|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠCH HÀ TỈNH HÀ TĨNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 63/2024/HS-ST Ngày: 12/12/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠCH HÀ - TỈNH HÀ TĨNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Phan Văn Lâm
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Xuân Tình và ông Nguyễn Văn Hữu
- Thư ký phiên toà: Bà Bạch Thị Hà - Thư ký TAND huyện Thạch Hà.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạch Hà tham gia phiên tòa:
Ông Nguyễn Anh Quý, Kiểm sát viên.
Vào hồi 14 giờ 00 phút, ngày 12 tháng 12 năm 2024, tại Hội trường xét xử, Tòa án nhân dân huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 59/2024/TLST-HS ngày 08 tháng 11 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 63/2024/QĐXXST-HS, ngày 02 tháng 12 năm 2024, đối với bị cáo:
* Họ và tên: Trần Đình D; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày 02/02/1976, tại xã Q, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh; Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở hiện nay: K, phường Q, thành phố V, tỉnh Nghệ An; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: Không; Con ông Trần Đình C (Đã chết) và bà Lê Thị H; Sinh năm 1951; A, chị em ruột: Có 03 người, bị cáo là con thứ 2; Vợ: Trần Thị H1 (Đã ly hôn); Tiền án, tiền sự: Không; Biện pháp ngăn chặn: Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, kể từ ngày 09/9/2024, (Có mặt tại phiên tòa).
* Bị hại:
- Bà Cù Thị H2; Sinh năm 1966; Chết ngày 16/10/2011; Nơi cư trú trước khi chết: Thôn F, xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk.
- Anh Lê Doãn M; Sinh năm 1976; Chết ngày 17/10/2011; Nơi cư trú trước khi chết: Thôn Y, xã Q, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh.
- Anh Trần Đình L; Sinh năm 1988; Nơi cư trú: Thôn F, xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk; Nghề nghiệp: Lao động tự do (Vắng mặt).
2
* Người đại diện hợp pháp cho bị hại Cù Thị H2: Ông Trần Hải C1, sinh năm 1966; Nơi cư trú: Thôn F, xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk; Nghề nghiệp: Lao động tự do (Vắng mặt).
* Người đại diện hợp pháp cho bị hại Lê Doãn M: Bà Nguyễn Thị V, sinh năm 1976; Nơi cư trú: Thôn Y, xã Q, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh; Nghề nghiệp: Lao động tự do (Vắng mặt).
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Anh Huỳnh Ngọc T; Sinh năm 1987; Nơi cư trú: Tổ R, thôn T, xã B, huyện T, tỉnh Quảng Nam; Nghề nghiệp: Lái xe (Vắng mặt).
- Ông Nguyễn Văn H3; Sinh năm 1961; Nơi cư trú: Số nhà A, ngõ B, đường P, khối A, phường H, thành phố V, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Kinh doanh (Vắng mặt).
- Bà Lê Thị H; Sinh năm 1951; Nơi cư trú: K, phường Q, thành phố V, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Hưu trí (Có mặt).
* Người làm chứng:
- Bà Trần Thị H4; Sinh năm 1976; Nơi cư trú: K, phường Q, thành phố V, tỉnh Nghệ An (Vắng mặt).
- Ông Trần Đình Q; Sinh năm 1953; Nơi cư trú: Thôn T, xã T, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh (Vắng mặt).
- Bà Nguyễn Thị V1; Sinh năm 1964; Nơi cư trú: Thôn Y, xã Q, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 16/10/2011, Trần Đình D đến dự đám giỗ ở nhà bà Trần Thị V2, sinh năm 1964, trú tại thôn Y, xã Q, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh. Đến đầu giờ chiều cùng ngày (không xác định được thời gian), Trần Đình D điều khiển xe ô tô con KIAMORNING, màu sơn bạc, biển kiểm soát 37A-003.41 (D thuê dịch vụ xe tự lái từ Công ty V3, địa chỉ: khối A, phường H, thành phố V, tỉnh Nghệ An do ông Nguyễn Văn H3, sinh năm 1961, trú cùng địa chỉ trên làm Giám đốc) chở 04 người gồm: ông Trần Đình Q, sinh năm 1953, trú tại xã T, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh; bà Cù Thị H2, sinh năm 1966 và anh Trần Đình L, sinh năm 1988, cùng trú tại thôn F, xã E, huyện K, Đắk Lắk (bà H2 và anh L là mẹ, con); anh Lê Doãn M, sinh năm 1976, trú tại thôn Y, xã Q, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh (là bạn học với D) đi về nhà ông Q chơi.
