanh T; trả lại 01 chiếc xe mô tô biển kiểm soát 11F3-3405 cho chị Lê Thanh L do không liên quan đến hành vi phạm tội.
[6] Về nghĩa vụ chịu án phí: Các bị cáo Bế Ngọc H, Đinh Văn T1 phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[7] Về các vấn đề khác:
[7.1] Về nguồn gốc số Heroine bị thu giữ, Bế Ngọc H khai được mua với một người đàn ông không quen biết, việc trao đổi mua bán ma túy không ai biết và chứng kiến. Do vậy, Cơ quan điều tra đang tiếp tục xác minh, nếu có căn cứ sẽ xử lý theo quy định của pháp luật.
[7.2] Xét đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng tại phiên tòa về tội danh, hình phạt, quan điểm xử lý vật chứng phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo, nên cần được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Về tội danh và mức hình phạt:
[1.1] Căn cứ vào điểm i, q khoản 2, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Bế Ngọc H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo Bế Ngọc H 08 năm tù thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam 12/10/2023.
Phạt bổ sung đối với bị cáo Bế Ngọc H số tiền 10.000.000 đồng nộp ngân sách Nhà nước.
[1.2] Căn cứ vào điểm o khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Đinh Văn T1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xử phạt Đinh Văn T1 05 năm 06 tháng tù, thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam 12/10/2023.
[2] Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, xử:
- Tịch thu tiêu hủy:
- 01 (một) phong bì niêm phong, mặt trước phong bì ghi: “Số 536/KL-KTHS. Hoàn mẫu sau giám định vụ Đinh Văn T1 và Bế Ngọc H, có hành vi Mua bán, tàng trữ trái phép chất ma túy, xảy ra ngày 12/10/2023”, (Kèm theo Kết luận giám định số 536/KL – KTHS, ngày 19/10/2023 của Phòng K Công an tỉnh C);
- 01 (một) phong bì niêm phong, mặt trước ghi “Tang vật cân khám xét “KX01”, sinh năm 1963; HKTT: Tổ G, phường H, thành phố C, tỉnh Cao Bằng. Hành vi: mua bán trái phép chất ma túy, bắt ngày 12/10/2023";
- 01 (một) phong bì niêm phong, mặt trước ghi “Tang vật cân khám xét “KX02”, sinh năm 1963; HKTT: Tổ G, phường H, thành phố C, tỉnh Cao Bằng. Hành vi: mua bán trái phép chất ma túy, bắt ngày 12/10/2023";
- Tịch thu phát mại nộp ngân sách Nhà nước:
- 01 (một) điện thoại di động màu đen, mặt sau có chữ OPPO, số IMEI (Theo quyết định chuyển vật chứng): 861063052721558, điện thoại cũ, đã qua sử dụng, do điện thoại không khởi động được nên không kiểm tra thực tế được số IMEI trong máy;
- 01 (một) điện thoại di động màu hồng, mặt sau có chữ SAMSUNG, số IMEI (Theo quyết định chuyển vật chứng): 350128819777561/01, điện thoại cũ, đã qua sử dụng, do điện thoại không khởi động được nên không kiểm tra thực tế được số IMEI trong máy;
- 01 (một) cân điện tử màu đen, có chữ POCKETSCALE, cũ đã qua sử dụng;
- Trả lại cho bị cáo Bế Ngọc H:
- 01 (một) điện thoại di động màu đen, mặt sau có chữ SAMSUNG, số IMEI (Theo quyết định chuyển vật chứng): 350970302287255/01, điện thoại cũ, đã qua sử dụng, do điện thoại không khởi động được nên không kiểm tra thực tế được số IMEI trong máy;
- Trả lại cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Lê Thanh L (Sinh năm: 1994; Địa chỉ: tổ D, phường Đ, thành phố C, tỉnh Cao Bằng):
- 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu HONDA, màu nâu, biển kiểm soát 11F3 – 3405. Số khung: RLHHA08001Y037542, số máy: HA08E0037561. Xe cũ đã qua sử dụng. Xe có số khung số máy trùng khớp với phiếu trả lời xác minh xe ngày 27/02/2024 của Công an thành phố C cung cấp (Xe không có chìa khóa kèm theo);
- Tịch thu của bị cáo Bế Ngọc H số tiền 800.000 đồng và buộc bị cáo phải nộp lại số tiền 200.000 đồng (là số tiền có được do bán ma túy cho T1) để nộp ngân sách nhà nước.
- Trả lại cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Phạm Thanh T (Sinh năm: 1971; Địa chỉ: tổ G, phường H, thành phố C, tỉnh Cao Bằng):
- Tiền Việt Nam: 97.000.000đ (Chín mươi bảy triệu đồng).
Cơ quan Công an thành phố C đã chuyển số tiền 97.800.000đ trên vào tài khoản: 3949.0.1035584.00000 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cao Bằng mở tại kho bạc Nhà nước tỉnh Cao Bằng theo Ủy nhiệm chi số 20 ngày 22/02/2024.
Xác nhận toàn bộ các vật chứng nêu trên đã được chuyển giao cho Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng theo biên bản giao, nhận vật chứng số 69 ngày 27 tháng 02 năm 2024.
[3] Về án phí:
Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc các bị cáo Bế Ngọc H, Đinh Văn T1 phải chịu án phí hình sự sơ thẩm mỗi bị cáo là 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) nộp ngân sách Nhà nước.
[4] Về quyền kháng cáo:
Căn cứ Điều 331, Điều 332, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.
Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án hình sự sơ thẩm trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (vắng mặt tại phiên tòa có lý do) có quyền kháng cáo bản án về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Dương Thị Hương Thảo |
Bản án số 63/2024/HSST ngày 17/04/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO BẰNG, TỈNH CAO BẰNG về mua bán trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 63/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy và Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/04/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO BẰNG, TỈNH CAO BẰNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 11/10/2023, tại khu vực tổ A phường H, thành phố C, Bế Ngọc H có hành vi bán cho Đinh Văn T1 01 (một) gói Heroine với giá 1.000.000đ (một triệu đồng). Sau khi mua được H2, T1 đã chia thành 06 (sáu) gói nhỏ để sử dụng cho bản thân và đã sử dụng hết 02 (hai) gói. Hồi 10 giờ 15 phút ngày 12/10/2023, tại khu vực tổ A, phường T, thành phố C, tổ công tác Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về kinh tế - ma túy Công an thành phố C bắt quả tang Đinh Văn T1 có hành vi tàng trữ trái phép 04 (bốn) gói Heroine có tổng khối lượng 0,26g (không phẩy hai sáu gam) của T1 mua với H vào ngày 11/10/2023 nhằm mục đích sử dụng cho bản thân. Hồi 16 giờ 10 phút ngày 12/10/2023, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C tiến hành khám xét khẩn cấp người, chỗ ở của Bế Ngọc H đã thu giữ 02 (hai) gói Heroine có tổng khối lượng 5,33g (năm phẩy ba mươi ba gam) của H tàng trữ nhằm mục đích bán lại kiếm lời. Do vậy, Đinh Văn T1 phải chịu trách nhiệm về hành vi tàng trữ trái phép 0,26g (không phẩy hai sáu gam) Heroine; Bế Ngọc H phải chịu trách nhiệm về hành vi mua bán trái phép 5,59g (năm phẩy năm chín gam) Heroine.
