Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ KỲ ANH, TỈNH HÀ TĨNH

Bản án số: 63/2024/HS-ST

Ngày 09 - 12 -2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

-

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ KỲ ANH, TỈNH HÀ TĨNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đinh Văn Tư.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Văn Bẹ và bà Hoàng Thị Thu Lâm.

- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Lệ Thủy - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Kỳ Anh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Kỳ Anh tham gia phiên tòa: Bà Quách Thùy Linh - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Kỳ Anh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 58/2024/TLST- HS ngày 18 tháng 9 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 61/2024/QĐXXST-HS ngày 18/9/2024 đối với bị cáo:

  1. Họ và tên: Tưởng Tuấn A; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày 06 tháng 11 năm 2000, tại xã Q, huyện Q, tỉnh Quảng Bình; Nơi thường trú và chỗ ở: Thôn P, xã Q, huyện Q, tỉnh Quảng Bình; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: Lớp 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Chức vụ, đoàn thể, đảng phái: Quần chúng; Con ông: Tưởng T, sinh năm 1977; Con bà: Tưởng Thị K, sinh năm: 1981; A, chị, em ruột: Có 03 người, bị cáo là con thứ nhất; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã Q, huyện Q, tỉnh Quảng Bình kể từ ngày 15/7/2024 cho đến nay (Có mặt)

- Bị hại:

  1. Anh Nguyễn Tiến D, sinh ngày 20 – 7 - 2006; Nghề nghiệp: Học sinh; Địa chỉ: Tổ dân phố G, phường B, thị xã H, tỉnh Hà Tĩnh, (Vắng mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Công ty cổ phần K1 tại Hà Tĩnh, chi nhánh thị xã K; địa chỉ: Số A đường L, phường H, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh; Người đại diện theo pháp luật: Ông Phùng Anh T1 - Chức vụ: Tổng Giám đốc (vắng mặt); Người đại diện theo ủy quyền: Ông Trần Quốc V, sinh năm: 1994; Chức vụ: Trưởng phòng giao dịch chi nhánh thị xã K; Nơi cư trú: Khối phố Đ, phường T, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh, (có mặt).
  2. Ông Trần Văn N, sinh năm: 2002; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Địa chỉ: Tổ dân phố L, phường K, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh, (Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).

- Người làm chứng:

  1. Ông Tưởng Duy P, sinh năm: 1993; Địa chỉ: Thôn P, xã Q, huyện Q, tỉnh Quảng Bình, (Vắng mặt).
  2. Ông Lê Quang T2, sinh năm: 2006; Địa chỉ: Tổ dân phố G, phường B, thị xã H, tỉnh Hà Tĩnh, (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trần Văn N có chiếc xe mô tô BKS: 38K1-618.43 đang cầm cố tại Công ty cổ phần K1, có địa chỉ tại số A, đường L, phường H, thị xã K (gọi tắt là Công ty K1) để vay tiền trả góp hàng tháng. Khi cầm cố xe để vay tiền, Công ty K1 chỉ giữ giấy đăng ký xe, còn giao xe mô tô BKS: 38K1-618.43 cho Trần Văn N quản lý và sử dụng, đồng thời cấp cho Trần Văn N bản sao giấy đăng ký xe mô tô BKS: 38K1-618.43 (có ký và đóng dấu xác nhận xe đang cầm cố tại Công ty K1), để sử dụng khi tham gia giao thông. Ngày 24/02/2023, Trần Văn N không thông báo cho Công ty K1 mà tự ý bán xe mô tô BKS: 38K1-618.43 cho Tưởng Tuấn A, với giá 47.546.361 đồng, trong đó Tưởng Tuấn A trả cho Trần Văn N 13.000.000đ tiền mặt, còn 34.546.361 đồng (Số tiền Trần Văn N đang nợ Công ty K1) Tưởng Tuấn A phải chuyển trả tiền hàng tháng (trả góp) cho Trần Văn N để N trả nợ cho Công ty K1. Khi bán xe, Trần Văn N giao xe mô tô BKS: 38K1-618.43, kèm theo bản sao giấy đăng ký xe (có ký và đóng dấu xác nhận xe đang cầm cố) cho Tưởng Tuấn A để sử dụng khi tham gia giao thông.

