Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH HÀ NAM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 63/2024/HS-ST

Ngày 27/9/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ NAM

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thị Thanh Tâm

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Đúng và bà Nguyễn Thị Huyền.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hương – Thẩm tra viên chính Tòa án nhân dân tỉnh Hà Nam.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Nam tham gia phiên tòa: Bà Lại Thị Bích Ngọc – Kiểm sát viên trung cấp.

Ngày 27 tháng 9 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hà Nam xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 49/2024/TLST-HS, ngày 06 tháng 8 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 59/2024/QĐXXST-HS, ngày 06 tháng 9 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà số 34/2024/HSST-QĐ, ngày 20/9/2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Thị N, sinh năm 1992 tại Hà Nam; nơi ĐKHKTT: Thôn E, xã T, huyện K, tỉnh Hà Nam; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn D và bà Trương Thị L; chồng Trần Lương H (đã ly hôn); con: có 02 con, lớn sinh năm 2016, nhỏ sinh năm 2021.

Tiền án, tiền sự: Không

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt tại phiên tòa).

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

- Anh Nguyễn Văn K, sinh năm 2000; trú tại: Thôn E, xã T, huyện K, tỉnh Hà Nam (có mặt).

- Anh Trần Văn H1, sinh năm 1996; trú tại: Tổ H, phường L, thành phố P, tỉnh Hà Nam (có mặt).

- Chị Nguyễn Thị M, sinh năm 1995; trú tại: Thôn P, xã N, huyện K, tỉnh Hà Nam (có mặt).

- Anh Phạm Quang K1, sinh năm 1998; trú tại: Tổ G, phường L, thành phố P, tỉnh Hà Nam (có mặt).

- Chị Đinh Thị K2. Sinh năm 1990; trú tại: Tổ H, phường L, thành phố P, tỉnh Hà Nam (có mặt).

* Người làm chứng:

- Bà Trương Thị L, sinh năm 1968 (có mặt).

- Bà Trương Thị T, sinh năm 1968 (vắng mặt).

- Anh Trần Văn C, sinh năm 1994 (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trong khoảng thời gian từ tháng 3/2011 đến tháng 4/2020, Nguyễn Thị N, sinh năm 1992, trú tại xã T, huyện K, tỉnh Hà Nam nhiều lần đi bộ qua đường mòn lối mở trốn qua biên giới giữa Việt Nam và Trung Quốc mà không làm thủ tục xuất, nhập cảnh theo quy định pháp luật. Do đã từng trốn sang Trung Quốc để ở lại lao động nên Nguyễn Thị N biết cách thức đi lại và tìm việc làm bên Trung Quốc, vì vậy từ tháng 02/2019 đến tháng 4/2020, N đã 03 lần tổ chức đưa tổng cộng 05 người trốn sang Trung Quốc để ở lại lao động trái phép, cụ thể như sau:

Lần thứ nhất: Khoảng tháng 02/2019, N chuẩn bị sang Trung Quốc lao động thì Nguyễn Văn K, sinh năm 2000 (em trai N), trú tại xã T, huyện K, tỉnh Hà Nam và Trần Văn H1, sinh năm 1996, trú tại phường L, thành phố P, tỉnh Hà Nam (em họ N) nhờ N dẫn sang Trung Quốc bằng đường tiểu ngạch để kiếm việc làm. Ngoan nhận lời và dặn K, H1 chuẩn bị một số đồ dùng cá nhân và tiền để chi phí, trả công cho người môi giới đưa dẫn đường. Bà Trương Thị L, sinh năm 1968, trú tại xã T, huyện K là mẹ của K và bà Trương Thị T, sinh năm 1968, trú tại phường L, thành phố P là mẹ của Trần Văn H1, mỗi người đưa cho N 6.000.000 đồng để N chi phí đưa K và H1 sang Trung Quốc. Ngoan hẹn K, H1 về thời gian đi, địa điểm tập trung tại quốc lộ A khu vực vườn hoa N, thành phố P để đón xe khách đến bến xe M, sau đó tiếp tục đi xe khách đến Lạng Sơn. Khi đến nơi N liên hệ với người môi giới sắp xếp nhà nghỉ trọ ở qua đêm. Sáng hôm sau có 01 xe ô tô đến đón đưa N, K, H1 tới điểm hẹn gần khu vực cửa khẩu C1, tỉnh Lạng Sơn và được người môi giới khác dẫn N, K, H1 và một số người khác đi bộ theo đường mòn tới địa phận của Trung Quốc và được một xe ô tô

đón đưa đến xưởng sản xuất bàn chải đánh răng ở tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc để làm việc.