3
Sau khi chơi tại nhà ông Trần Đình Q xong, Trần Đình D tiếp tục điều khiển xe ô tô 37A-003.41 chở theo bà H2, anh L, anh M di chuyển theo Quốc lộ A hướng từ N ra B để đi về huyện Đ, tỉnh Hà Tĩnh. Đến khoảng 14 giờ 30 phút ngày 16/10/2011, Trần Đình D điều khiển xe ô tô 37A-003.41 di chuyển đến K Quốc lộ A thuộc địa phận xã T, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh. Tại thời điểm này, trời mưa, mặt đường ướt, phía bên phải phần đường xe ô tô 37A-003.41 do Trần Đình D điều khiển có một vũng nước đọng. Do Trần Đình D điều khiển xe ô tô 37A-003.41 di chuyển với tốc độ nhanh (không xác định được tốc độ cụ thể) nên khi phát hiện thấy vũng nước trên thì D đánh lái sang trái để tránh, dẫn đến không làm chủ tay lái, xe ô tô 37A-003.41 di chuyển sang phần đường dành cho xe chạy ngược chiều (phần đường bên phải Quốc lộ A hướng từ B vào N).
Cùng lúc này, anh Huỳnh Ngọc T, sinh năm 1987, trú tại xã B, huyện T, tỉnh Quảng Nam điều khiển xe ô tô khách nhãn hiệu MERCEDESBENZ, màu sơn trắng, biển kiểm soát 92B- 001.21 (xe thuộc sở hữu của anh T), trên xe lúc này có phụ xe là anh Nguyễn Đình K, sinh năm 1964, trú tại G P, thành phố T, tỉnh Quảng Nam ngồi ở ghế bên phụ và 09 hành khách bao gồm: Đoàn Ngọc L1, sinh năm 1956; Trần Thái H5, sinh năm 1955; Trần Thị N, sinh năm 1976; Trần D1, sinh năm 1953; Đặng Ngọc A (Đặng Ngọc G), sinh năm 1948; Nguyễn Thị T1, sinh năm 1980; Đăng Thị Y, sinh năm 1953 (đều trú tại xã B, huyện T, tỉnh Quảng Nam); Nguyễn Thị Minh H6, sinh năm 1982, trú tại tổ A, phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng; Trần Thanh D2, sinh năm 1982, trú tại xã H, huyện H, thành phố Đà Nẵng, đang di chuyển ở phần đường phía bên phải Quốc lộ A hướng từ Bắc vào N cũng di chuyển đến đoạn đường nói trên.
Quan sát thấy xe ô tô con 37A-003.41 do Trần Đình D điều khiển như trên, anh Huỳnh Ngọc T đã điều khiển xe giảm tốc độ, bóp còi báo hiệu. Tuy nhiên, xe ô tô con 37A-003.41 do D điều khiển vẫn tiếp tục di chuyển sang phần đường ngược chiều, đâm vào xe ô tô khách 92B-001.21 do anh T điều khiển (bên phải đầu xe ôtô con 37A-003.41 và bên trái đầu xe ôtô khách 92B- 001.21 là vị trí va chạm đầu tiên), gây nên vụ tai nạn giao thông. Hậu quả làm bà Cù Thị H2 bị văng ra khỏi xe, tử vong tại chỗ; anh Lê Doãn M bị thương nặng và tử vong vào ngày 17/10/2011; anh Trần Đình L và Trần Đình D bị thương nặng; tất cả 11 người ngồi trên xe ô tô khách 92B-001.21 bị thương nhẹ, xe ô tô khách 92B-001.21 bị hư hỏng, thiệt hại về tài sản trị giá 70.000.000 đồng; xe ô tô con 37A-003.41 bị hư hỏng, thiệt hại về tài sản trị giá 262.500.000 đồng.
Kết quả điều tra xác định: Trần Đình D và anh Huỳnh Ngọc T đều đã có giấy phép lái xe ô tô theo quy định; không thực hiện việc kiểm tra nồng độ cồn và chất ma túy đối với D và anh T.
Xét thấy, vụ tai nạn giao thông nói trên có dấu hiệu của tội phạm nên ngày 9/11/2011, Cơ quan CSĐT Công an huyện T đã ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” quy định tại
4
Điều 202 Bộ luật Hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009), đối với vụ tai nạn giao thông nói trên.
Tuy nhiên, sau tai nạn Trần Đình D bị chấn thương sọ não nặng, phải điều trị tại nhiều cơ sở y tế khác nhau, cụ thể: Từ ngày 18/10/2011 đến ngày 04/11/2011, điều trị tại Bệnh viện H7, thành phố Hà Nội; từ ngày 04/11/2011 đến 28/11/2011, điều trị tại Bệnh viện 4, tỉnh Nghệ An, sau đó về nhà tiếp tục điều trị. Đến ngày 06/9/2012, gia đình chuyển Trần Đình D vào Bệnh viện tâm thần tỉnh N để điều trị, được các bác sĩ kết luận: Bị rối loạn nhân cách và hành vi thực tổn. Do Trần Đình D bị chấn thương sọ não, không làm việc, lấy lời khai được, chưa có đủ căn cứ để xử lý đối với Trần Đình D nên ngày 09/03/2012, CQCSĐT Công an huyện T đã ra Quyết định tạm đình chỉ điều tra vụ án hình sự nêu trên (do đã hết thời hạn điều tra).
Ngày 06/11/2012, CQCSĐT Công an huyện T đã ra Quyết định trưng cầu giám định tâm thần đối với Trần Đình D đến Trung tâm pháp y tâm thần tỉnh N. Ngày 07/11/2012, Trung tâm G có văn bản đồng ý tiếp nhận đối tượng giám định tâm thần đối với Trần Đình D. Tuy nhiên, do Trần Đình D bị rối loạn nhân cách, chống đối, không hợp tác đi giám định tâm thần nên việc giám định tâm thần đã không thực hiện được. Quá trình Trần Đình D điều trị tại nhà, do di chứng sau vụ tai nạn giao thông nên D thường xuyên bỏ đi. Đến ngày 29/5/2024, sau khi đã làm việc, lấy lời khai đối với Trần Đình D, CQCSĐT Công an huyện T đã ra Quyết định phục hồi điều tra vụ án hình sự đối với vụ án nói trên để tiếp tục tiến hành các hoạt động điều tra.
Trên cơ sở kết luận giám định pháp y tâm thần số 25/KLGĐ ngày 09/8/2024 của Phân viện pháp y tâm thần B, ngày 09/9/2024 CQCSĐT Công an huyện T đã ra Quyết định khởi tố bị can đối với Trần Đình D để điều tra, xử lý. Tại Cơ quan điều tra, Trần Đình D đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình.
Tại Biên bản khám nghiệm hiện trường lập hồi 14 giờ 35 phút ngày 16/10/2011 của CQCSĐT Công an huyện T, phản ánh:
Đoạn đường nơi xảy ra vụ tai nạn giao thông là Km 505+100 Quốc lộ A thuộc địa phận xã T, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh.
Đoạn đường nơi xảy ra vụ tai nạn giao thông được rải nhựa bằng phẳng; phần đường dành cho xe cơ giới rộng 7,4m; phần đường dành cho xe thô sơ phía Đông rộng 2,2m; phần đường dành cho xe thô sơ phía Tây rộng 2,2m.
Hiện trường vụ tai nạn được xác định như sau:
Lấy biển báo nguy hiểm giao nhau với đường không ưu tiên ở lề đường phía Đông làm điểm xác định. Cách biển báo về phía Bắc 13m là tâm trục bánh sau bên phụ của xe ô tô 37A-003.41. Xe ô tô 37A-003.41 đậu trên phần đường dành cho xe cơ giới phía Đ, đầu xe hướng về phía Bắc, đuôi xe hướng về phía Nam. Khoảng cách từ tâm trục bánh trước bên lái xe ô tô 37A-003.41 đến mép đường nhựa phía Tây là
5
6,5m. Khoảng cách từ tâm trục bánh sau bên lái xe ô tô 37A-003.41 đến mép đường nhựa phía Tây là 6,6m.
Từ tâm trục bánh sau bên phụ xe ô tô 37A-003.41 về phía Bắc 0,6m là tâm vũng máu. Vũng máu không rõ hình dạng, nằm trên phần đường dành cho xe cơ giới phía Đông, kích thước (50 x 50)cm. Khoảng cách từ tâm vũng máu đến mép đường nhựa phía Tây là 8,4m.
Cách tâm trục bánh sau bên lái xe ô tô 37A-003.41 về phía Bắc 3m là tâm trục bánh sau bên lái xe ô tô 92B-001.21. Xe ô tô 92B-001.21 đậu trên phần đường dành cho xe thô sơ phía Tây, đầu xe hướng về phía T, đuôi xe hướng về hướng Đ. Khoảng cách từ tâm trục bánh trước sau bên lái xe xe ô tô 92B-001.21 đến mép đường nhựa phía Tây là 0,5m. Khoảng cách từ tâm trục bánh sau bên lái xe ô tô 92B-001.21 đến mép đường nhựa phía Tây là 3,3m.
Từ tâm trục bánh sau bên lái xe ô tô 92B-001.21 về phía Nam 3m là tâm đầu nạn nhân. Nạn nhân nằm trên phần đường dành cho xe cơ giới phía Tây, đầu hướng về phía Nam, chân hướng về phía Bắc. Khoảng cách từ tâm đầu nạn nhân đến mép đường nhựa phía Tây là 3,45m.
Từ tâm trục bánh sau bên lái xe ô tô 37A-003.41 về phía Bắc 3,4m là điểm đầu vết cày đường nhựa thứ nhất (ký hiệu số 1). Vết (1) theo hướng Đ - T, nằm trên phần đường xe cơ giới, có chiều dài 0,6m, điểm đầu cách mép đường nhựa phía Tây là 6,15m, điểm đầu cách mép đường nhựa phía Tây là 5,5m.
Cách điểm cuối vết cày (1) về phía Nam 1m là vết cày đường nhựa thứ hai (ký hiệu số 2). Vết (2) nằm trên phần đường dành cho xe cơ giới phía Tây, có chiều dài 0,75m, điểm đầu cách mép đường nhựa phía Tây là 4,8m, điểm đầu cách mép đường nhựa phía Tây là 4,3m.
Từ điểm cuối vết cày (1) về phía Bắc 1,7m là tâm vùng mảnh kính vỡ. Vùng mảnh kính vỡ không rõ hình thù, nằm trên phần đường dành cho xe cơ giới phía Tây, kích thước (40 x 60)cm, khoảng cách từ tâm vùng mảnh kính vỡ đến mép đường nhựa phía Tây là 5,6m.
Từ biển báo nguy hiểm bên lề đường phía Đông về phía Nam 14m là tâm vũng nước. Vũng nước nằm trên phần đường nhựa dành cho xe cơ giới phía Đông, kích thước (13,5 x 5,5)m.
Tại các Biên bản khám nghiệm phương tiện liên quan đến vụ TNGT lập ngày 17/10/2011 của CQCSĐT Công an huyện T, phản ánh:
* Xe ô tô 92B-001.21:
- Ba đờ xốc phía trước bên lái (bên trái) bị rơi xuống đất. 2/3 của ba đờ xốc bên lái bị tróc, xước sơn.
6
- Phần mũi xe phía trước bên lái (Bên trái) bị tróc sơn, móp dần về phía sau theo hướng từ trước ra sau, từ bên lái qua bên phụ (từ trái qua phải), kích thước (1,25 x 1,25)m. Phần móp méo nằm ở vị trí 2/3 phía đầu xe bên lái.
- Ba đờ xốc (nhựa) phía trước bên lái có dính cao su màu đen, kích thước (22 x 4)cm.
- Hệ thống đèn pha phía trước bị vỡ.
- Kính chắn gió phía trước bị vỡ, phần bên trái bị lún vào trong theo chiều từ trước ra sau.
- Bể hộp số lái, tay lái xoay tròn không có tác dụng.
- Cánh cửa bên lại bị móp vào trong, toàn bộ phần sắt của cánh cửa bị xây xước sơn. Kính phía trên bị rơi vỡ, cửa bị bung ra.
- Phần thân xe tiếp giáp với cánh cửa bên lái (bên trái) có vết móp, xây xước sơn, kích thước (1 x 1,5)m. Kính phía trên bị vỡ một tấm. Trên nền vết lõm có dính máu, tóc và mảnh vụn kính.
- Phần thân xe phía sau bên lái (bên trái) có vết xước sơn nhỏ li ti gồm nhiều kích thước. Tại cửa thông gió tại roăng cửa có các hạt kính màu trắng dính vào. Phía sau đuôi xe không phát hiện dấu vết gì.
- Bên phải xe bình thường.
- Bốn lốp xe đều căng hơi.
* Kỹ thuật an toàn phương tiện: Hệ thống lái điều khiển bị mất tác dụng; Hệ thống hãm (phanh) còn tác dụng; Hệ thống đèn phía trước, còi không còn tác dụng; Gương bên lái (bên trái) bị vỡ.
* Xe ô tô 37A-003.41:
- Đầu xe bên phải bị móp méo, biến dạng, ba đơ xốc, cabin, lọc gió bị dồn vào theo hướng từ phải sang trái (từ bên phụ sang bên lái).
- Kính chắn gió phía trước bị vỡ.
- Cửa trước bên phải không có lỗi, mặt ngoài larăng có bốn chấu kim loại bị xây xước, dấu vết còn mới. Một con ốc tích kê bị móp vào trong. Mặt tiếp xúc của lốp có dính nhiều sơn màu trắng (cùng màu sơn với xe ô tô 92B-001.21).
- Mặt trong của lốp bên phải phía trước có vết thủng sát larăng, kích thước (3 x 3) cm. Ngay cạnh đó trên mép larăng có vết xước kim loại dài (6 x 0,6)cm. Mặt trong larăng bị gãy 1/3, kích thước (40c x 5)cm.
- Toàn bộ lốc máy phía dưới bị rơi xuống đất.
- Trục chuyển hướng và trục truyền lực phía trước của bánh bên phải (bên phụ) bị gãy.
7
- Cánh cửa bên phải (bên phụ) phía trước bị móp méo, bị lõm vào trong theo hướng từ ngoài vào trong, phần sơn bị xây xước. Kính phía trên bị vỡ; Cánh cửa bị bung ra.
- Cánh cửa phía sau bên phải ở phần phía trên bị kéo ra, kích thước rộng 80cm. Khóa cửa vẫn còn nguyên. Phần cánh cửa bị móp méo, biến dạng, kính phía trên bị vỡ. Mặt ngoài cửa dính nhiều máu và tóc.
- Kính phía sau bị vỡ.
- Hệ thống đèn phía trước bị vỡ.
- Phía bên trái (bên lái) bình thường.
- Phía đuôi xe bình thường.
- Hệ thống tay lái còn tác dụng (hiệu lực còn).
* Kỹ thuật an toàn phương tiện: Hệ thống điều khiển, hệ thống phanh còn tác dụng; Hệ thống đèn, còi mất tác dụng; G1, gạt nước mất tác dụng.
Kết quả khám nghiệm tử thi các nạn nhân:
* Biên bản khám nghiệm tử thi Cù Thị H2 do CQCSĐT Công an huyện T lập hồi 16 giờ ngày 16/10/2011 tại Bệnh viện đa khoa huyện T, phản ánh:
Tử thi được xác định là bà Cù Thị H2, sinh năm 1966, trú tại xã E, huyện K, tỉnh ĐắkLắk.
Các dấu vết tổn thương trên cơ thể: Vùng thái dương đỉnh phải có vết thương lột da đầu, rách nham nhở, vỡ rạn xương hộp sọ, kích thước (6 x 10)cm; 1/3 ngoài mặt trên cánh tay phải có vết thương rách da, bầm dập, kích thước (2 x 3)cm; Gãy kín, dập nát 1/3 giữa đùi phải; Gối phải có vết thương rách da dài 6cm, vết thương nham nhở; Vết thương xây xát da, bầm dập mặt trong cẳng chân trái; Mu bàn chân trái có vết thương rách da dài 6cm.
Mổ tử thi: Sau khi khám nghiệm bên ngoài đã có đủ cơ sở xác định nguyên nhân chết nên Hội đồng không mổ tử thi. Nạn nhân bị chết do chấn thương sọ não, đa chấn thương nặng phối hợp.
* Biên bản khám nghiệm tử thi Lê Doãn M do CQCSĐT Công an huyện T lập hồi 08 giờ 30 phút ngày 17/10/2011 tại xóm Y, xã Q, huyện C, phản ánh:
Tử thi được xác định là anh Lê Doãn M, sinh năm 1976, trú tại xóm Y, xã Q, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh.
Các dấu vết tổn thương trên cơ thể: Vùng trán thái dương bên trái sưng nề, bầm tím, có vết thương xây xát da kích thước (6 x 9)cm; Chảy máu tai bên phải; Vùng gò má trái có vết thương dài 5cm, vỡ xương gò má; Vùng cằm có vết thương xây xát da, bầm tím, kích thước (3 x 4)cm; Vùng cổ có vết thương xây xát da, bầm tím, kích thước (3 x 4)cm; Cánh tay trái sưng nề, bầm tím, gãy kín 1/3 giữa xương cánh tay trái.
8
Mổ tử thi: Sau khi khám nghiệm bên ngoài thấy có đủ cơ sở kết luận nguyên nhân chết do chấn thương sọ não nặng, nên Hội đồng khám nghiệm không mổ tử thi.
Bản Thông báo kết quả giám định số 137/PC54 ngày 20/10/2011 của Phòng Kl Công an tỉnh H, kết luận:
- Bên trái đầu xe ôtô 92B- 001.21 với bên phải đầu xe ôtô 37A-003.41 là vị trí va chạm đầu tiên. Lực tác động vào xe ôtô 92B-001.21 theo hướng từ trước ra sau, từ trái sang phải và vào xe ôtô 37A-003.41 theo hướng từ trước ra sau, từ phải sang trái.
- Vết thủng lốp và vết vỡ la răng bánh trước, bên phải xe ô tô 37A-003.41 xảy ra khi 2 xe va chạm vào nhau.
Bản Thông báo kết quả giám định xe ô tô tai nạn số 156/TB-ĐK ngày 07/12/2011 của Công ty TNHH MTV Đăng kiểm phương tiện GTVT tỉnh H, phản ánh:
* Đối với xe ô tô 37A-003.41:
Tại thời điểm kiểm tra:
- Hệ thống lái: Các chi tiết của hệ thống lái như cơ cấu lái, dẫn động lái bị nứt gẫy và hư hỏng không hoạt động được.
- Hệ thống phanh: Cụm phanh bên phụ của cầu trước bị hư hỏng, đường ống dẫn dầu phanh tới bánh xe bị đứt và chảy dầu nên hiệu quả phanh không còn tác dụng.
Kết luận: Như vậy qua kiểm tra thì hệ thống lái và hệ thống phanh của phương tiện 37A-003.41 bị hư hỏng, hoạt động không có hiệu quả.
* Đối với xe ô tô 92B-001.21:
Tại thời điểm kiểm tra:
- Hệ thống lái: Cơ cấu lái, dẫn động lái bị nứt gẫy và hư hỏng do đó vô lăng điều khiển hướng chuyển động không có tác dụng.
- Hệ thống phanh: Các chi tiết không bị hư hỏng. Hoạt động bình thường.
Kết luận: Như vậy qua kiểm tra thì hệ thống lái của phương tiện 92B-001.21 bị hư hỏng, hoạt động không có tác dụng. Hệ thống phanh hoạt động bình thường.
Cơ quan CSĐT Công an huyện T xác định: xe ô tô con biển kiểm soát 37A-003.41 và xe ô tô khách biển kiểm soát 92B-001.21 tại thời điểm xảy ra tai nạn giao thông đang trong thời hạn kiểm định cho phép.
Bản Kết luận giám định pháp y tâm thần số 25/KLGĐ ngày 09/8/2024 của Phân viện pháp y tâm thần B, phản ánh:
- Trước và trong khi xảy ra sự việc (ngày 16/10/2011), Trần Đình D chưa có biểu hiện bị bệnh tâm thần, đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi.
9
- Ngay sau khi sự việc xảy ra (trong khoảng thời gian hôn mê, cấp cứu, điều trị chấn thương sọ não tại các cơ sở Y tế), Trần Đình D mất khả năng nhận thức, điều khiển hành vi.
- Sau khi sự việc xảy ra (sau thời gian điều trị chấn thương sọ não) và tại thời điểm giám định, Trần Đình D bị bệnh: Hội chứng sau chấn động não, theo Phân loại bệnh Quốc tế lần thứ 10, năm 1992 (ICD 10) có mã bệnh là: F07.2. (Bệnh ở mức độ suy não chấn thương). Trần Đình D hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi.
Biên bản định giá tài sản ngày 20/11/2011 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện T phản ánh:
- Giá trị thiệt hại về tài sản của xe ôtô hiệu KIAMORNING 2010, biển kiểm soát 37A-003.41 là 262.500.000 đồng (Hai trăm sáu mươi hai triệu, năm trăm ngàn đồng).
- Giá trị thiệt hại về tài sản của xe ôtô hiệu MERCEDESBENZ, biển kiểm soát 92B-001.21 là 70.000.000 đồng (Bảy mươi triệu đồng).
Tổng giá trị thiệt hại của hai phương tiện là 332.500.000 đồng (Ba trăm ba mươi hai triệu, năm trăm ngàn đồng).
Nguyên nhân dẫn đến vụ tai nạn giao thông nói trên là do Trần Đình D trong khi điều khiển xe ô tô là một nguồn nguy hiểm cao độ nhưng không chú ý quan sát biển báo giao thông, không giảm tốc độ khi đi vào đoạn đường có biển cảnh báo nguy hiểm giao nhau với đường không ưu tiên trong điều kiện trời mưa, đường trơn; đi sai phần đường dẫn đến tai nạn giao thông gây hậu quả rất nghiêm trọng: làm chết 02 người, gây thiệt hại về tài sản 70.000.000 đồng.
Vật chứng, tài liệu thu giữ của vụ án gồm:
- 01 (một) xe ô tô nhãn hiệu MERCEDESBENZ, màu sơn trắng, biển kiểm soát 92B-001.21, số khung 11852903297, số máy 291110145656, đã qua sử dụng (Kèm theo các giấy tờ xe gồm: 01 (một) Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 000152, biển đăng ký 92B-001.21; 01 (một) giấy chứng nhận kiểm định số 0258237, biển đăng ký 92B-001.21).
- 01 (một) xe ô tô nhãn hiệu KIAMORNING 2010, màu sơn bạc, biển kiểm soát 37A-003.41, số khung ACO 12300, số máy G4HGAM 991979, đã qua sử dụng (Kèm theo 01 (một) giấy chứng nhận kiểm định số 0283196, biển đăng ký 37A-003.41).
- 01 (một) giấy phép lái xe hạng C, số AS 518459, do Sở giao thông vận tải tỉnh N cấp ngày 18/8/2011, mang tên Trần Đình D.
Ngày 03/01/2011, CQCSĐT Công an huyện T đã trả lại xe ô tô biển kiểm soát 92B-001.21 và xe ô tô biển kiểm soát 37A-003.41 (kèm theo các giấy tờ xe) cho các chủ sở hữu là anh Huỳnh Ngọc T và ông Nguyễn Văn H3.
10
Đối với Giấy phép lái xe số AS 518459 của Trần Đình D tại hồ sơ không có tài liệu phản ánh việc xử lý và cũng không còn lưu giữ giấy phép lái xe nói trên. Tuy nhiên, Cơ quan điều tra xét thấy hiện nay Giấy phép lái xe của Trần Đình D đã hết thời hạn, bản thân bị cáo hiện cũng không còn khả năng điều khiển xe cơ giới nên không cần thiết phải xem xét việc xử lý giấy phép này.
Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, gia đình bị cáo Trần Đình D đã bồi thường cho gia đình nạn nhân Cù Thị H2 số tiền 15.000.000 đồng; thăm hỏi gia đình nạn nhân Lê Doãn M số tiền 5.000.000 đồng. Hiện nay gia đình các nạn nhân Cù Thị H2, Lê Doãn M và người bị hại Trần Đình L không có yêu cầu gì về phần dân sự và đều có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đối với những hành khách có mặt trên xe ô tô biển kiểm soát 92B-001.21 bị thương đã được chủ xe là anh Huỳnh Ngọc T hỗ trợ tiền thuốc men nên không có yêu cầu gì thêm. Đối với hư hỏng, thiệt hại về tài sản của xe ô tô biển kiểm soát 92B-001.21 và xe ô tô biển kiểm soát 37A-003.41, các chủ sở hữu là anh Huỳnh Ngọc T và ông Nguyễn Văn H3 đều không yêu cầu bị cáo Trần Đình D phải bồi thường.
Với hành vi trên, tại bản Cáo trạng số 64/CT-VKS-TH ngày 07/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạch Hà đã truy tố bị cáo Trần Đình D về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa sơ thẩm hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạch Hà vẫn giữ nguyên quan điểm như cáo trạng đã truy tố và đề nghị HĐXX áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 260; điểm b, p, q, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 65 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Trần Đình D 36 (Ba sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 60 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, giao bị cáo cho UBND phường Q, thành phố V, tỉnh Nghệ An và gia đình quản lý trong thời gian thử thách; Miễn hình phạt bổ sung và án phí cho bị cáo.
Tại phiên tòa, bị cáo Trần Đình D trình bày lời khai phù hợp với cáo trạng đã truy tố và không có ý kiến tranh luận gì.
Lời nói sau cùng của bị cáo Trần Đình D: Bị cáo im lặng, không có ý kiến gì.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về tính hợp pháp của quyết định và hành vi của các cơ quan và những người tiến hành tố tụng: Trong quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạch Hà, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì. Do đó các quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và hành vi của những người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
11
[2]. Về hành vi phạm tội: Vào hồi 14 giờ 30 phút ngày 16/10/2011, tại Km 505+100 Quốc lộ A, thuộc địa phận xã T, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh, Trần Đình D điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 37A-003.41 (trên xe chở thêm 03 người là bà Cù Thị H2, sinh năm 1966, trú tại xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk; anh Lê Doãn M, sinh năm 1976, trú tại xã Q, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh và anh Trần Đình L, sinh năm 1988, trú tại xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk) tham gia giao thông đường bộ, không chú ý quan sát biển báo giao thông, không giảm tốc độ khi đi vào đoạn đường có biển cảnh báo nguy hiểm giao nhau với đường không ưu tiên trong điều kiện trời mưa, đường trơn; đi sai phần đường, nên xe ô tô 37A-003.41 do D điều khiển đã đâm vào xe ô tô khách biển kiểm soát 92B-001.21 do Huỳnh Ngọc T, sinh năm 1987, trú tại xã B, huyện T, tỉnh Quảng Ngãi điều khiển, dẫn đến vụ tai nạn giao thông gây hậu quả rất nghiêm trọng làm bà Cù Thị H2 và anh Lê Doãn M bị tử vong; anh Trần Đình L bị thương (nhưng từ chối giám định) và gây thiệt hại về tài sản cho người khác 70.000.000 đồng.
Ngày 9/11/2011, Cơ quan CSĐT Công an huyện T đã ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” quy định tại Điều 202 Bộ luật Hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009). Tuy nhiên, sau tai nạn Trần Đình D bị chấn thương sọ não nặng, phải điều trị tại nhiều cơ sở y tế khác nhau nên ngày 09/03/2012, CQCSĐT Công an huyện T đã ra Quyết định tạm đình chỉ điều tra vụ án hình. Đến ngày 29/5/2024, sau khi đã làm việc, lấy lời khai đối với Trần Đình D, CQCSĐT Công an huyện T đã ra Quyết định phục hồi điều tra vụ án hình sự đối với vụ án nói trên để tiếp tục tiến hành các hoạt động điều tra. Căn cứ điểm b, Khoản 1, Điều 2 Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20 tháng 6 năm 2017 của Quốc hội quy định về việc áp dụng Bộ luật Hình sự năm 2015 (Kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2018, Bộ luậtsự năm 2015 được áp dụng như sau: ... Các điều khoản của Bộ luật ình sự năm 2015... quy định hình phạt nhẹ hơn, ... và các quy định khác có lợi cho người phạm tội thì được áp dụng đối với cả những hành vi phạm tội xảy ra trước 0 giờ 00 phút ngày 01 tháng 01 năm 2018 mà sau thời điểm đó mới bị phát hiện, đang bị điều tra, truy tố, xét xử ...). So sánh Điều 202 Bộ luật Hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) với Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) thấy hành vi điều khiển xe ô tô vi phạm Luật Giao thông đường bộ gây tai nạn làm chết 02 người của Trần Đình D áp dụng quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) về tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ sẽ có lợi hơn cho bị cáo.
Do đó, quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạch Hà đối với bị cáo Trần Đình D về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
[3]. Về các tình tiết tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
12
[3.1]. Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Trần Đình D thực hiện hành vi phạm tội không thuộc tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào theo quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.
[3.2]. Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Trần Đình D được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “Người phạm tội tự nguyện bồi thường thiệt hại”; “Người phạm tội là người khuyết tật nặng” (hiện đang được hưởng trợ cấp hàng tháng của Nhà nước); “Người phạm tội là người có bệnh bị hạn chế khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình”; “Người phạm tội thành khẩn khai báo”. Đây là các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại các điểm b, p, q, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Ngoài ra, bị hại và người đại diện hợp pháp của bị hại đều có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; Trần Đình D có thời gian tham gia nghĩa vụ quân sự tại Đồn biên phòng C2, tỉnh Hà Tĩnh (Đ) từ tháng 02/1995 đến tháng 5/1996; mẹ đẻ bị cáo là bà Lê Thị H được tặng Huy chương vì sự nghiệp giao thông vận tải và được Chủ tịch UBND tỉnh N tặng Bằng khen vì đã có thành tích trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước nên Trần Đình D được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[4]. Về hình phạt: Trên cơ sở xem xét toàn diện tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như đã nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy: Nguyên nhân dẫn đến vụ TNGT nói trên là do Trần Đình D trong quá trình điều khiển xe ô tô 37A-003.41 không chú ý quan sát biển báo giao thông, không giảm tốc độ khi đi vào đoạn đường có biển cảnh báo nguy hiểm giao nhau với đường không ưu tiên trong điều kiện trời mưa, đường trơn; đi sai phần đường dẫn đến gây tai nạn giao thông gây hậu quả rất nghiêm trọng làm bà Cù Thị H2 và anh Lê Doãn M bị tử vong; anh Trần Đình L bị thương (nhưng từ chối giám định) và gây thiệt hại về tài sản cho người khác 70.000.000 đồng. Trong vụ án này, lỗi hoàn toàn thuộc về bị cáo. Vì vậy, cần áp dụng hình phạt đủ nghiêm để giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung. Bên cạnh đó, thấy rằng bị cáo có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu với lỗi vô ý; có 07 tình tiết giảm nhẹ (trong đó có 04 tình tiết quy định tại khoản 1 và 03 tình tiết quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự), không có tình tiết tăng nặng nào. Hiện nay, bị hại và người đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu gì thêm về trách nhiệm dân sự và đều có đơn đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Hoàn cảnh gia đình bị cáo hết sức khó khăn, bản thân bị cáo sau khi bị tai nạn đã bị khuyết tật nặng (được hưởng trợ cấp hàng tháng của Nhà nước); khả năng nhận thức và điều khiển hành vi bị hạn chế; sinh hoạt cuộc sống hàng ngày của bị cáo không tự lập được mà hoàn toàn phụ thuộc vào việc chăm sóc của mẹ già năm nay đã hơn 70 tuổi, tính nguy hiểm của bị cáo đối với xã hội không còn, việc áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo sẽ gây rất nhiều khó khăn cho công tác thi hành án. Bị cáo có nơi cư trú rõ ràng nên xét thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà cho bị cáo được hưởng án treo theo quy định tại Điều 65 Bộ luật Hình sự vừa đảm bảo tính nghiêm minh, vừa đảm bảo tính nhân văn trong chính sách pháp luật
13
hình sự của Đảng và Nhà nước ta. Xét thấy, mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạch Hà đề nghị đối với bị cáo tại phiên tòa là phù hợp nên HĐXX chấp nhận.
[5]. Về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo có hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khăn, hiện nay không còn khả năng lao động, không có thu nhập, do đó miễn áp dụng hình phạt bổ sung cho bị cáo là phù hợp với quy định của pháp luật.
[7]. Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình điều tra, bị cáo và gia đình bị hại đã thỏa thuận về trách nhiệm dân sự. Hiện nay bị hại, đại diện hợp pháp của bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đều không có yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử miễn xét.
[8]. Về xử lý vật chứng: Vật chứng vụ án đã được Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T xử lý theo thẩm quyền nên Hội đồng xét xử miễn xét.
[9]. Về án phí: Bị cáo là người khuyết tật nên được miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[10]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên có mặt được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Đình D phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
- Về hình phạt: Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 260; các điểm b, p, q, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo Trần Đình D 36 (Ba sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 60 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (12/12/2024).
Giao bị cáo Trần Đình D cho UBND xã phường Q, thành phố V, tỉnh Nghệ An quản lý, giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 và Điều 68 Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
- Về án phí: Áp dụng khoản 2, Điều 135; khoản 2 Điều 136 BLTTHS; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử
14
dụng án phí và lệ phí Tòa án: Miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Trần Đình D.
- Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 BLTTHS, bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên có mặt được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận: - TAND tỉnh Hà Tĩnh; - VKSND tỉnh Hà Tĩnh; - Sở Tư pháp tỉnh Hà Tĩnh; - VKSND huyện Thạch Hà; - Công an huyện Thạch Hà; - Chi cục THA dân sự huyện Thạch Hà; - Bị cáo; bị hại; người đại diện hợp pháp của bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; - Văn phòng Tòa án (Để công bố) - Lưu HSVA + VT. |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Văn Lâm |
Bản án số 63/2024/HS-ST ngày 12/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠCH HÀ - TỈNH HÀ TĨNH về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Số bản án: 63/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/12/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠCH HÀ - TỈNH HÀ TĨNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trịnh Đình D gây tai nạn chết người