Đến cuối tháng 5/2023, thông qua mạng xã hội Facebook, Tưởng Tuấn A thấy có tài khoản Facebook quảng cáo về việc nhận làm giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô giả (Tưởng Tuấn A không nhớ tên và chủ tài khoản), nên đã sử dụng tài khoản Facebook “Tưởng Tuấn A” của mình nhắn tin cho tài khoản này đặt vấn đề làm giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô giả cho chiếc xe mô tô BKS: 38K1-618.43, để sử dụng khi tham gia giao thông. Tưởng Tuấn A chụp ảnh bản sao

giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô BKS: 38K1-618.43 mà Trần Văn N đưa trước đó gửi qua tài khoản Facebook của người nhận làm giả nhờ làm giả Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô BKS: 38K1-618.43, giống như Giấy đăng ký xe mô tô BKS: 38K1-618.43 của Trần Văn N. Khoảng 03 ngày sau khi đặt mua giấy tờ xe giả, Tưởng Tuấn A nhận được một phong bì thư bên trong có Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô BKS: 38K1-618.43 giả đã đặt trước đó, qua dịch vụ giao hàng Viettel P1 và đưa số tiền 500.000đ cho người giao hàng để trả cho người làm giấy tờ giả theo thỏa thuận.

Do cần tiền nên ngày 11/6/2023, Tưởng Tuấn A chụp hình ảnh xe mô tô BKS: 38K1-618.43 và đăng lên tài khoản Facebook “Tưởng Tuấn A” của mình để quảng cáo bán xe. Thấy tài khoản Facebook của Tưởng Tuấn A đăng quảng cáo bán xe mô tô, nên Nguyễn Tiến D nhắn tin qua Facebook cho Tưởng Tuấn A hỏi mua xe, thì Tưởng Tuấn A nhắn tin là xe có giấy tờ đầy đủ và hẹn gặp nhau tại phường K, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh. Đến chiều ngày 16/06/2023, Nguyễn Tiến D cùng bạn là Lê Quang T2 đi vào phường K, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh thì gặp Tưởng Tuấn A tại ngã ba đường Q (ngã ba K). Tại đây, Tưởng Tuấn A đồng ý bán xe mô tô BKS: 38K1-618.43 cho Nguyễn Tiến D với giá 24.300.000đ. Sau khi thống nhất mua bán xe mô tô, Tưởng Tuấn A cùng với Nguyễn Tiến D và Lê Quang T2 đi vào quán sửa xe của anh Tưởng Duy P, ở xã Q, huyện Q, tỉnh Quảng Bình (Tưởng Tuấn A gửi xe ở đây) để giao xe. Khi đến nơi, Tưởng Tuấn A đưa xe mô tô và giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô BKS: 38K1-618.43 (giả) mà Tưởng Tuấn A đặt mua trước đó để Nguyễn Tiến D kiểm tra. Sau khi kiểm tra thấy xe mô tô BKS: 38K1-618.43 và các thông tin trên giấy chứng nhận đăng ký xe (giả) phù hợp nên Nguyễn Tiến D chuyển khoản cho Tưởng Tuấn A số tiền mua xe là 24.300.000đồng. Sau khi nhận được tiền, Tưởng Tuấn A nói với Nguyễn Tiến D là cần thêm 200.000đồng nữa để làm thủ tục rút hồ sơ để sang tên đổi chủ, nên Nguyễn Tiến D tiếp tục chuyển khoản cho Tưởng Tuấn A 200.000đồng. Sau khi nhận tiền, Tưởng Tuấn A giao chiếc xe mô tô BKS: 38K1-618.43 cho Nguyễn Tiến D, còn giấy chứng nhận đăng ký xe (giả), Tưởng Tuấn A giữ lại để rút hồ sơ chuyển quyền sở hữu xe. Đồng thời, Tưởng Tuấn A đưa cho Nguyễn Tiến D bản sao giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô BKS: 38K1-618.43(có đóng dấu của Công ty K1), để sử dụng khi tham gia giao thông và nói dối với Nguyễn Tiến D là xe mô tô BKS: 38K1-618.43 trước đó cầm cố ở Công ty K1, giờ đã trả tiền và mới lấy xe cùng giấy tờ về; khi nào làm xong thủ tục sang tên thì Nguyễn Tiến D vào lấy giấy tờ sau, thì Nguyễn Tiến D đồng ý. Khoảng ba đến bốn ngày sau, Nguyễn Tiến D gọi điện thoại cho T3 Tuấn A hỏi đã làm xong thủ tục sang tên chưa, thì Tưởng Tuấn A bảo chưa làm xong, nên Nguyễn Tiến D đã đi vào Quảng Bình, gặp Tưởng Tuấn A, thì Tưởng Tuấn A đưa