Khoảng vài tháng sau, N liên hệ với một người môi giới đưa về Việt Nam theo đường mòn qua khu vực biên giới thuộc tỉnh Lạng Sơn. Cuối năm 2019, H1 nhờ N liên hệ với người môi giới dẫn về Việt Nam theo đường mòn ở khu vực biên giới tỉnh Cao Bằng. Khoảng tháng 4/2019 K tự liên hệ với người môi giới dẫn từ Trung Quốc về Việt Nam qua khu vực biên giới tỉnh Cao Bằng.

Lần thứ hai: Khoảng tháng 6/2019, N tiếp tục sang Trung Quốc lao động, lần này N đưa Nguyễn Thị M, sinh năm 1995 (em ruột N), trú tại xã N, huyện K, tỉnh Hà Nam sang Trung Quốc. Trước khi đi M đưa cho N số tiền 3.000.000 đồng để chi phí đi lại, cả hai đón xe khách đi Lạng Sơn, N liên hệ với người môi giới và được hướng dẫn nghỉ trọ qua đêm. Sáng hôm sau N và M được một xe ô tô đưa đến khu vực hàng rào bằng thép ngăn cách giữa biên giới giữa Việt Nam và Trung Quốc, N và M xuống xe chui qua hàng rào và được xe ô tô đưa tới xưởng sản xuất bàn chải đánh răng ở tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc.

Đến khoảng tháng 01/2020 N đã liên hệ với người môi giới đưa M về Việt Nam qua đường tiểu ngạch sau đó khoảng nửa tháng sau N cũng nhờ môi giới đưa về Việt Nam.

Lần thứ ba: Khoảng tháng 4/2020, N lại tổ chức đưa 04 người xuất cảnh trái phép sang Trung Quốc để làm việc bằng đường tiểu ngạch qua khu vực biên giới tỉnh Cao Bằng gồm: Nguyễn Văn K và Trần Văn H1 (là người đã đi lần trước), Phạm Quang K1, sinh năm 1998, trú tại phường L, thành phố P, tỉnh Hà Nam (là bạn của Trần Văn H1) và Đinh Thị K2, sinh năm 1990, trú tại phường L, thành phố P, tỉnh Hà Nam (là em họ N).

Trước khi đi Ngoan dặn những người trên mang theo đồ dùng cá nhân và tiền để chi phí trả cho người môi giới. Lần này H1 được anh trai là Trần Văn C, sinh năm 1994, trú tại phường L, thành phố P chở xe máy ra khu vực vườn hoa Nam Cao để tập trung với nhóm của N. Sau đó cả nhóm đi xe khách đến tỉnh Lạng Sơn. Khi đến nơi, N liên hệ với người môi giới và được hướng dẫn thuê nhà trọ nghỉ qua đêm. Buổi tối ở nhà trọ, N thu tiền của H1 và K2 mỗi người 8.000.000 đồng và lấy tiền của mình, K1 (em trai) để đưa cho người môi giới, còn Phạm Quang K1 tự trả tiền trực tiếp cho người môi giới. Cả nhóm được hẹn đến sáng hôm sẽ có xe đến đón, tuy nhiên sau 02 ngày vẫn không liên lạc được với người môi giới nên N biết cả nhóm bị lừa. N tiếp tục liên hệ với 01 người bạn tên Đ quê ở Hải Phòng (cùng làm ở Trung Quốc) và được Đ cho số điện thoại của người môi giới khác. Nhưng do cả nhóm bị lừa hết tiền nên N quay về Hà Nam lấy 04 chỉ vàng gửi mẹ trước đó bán lấy tiền để lo chi phí cho mọi người. Ngoan liên lạc với người môi giới và được hướng dẫn đi xe khách từ Lạng Sơn đến khu vực chợ T1 tỉnh Cao Bằng (gần khu vực biên giới). Khi đến

nơi nhóm của N được xe ô tô đón đưa đến xưởng sản xuất bàn chải đánh răng ở tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc. Tại đây N, K2, H1 làm việc tại xưởng sản xuất bàn chải đánh răng còn Nguyễn Văn K, Phạm Quang K1 làm việc tại xưởng sản xuất in hình trên quần áo cũng ở tỉnh Quảng Đông.

Ngày 24/01/2021, Trần Văn H1 bị lực lượng chức năng của Trung Quốc bắt giữ khi đang trên đường chuẩn bị trốn qua biên giới về Việt Nam và được bàn giao cho Đồn Biên phòng Xín Cái cửa khẩu S thuộc tỉnh Hà Giang. Đồn Biên phòng X đã lập Biên bản vi phạm hành chính và ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 658/QĐ-XPVPHC, ngày 26/01/2021 đối với Trần Văn H1 về hành vi “Qua lại biên giới quốc gia mà không làm thủ tục xuất cảnh, nhập cảnh theo quy định” phạt số tiền là 3.000.000 đồng, H1 đã nộp tiền được thể hiện tại Biên lai thu tiền phạt số 0007906 ngày 26/01/2021.

Ngày 10/12/2022, Nguyễn Văn K bị lực lượng chức năng Trung Quốc kiểm tra bắt giữ khi đang lao động ở thành phố Q, tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc. Đến ngày 27/12/2022, K được trao trả cho Đồn Biên phòng cửa khẩu L1 thuộc tỉnh Cao Bằng. Do hành vi xuất cảnh trái phép của Nguyễn Văn K đã hết thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính nên Đồn Biên phòng cửa khẩu L1 không tiến hành xử phạt vi phạm hành chính.

Ngày 14/4/2023, Phạm Quang K1 bị lực lượng chức năng Trung Quốc kiểm tra bắt giữ khi đang lao động tại tỉnh Quảng Đông, đến ngày 16/6/2023 được trao trả cho Đồn Biên phòng cửa khẩu Chi Ma tỉnh C1, sau đó K1 được giao lại cho Phòng Q, Công an tỉnh L và không bị xử lý hành chính.

Ngày 08/12/2023, Đinh Thị K2 trốn từ Trung Quốc về đến khu vực cột mốc giới số 940, thuộc xóm B, xã Đ, Huyện Q, tỉnh Cao Bằng, Việt Nam thì tổ công tác Đồn Biên phòng cửa khẩu quốc tế T2, tỉnh Cao Bằng phát hiện bắt giữ lập Biên bản vi phạm hành chính và ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 97/QĐ-XPHC, mức phạt 4.000.000 đồng về hành vi “Qua lại biên giới quốc gia mà không làm thủ tục nhập cảnh theo quy định”, K2 đã nộp tiền phạt được thể hiện tại Biên lai số 0004315 ngày 08/12/2023.

Quá trình điều tra Nguyễn Thị N khai bản thân biết được cách thức đi sang Trung Quốc bằng đường mòn qua biên giới là do vào năm 2011, lần đầu tiên N được Nguyễn Thị D1 trú tại xã T, huyện K dẫn đi sang Trung Quốc bằng đường bộ mà không cần làm thủ tục xuất cảnh. Từ đó trở đi N thường xuyên đi lại giữa Việt Nam và Trung Quốc bằng cách thức này nên N đã đưa Nguyễn Văn K, Trần Văn H1, Nguyễn Thị M, Phạm Quang K1, Đinh Thị K2 trốn sang Trung Quốc để ở lại lao động, N không được hưởng lợi gì từ việc này. N không còn lưu giữ số điện thoại và không biết thông tin gì về những người môi giới đã dẫn nhóm của N sang Trung Quốc cũng như từ Trung Quốc về Việt Nam.

Cáo trạng số 61/CT-VKSHN-P1, ngày 05/8/2024, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Nam truy tố Nguyễn Thị N về tội “Tổ chức cho người khác trốn đi nước ngoài” theo quy định tại điểm b, c khoản 2 Điều 349 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Nam giữ nguyên nội dung truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị N phạm tội “Tổ chức cho người khác trốn đi nước ngoài”.

Áp dụng điểm b, c khoản 2 Điều 349, Điều 38, Điều 50, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị N từ 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù đến 06 (sáu) năm tù.

Không áp dụng hình phạt bổ sung với bị cáo.

Bị cáo Nguyễn Thị N khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân đúng như nội dung cáo trạng đã nêu đồng thời ăn năn, hối lỗi, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về các quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh H, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Nam và hành vi tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về quyết định tố tụng, hành vi tố tụng.

[2] Về xác định tư cách tham gia tố tụng: Tại Quyết định đưa vụ án ra xét xử xác định những người tham gia tố tụng gồm Nguyễn Văn K, Trần Văn H1, Nguyễn Thị M, Phạm Quang K1, Đinh Thị K2 là những người làm chứng. Tuy nhiên sau khi xem xét hồ sơ vụ án; trên cơ sở đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Nam tại phiên toà thấy rằng những người tham gia tố tụng trên là những người có liên quan đã nhờ bị cáo liên hệ với người môi giới để trốn ra nước ngoài ở lại lao động. Do vậy, Hội đồng xét xử xác định tư cách tham gia tố tụng của những người này là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án.

[3] Về tội danh: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra; phù hợp với lời khai của những người liên quan, người làm chứng cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy đủ căn cứ kết luận: Trong khoảng thời gian từ tháng 02/2019 đến tháng 4/2020, Nguyễn Thị N đã 03 lần tổ chức cho 05 công dân Việt Nam trốn sang Trung Quốc để ở lại lao động (gồm Nguyễn Văn K, Trần Văn H1 đều đi 2 lần; Phạm

Quang K1, Nguyễn Thị M và Đinh Thị K2 mỗi người đi 01 lần) bằng cách đi bộ theo đường mòn vượt qua biên giới thuộc địa phận tỉnh Lạng Sơn, tỉnh Cao Bằng mà không sử dụng hộ chiếu hoặc giấy tờ tùy thân làm thủ tục xuất nhập cảnh qua cửa khẩu theo quy định của pháp luật.

Với hành vi trên, Cáo trạng số 61/CT-VKSHN-P1, ngày 05/8/2024, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Nam truy tố bị cáo Nguyễn Thị N về tội “Tổ chức cho người khác trốn đi nước ngoài” theo quy định tại điểm b, c khoản 2 Điều 349 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

[4] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Nhân thân: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự.

Tình tiết tăng nặng: Bị cáo Nguyễn Thị N không phải chịu tình tiết tăng nặng nào.

Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Tại phiên toà bị cáo xuất trình đơn xin giảm hình phạt có xác nhận của chính quyền địa phương về hoàn cảnh gia đìnhh kinh tế khó khăn; bản thân là mẹ đơn thân đang nuôi con nhỏ; công ăn, việc làm không ổn định; hiện đang bị bệnh nên bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[5] Về hình phạt: Hành vi tổ chức cho người khác trốn đi nước ngoài của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến công tác quản lý Nhà nước về lĩnh vực xuất nhập cảnh và làm ảnh hưởng đến chính sách đối ngoại của Nhà nước; đe dọa sự an toàn, ổn định của đời sống nhân dân. Vì vậy, để đảm bảo phòng ngừa tội phạm chung, cần phải xử phạt bị cáo thật nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội.

Tuy nhiên quá trình điều tra cũng như tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của bản thân, thể hiện sự ăn năn, hối cải; bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn, con nhỏ (có xác nhận của chính quyền địa phương); bị cáo phạm tội do nhận thức pháp luật hạn chế, suy nghĩ đơn giản để giúp người thân, bạn bè có công việc lao động kiếm tiền, không vì mục đích vụ lợi. Do vậy cần áp dụng điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, để bị cáo có cơ hội sửa chữa sai lầm; thể hiện chính sách khoan hồng của Nhà nước đối với người phạm tội.

[6] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo phạm tội không có mục đích tư lợi về vật chất, xét hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

[8] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.

[9] Các vấn đề khác:

Đối với bà Trương Thị L, bà Trương Thị T là những người đưa tiền cho N để chi phí đi lại cho Nguyễn Văn K và Trần Văn H1; anh Trần Văn C là người chở H1 đến địa điểm tập trung nhưng những người này không biết việc N dẫn thân nhân của họ đi Trung Quốc là trái phép nên Cơ quan An ninh điều tra không xử lý trách nhiệm hình sự những người này là có cơ sở, phù hợp quy định pháp luật.

Đối với Nguyễn Văn K, Nguyễn Thị M, Trần Văn H1, Phạm Quang K1, Đinh Thị K2 đã có hành vi xuất cảnh, nhập cảnh trái phép sang Trung Quốc và từ Trung Quốc về Việt Nam, vi phạm điểm a khoản 3 điều 17 Nghị định 167/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 (nay là điểm a, khoản 3 Điều 18 Nghị định 144/2021/NĐ-CP) của Chính phủ quy định về xử phạt hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; tuy nhiên đến nay đã hết thời hiệu xử phạt hành chính nên Cơ quan An ninh điều tra đã có văn bản gửi chính quyền các địa phương để có biện pháp theo dõi quản lý, giáo dục.

Đối với Nguyễn Thị D1 là người đã rủ Nguyễn Thị N trốn sang Trung Quốc vào năm 2011, Cơ quan An ninh điều tra đã xác minh nhiều lần tại chính quyền địa phương và làm việc với gia đình D1 xác định Nguyễn Thị D1 hiện đang sinh sống và làm việc tại Trung Quốc, không có địa chỉ cụ thể, từ năm 2019 đến nay Duân chưa về Việt Nam. Cơ quan An ninh điều tra tiếp tục phối hợp với gia đình và chính quyền địa phương theo dõi, khi đủ điều kiện sẽ đề nghị xử lý theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng điểm b, c khoản 2 Điều 349; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, Điều 50 Bộ luật Hình sự.

Áp dụng Điều 135; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

1. Tuyên bố bị cáo: Nguyễn Thị N phạm tội “Tổ chức cho người khác trốn đi nước ngoài”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị N 06 (sáu) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi thi hành án.

2. Án phí: Bị cáo Nguyễn Thị N phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

3. Quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - TAND tối cao;
  • - TAND cấp cao tại Hà Nội;
  • - VKSND cấp cao;
  • - VKSND tỉnh Hà Nam;
  • - Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Hà Nam;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Hà Nam;
  • - Cục THA Dân sự tỉnh Hà Nam;
  • - Phòng KTNV và THA Tòa án tỉnh;
  • - Phòng hồ sơ nghiệp vụ Công an tỉnh;
  • - Bị cáo;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - Lưu hồ sơ vụ án & HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

(Đã ký)

Vũ Thị Thanh Tâm

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 63/2024/HS-ST ngày 27/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ NAM về hình sự sơ thẩm về tội tổ chức cho người khác trốn đi nước ngoài

  • Số bản án: 63/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Tổ chức cho người khác trốn đi nước ngoài
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ NAM
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trong khoảng thời gian từ tháng 02/2019 đến tháng 4/2020, Nguyễn Thị Ngoan đã 03 lần tổ chức cho 05 công dân Việt Nam trốn sang Trung Quốc để ở lại lao động (gồm Nguyễn Văn Khải, Trần Văn Hiếu đều đi 2 lần; Phạm Quang Khải, Nguyễn Thị Mến và Đinh Thị Khánh mỗi người đi 01 lần) bằng cách đi bộ theo đường mòn vượt qua biên giới thuộc địa phận tỉnh Lạng Sơn, tỉnh Cao Bằng mà không sử dụng hộ chiếu hoặc giấy tờ tùy thân làm thủ tục xuất nhập cảnh qua cửa khẩu theo quy định của pháp luật.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger