|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN TRƯỜNG TỈNH NAM ĐỊNH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 63/2024/HS-ST Ngày: 22 - 8 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN TRƯỜNG, TỈNH NAM ĐỊNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Văn Thung.
Các hội thẩm nhân dân:
Ông Lê Văn Hùng;
Ông Vũ Xuân Thuỳ.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tùng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định tham gia phiên toà: Ông Ngô Văn Thành - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định xét xử công khai, sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 61/2024/TLST-HS ngày 17 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 66/2024/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:
Phan Văn V, sinh năm 1973; nơi cư trú: Xóm A, xã X, huyện X, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 5/12; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phan Văn L và bà Phạm Thị Í; gia đình có 3 chị em, bị cáo là con thứ 2; bị cáo có vợ là Nguyễn Thị N, sinh năm 1975 và có 02 con, con lớn sinh năm 1997, con nhỏ sinh năm 2007; tiền án; tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 23/4/2013, bị Toà án nhân dân huyện Xuân Trường xử phạt 27 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Chấp hành xong ngày 08/02/2015.
Bị tạm giữ từ ngày 16/5/2024 đến ngày 25/5/2024 chuyển tạm giam; “có mặt”.
- Người chứng kiến: Ông Mai Trung K, sinh năm 1968; “vắng mặt”;
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 07 giờ 30 phút ngày 16/5/2024, Phan Văn V đi bộ từ nhà ở xóm A, xã X, huyện X, tỉnh Nam Định mục đích tìm mua Heroine để sử dụng cho bản thân. Khi đến khu vực phố B, xã X, huyện X, V gặp một người đàn ông lạ mặt, không biết tên, tuổi, địa chỉ. Qua dò hỏi biết người này có Heroine bán nên V hỏi mua 200.000 đồng. Người đàn ông đồng ý, nhận tiền và đưa cho V 01 gói giấy nhỏ màu trắng, bên trong chứa chất bột dạng cục màu trắng. V xác định là H cầm trong lòng bàn tay phải rồi đi về tìm nơi sử dụng. Khoảng 08 giờ 30 phút cùng ngày, khi V đang đi bộ trên đường dân cư thuộc xóm A, xã X thì bị tổ công tác Công an xã X đang làm nhiệm vụ phát hiện có biểu hiện nghi vấn nên yêu cầu kiểm tra. Vĩnh tự giác nộp cho tổ công tác 01 gói giấy nhỏ màu trắng vừa mua và khai nhận là Heroine. Tổ công tác đã mời người chứng kiến lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ và niêm phong gói nhỏ của V nộp ký hiệu là M. Ngay sau đó, Công an xã X đã bàn giao Vĩnh cùng hồ sơ, tài liệu đến Cơ quan CSĐT Công an huyện X để tiến hành điều tra theo thẩm quyền.
Cùng ngày, Cơ quan điều tra đã tiến hành khám xét tại nơi ở của Phan Văn V, nhưng không thu giữ đồ vật, tài liệu gì.
Kết quả xét nghiệm định tính Morphine đối với Phan Văn V ngày 16/5/2024 của Trung tâm y tế huyện X xác định: Phan Văn Vĩnh dương tích với M.
Tại bản kết luận giám định số 941/KL-KTHS ngày 23/5/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh N kết luận: Mẫu chất bột dạng cục màu trắng trong 01 gói nhỏ bên ngoài gói bằng giấy màu trắng, được niêm phong kí hiệu M gửi giám định là ma túy; Loại ma tuý Heroine, khối lượng mẫu M là: 0,161gam.
Tại Cơ quan điều tra, Phan Văn V đã khai nhận toàn bộ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng cho bản thân như đã nêu trên.
Cáo trạng số 60/CT-VKSXT ngày 17/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Trường đã truy tố bị cáo Phan Văn V về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Trường luận tội, đánh giá mức độ nguy hiểm của hành vi, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đã giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:
Về tội danh và hình phạt chính: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự;
- - Tuyên bố bị cáo Phan Văn V đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- - Xử phạt bị cáo Phan Văn V từ 01 năm 11 tháng đến 02 năm 02 tháng tù;
Về hình phạt bổ sung: Hoàn cảnh kinh tế gia đình bị cáo khó khăn đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu, cho tiêu hủy số ma túy đã thu giữ của bị cáo.
Bị cáo không tự bào chữa, tranh luận gì.
Trong lời nói sau cùng bị cáo tỏ thái độ ăn năn hối cải và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện X, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện X, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại giai đoạn điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của người chứng kiến, kết hợp với kết luận giám định về số ma túy thu giữ cùng các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở xác định: Khoảng 08 giờ 30 phút ngày 16/5/2024, tại khu vực xóm A, xã X, huyện X, tỉnh Nam Định, Phan Văn V đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,161 gam Heroine với mục đích sử dụng cho bản thân thì bị phát hiện bắt quả tang. Vì vậy, hành vi của Phan Văn V đã cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự như Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Trường đã truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Về tính nguy hiểm của hành vi phạm tội: Hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự quản lý của Nhà nước về các chất gây nghiện, tiếp tay cho tệ nạn mua bán, sử dụng trái phép chất ma tuý, một hiểm hoạ lớn cho toàn xã hội, là nguồn gốc phát sinh nhiều loại tội phạm như: Trộm cắp tài sản, cướp tài sản,... làm tan vỡ hạnh phúc bao gia đình. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực hành vi, nhận thức được hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội; là người nghiện ma túy nên bị cáo đã thấu hiểu được tác hại của ma túy nhưng vẫn cố tình tàng trữ để sử dụng cho bản thân. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm bị cáo theo quy định của pháp luật hình sự để răn đe và phòng ngừa.
[4] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
[5] Về hình phạt chính: Sau khi cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được áp dụng, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian là áp dụng hình phạt tù có thời hạn tương xứng với tính chất mức độ hành vi cũng như theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát mới đủ tác dụng trừng trị, giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội và đấu tranh phòng chống tội phạm nói chung.
[6] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy hoàn cảnh kinh tế của bị cáo khó khăn nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
[7] Về xử lý vật chứng thu giữ: Số ma túy đã thu giữ của bị cáo là vật Nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu cho tiêu hủy.
[8] Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho V, V khai không biết tên tuổi, địa chỉ ngoài ra không còn nguồn chứng cứ, tài liệu nào khác nên không có căn cứ để xử lý.
[9] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự:
- - Tuyên bố bị cáo Phan Văn V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”;
- - Xử phạt bị cáo Phan Văn V 01 (một) năm 11 (mười một) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 16/5/2024.
- Xử lý vật chứng, tài sản thu giữ: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
- - Tịch thu, tiêu hủy số ma túy trong phong bì hoàn trả mẫu vật giám định số 94/KL-KTHS của Phòng K1 Công an tỉnh N.
- (Chi tiết vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 85/CCTHA ngày 05/8/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện X và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Xuân Trường).
- Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án buộc bị cáo Phan Văn V phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hạn thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Văn Thung |
5
Bản án số 63/2024/HS-ST ngày 22/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN TRƯỜNG, TỈNH NAM ĐỊNH về tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Số bản án: 63/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN TRƯỜNG, TỈNH NAM ĐỊNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phan Văn Vĩnh về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