cho Nguyễn Tiến D Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô BKS: 38K1-618.43 (giả) mà Tưởng Tuấn A đặt mua trước đó. Sau khi về nhà kiểm tra lại thì nghi ngờ Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô BKS: 38K1-618.43 mà Tưởng Tuấn A giao cho là giả, nên Nguyễn Tiến D đã trình báo Cơ quan điều tra Công an thị xã K.

Kết luận giám định số 1059/KL-KTHS, ngày 21/8/2024 của Phòng K2 Công an tỉnh H kết luận: Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe gắn máy số 38007138, tên chủ xe Trần Văn N 2002, địa chỉ: L, P. K, TX. K, HT; Biển số đăng ký: 38K1-618.43, nhãn hiệu HONDA, số loại VARIO 125, cấp ngày 06/01/2022, tại mục ký tên có chữ ký, nhưng không đề tên người ký, bên trên chữ ký có dấu đỏ ghi dòng chữ “CÔNG AN TỈNH HÀ TĨNH * CÔNG AN HUYỆN KỲ ANH” là giả.

Vật chứng của vụ án: Cơ quan điều tra Công an thị xã K đã thu giữ của bị hại Nguyễn Tiến D 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe gắn máy số 38007138, đề tên chủ xe Trần Văn N 2002, địa chỉ: L, P.K, TX K, HT; Biển số đăng ký: 38K1-618.43, nhãn hiệu HONDA, số loại VARIO 125, cấp ngày 06/01/2022, tại mục ký tên có chữ ký nhưng không đề tên người ký, bên trên chữ ký có dấu đỏ ghi dòng chữ “CÔNG AN TỈNH HÀ TĨNH * CÔNG AN HUYỆN KỲ ANH” và 01 chiếc xe mô tô hiệu Honda, số loại Vario, BKS: 38K1-618.43, số khung MH1JM44110MK709667, số máy HM41E1709212, đã qua sử dụng. Giấy chứng nhận đăng ký xe chuyển theo hồ sơ vụ án còn chiếc xe mô tô BKS: 38K1-618.43 chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Kỳ Anh chờ xử lý.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Nguyễn Tiến D yêu cầu Tưởng Tuấn A bồi thường tổng số tiền 35.000.000 đồng, trong đó 24.500.000 đồng mà bị cáo đã chiếm đoạt và 10.500.000 đồng tiền chi phí phát sinh trong quá trình giải quyết vụ án. Trong quá trình điều tra, Tưởng Tuấn A đã tự nguyện bồi thường 35.000.000 đồng cho bị hại; nay bị hại không yêu cầu gì thêm về bồi thường thiệt hại và có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

Cáo trạng số 60/CT -VKS-TXKA ngày 17/9/2024, Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Kỳ Anh đã truy tố bị cáo Tưởng Tuấn A về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự và tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 341 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Kỳ Anh vẫn giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố Tưởng Tuấn A phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”. Áp dụng

khoản 1 Điều 174, điểm b,s khoản 1 khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt Tưởng Tuấn A mức án 15 tháng đến 18 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”; Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 341, điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt Tưởng Tuấn A mức án 24 tháng đến 30 tháng tù về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”. Áp dụng Điều 55 Bộ luật hình sự tổng hợp hình phạt 02 tội xử buộc Tưởng Tuấn A mức án từ 39 tháng đến 48 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án; Về hình phạt bổ sung: Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo; Về xử lý vật chứng; Đề nghị trả cho Công ty K1 01 chiếc xe mô tô hiệu Honda, số loại Vario, BKS: 38K1-618.43, số khung MH1JM44110MK709667, số máy HM41E1709212, đã qua sử dụng; Tịch lưu theo hồ sơ 01 giấy đăng ký xe mô tô giả BKS: 38K1-618.43 mang tên Trần Văn N; Về án phí: Đề nghị xử buộc bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật. Bị cáo nói lời sau cùng thừa nhận hành vi phạm tội của mình, không có tranh luận gì với luận tội của đại diện Viện kiểm sát và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã K, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thị xã Kỳ Anh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo và những người tham gia tố tụng không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, với nội dung cáo trạng của Viện Kiểm sát đã truy tố và các chứng cứ khác có tại hồ sơ, có đủ cơ sở kết luận: Ngày 24/02/2023, Tưởng Tuấn A mua của Trần Văn N chiếc xe mô tô BKS: 38K1-618.43 để về sử dụng. Do xe mô tô đang cầm cố và Công ty K1 đang giữ giấy chứng nhận đăng ký xe, nên cuối tháng 5/2023, Tưởng Tuấn A đặt mua của một người không quen biết qua mạng xã hội Facebook 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô BKS: 38K1-618.43 giả, mang tên Trần Văn N để sử dụng khi tham gia giao thông. Do thiếu tiền chi tiêu nên ngày 11/6/2023, Tưởng Tuấn A đăng lên mạng xã hội Facebook để quảng cáo bán xe. Sau khi thấy Facebook của Tưởng Tuấn A quảng cáo bán xe nên Nguyễn Tiến D nhắn tin đồng ý mua xe mô tô của Tưởng Tuấn A và hẹn gặp nhau tại phường K, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh. Ngày 16/6/2024, tại Tổ dân phố

N, phường K, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh, Tưởng Tuấn A và Nguyễn Tiến D gặp nhau thống nhất việc mua bán xe; sau đó đi vào quán sửa xe của anh Tưởng Duy P, ở xã Q, huyện Q, tỉnh Quảng Bình để giao xe và trả tiền. Mặc dù xe đang cầm cố tại Công ty K1, nhưng Tưởng Tuấn A nói dối là xe mô tô có giấy tờ đầy đủ và trước đó xe cầm cố tại Công ty K1, đã trả hết nợ và lấy Giấy chứng nhận đăng ký xe về; đồng thời đưa Giấy chứng nhận đăng ký xe giả mang tên Trần Văn N cho Nguyễn Tiến D xem. Nguyễn Tiến D đồng ý mua xe mô tô BKS: 38K1-618.43 của Tưởng Tuấn A với giá 24.500.000đ (bao gồm cả chi phí làm thủ tục chuyển quyền sở hữu). Sau khi Nguyễn Tiến D trả đủ tiền, Tưởng Tuấn A giao xe mô tô BKS: 38K1-618.43 và Giấy chứng nhận đăng ký xe giả mang tên Trần Văn N cho Nguyễn Tiến Doãn . Sau khi mua xe, do nghi ngờ Giấy chứng nhận đăng ký xe giả nên Nguyễn Tiến D đã trình báo Cơ quan điều tra Công an thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh.Hành vi của bị cáo Tưởng Tuấn A thực hiện đã đủ yếu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan tổ chức”, tội phạm và hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 174 và điểm d khoản 2 Điều 341 Bộ luật hình sự. Do đó, Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân thị xã Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh truy tố bị cáo về tội danh, điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.[3] Xét tính chất hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy rằng: Bị cáo là người đã thành niên, có năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi sử dụng giấy tờ giả của cơ quan Nhà nước thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của người khác là hành vi vi phạm pháp luật hình sự nhưng chỉ vì tư lợi cá nhân mà bị cáo đã cố ý đưa ra thông tin gian dối để bị hại tin tưởng xe có giấy tờ đầy đủ để mua chiếc xe mô tô với giá giá 24.500.000đồng (bao gồm cả chi phí làm thủ tục chuyển quyền sở hữu) trong khi giấy đăng ký xe mô tô bị cáo bán cho bị hại đang cầm cố tại Công ty cổ phần K1 nhằm mục đích để chiếm đoạt số tiền 24.500.000 đồng chi tiêu cá nhân. Hành vi của bị cáo thực hiện là nghiêm trọng, nguy hiểm cho xã hội, không chỉ trực tiếp xâm phạm đến tài sản hợp pháp của bị hại mà còn trực tiếp xâm phạm đến chế độ quản lý của hành chính của Nhà nước gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự tại địa phương nên xử phạt bị cáo mức hình phạt nghiêm khắc mới có tác dụng răn đe giáo dục bị cáo. Cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ tác dụng cải tạo, giáo dục riêng bị cáo và phòng ngừa chung. [4] Các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ, nhân thân của bị cáo: Bị cáo có nhân thân tốt, quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, bồi thường thiệt hại cho bị hại, bị hại không có yêu cầu bồi thường thêm. Quá trình điều tra, bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo nhằm thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.[5] Về hình phạt bổ sung: Điều 174 và 341 Bộ luật hình sự đều quy định hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên, theo tài liệu

chứng cứ thu thập có trong hồ sơ và lời khai của bị cáo tại phiên toà thể hiện bị cáo không có việc làm, không có thu nhập, không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.[6] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Nguyễn Tiến D đã nhận số tiền bồi thường 35.000.000 đồng, không có yêu cầu bồi thường gì thêm. Các đương sự khác không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[7] Về xử lý vật chứng:

- Đối với 01 (một) chiếc xe mô tô hiệu hiệu Honda, số loại Vario, BKS: 38K1-618.43, số khung MH1JM44110MK709667, số máy HM41E1709212 dùng vào việc phạm tội, nhưng vào ngày 15 tháng 2 năm 2023 chủ sở hữu Trần Văn N đã cầm cố cho Công ty cổ phần K1 để vay số tiền 21.821.696 đồng, do không có phương tiện đi lại nên Công ty cổ phần K1 đã cho mượn để làm phương tiện đi lại, việc bị cáo Tưởng Tuấn A sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội Công ty K1 không biết, nên cần áp dụng khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự trả chiếc xe cho người quản lý hợp pháp là Công ty cổ phần K1

- Đối với 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô BKS: 38K1-618.43 mà Cơ quan điều tra thu giữ là giấy tờ giả mà bị cáo sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội. Đây là chứng cứ của vụ án nên tịch lưu tại hồ sơ vụ án.

[8]. Trong vụ án này, người làm giả Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô BKS: 38K1-618.43, mang tên Trần Văn N, do Tưởng Tuấn A không biết họ tên, địa chỉ và không nhớ tài khoản Facebook nên không có căn cứ xác định. Kiến nghị Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, làm rõ, khi nào có căn cứ sẽ xử lý bằng vụ án khác.

[9] Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định. Bị cáo, bị hại, Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo luật định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 174; điểm d khoản 2 Điều 341; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 55, Điều 38 Bộ luật hình sự:

Căn cứ khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 1, điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106, Khoản 1 Điều 135, Điều 136, Điều 292, Điều 299, Điều 326, khoản 2 Điều 329, Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 3, Điều 6, khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 và mục A Danh mục án phí, lệ phí Tòa án, ban hành kèm theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;

  1. Về tội danh: Tuyên bố Bị cáo Tưởng Tuấn A phạm các tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan tổ chức”.
  2. Về hình phạt: Xử phạt Tưởng Tuấn A 15 (mười lăm) tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và 24 (hai tư) tháng tù về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan tổ chức”. Tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo Tưởng Tuấn A chấp hành hình phạt chung của cả hai tội là 39 (Ba chín) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án
  3. Về xử lý vật chứng:
    • Trả cho Công ty Cổ phần K1 tại Hà Tĩnh, chi nhánh thị xã K: 01 (một) chiếc xe mô tô hiệu Honda, số loại Vario, BKS: 38K1-618.43, số khung MH1JM44110MK709667, số máy HM41E1709212, tình trạng đã qua sử dụng.
    • ( Tình trạng vạt chứng có biên bản giao nhận vật chứng ngày 18/9/2024 giữa Công an thị xã K và Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Kỳ Anh).
    • Tịch thu và lưu giữ theo hồ sơ vụ án 01 giấy đăng ký xe mô tô BKS: 38K1-618.43 giả mang tên Trần Văn N.
  4. Về án phí: Buộc bị cáo Tưởng Tuấn A phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  5. Về quyền kháng cáo đối với bản án: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Hà Tĩnh;
  • - VKSND tỉnh Hà Tĩnh;
  • - VKSND thị xã Kỳ Anh;
  • - Công an thị xã Kỳ Anh;
  • - Sở Tư pháp Hà Tĩnh;
  • - Chi cục THADS thị xã Kỳ Anh;
  • - Bị cáo; Người có quyền lợi, NVLQ;
  • - Lưu: HS; VP-TA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đinh Văn Tư

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 63/2024/HS-ST ngày 09/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ KỲ ANH, TỈNH HÀ TĨNH về lừa đảo chiếm đoạt tài sản và sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức

  • Số bản án: 63/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản và Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 09/12/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ KỲ ANH, TỈNH HÀ TĨNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: 63
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger