|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 63/2024/HS-ST Ngày 11 tháng 9 năm 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Nguyễn Thuận Lợi.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phan Ngọc Khiêm và ông Lương Văn Tâm.
Thư ký phiên toà: Ông Lê Văn Hưng - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh An Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Công Ninh - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh An Giang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 65/2024/TLST-HS ngày 22 tháng 8 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 68/2024/QĐXXST- HS ngày 29 tháng 8 năm 2024, đối với bị cáo:
1. Nguyễn Văn S, sinh ngày 29/3/1970 tại huyện A, tỉnh An Giang; nơi cư trú: Khóm T, thị trấn L, huyện A, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Chạy xe mô tô khách; trình độ văn hóa: 02/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Tú Ân H; quốc tịch: Việt Nam; đảng, đoàn: Không; con ông Nguyễn Văn N (đã chết) và bà Trình Thị P (đã chết); vợ là Phan Thị T và có 03 con.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giam từ ngày 01/01/2024 cho đến nay, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam - Công an tỉnh A (có mặt).
2. Hà Thị H, sinh ngày 09/9/1970 tại Vương quốc Campuchia; nơi cư trú: Ấp V, xã V, huyện A, tỉnh An Giang; chỗ ở hiện nay: Khóm K, phường P, thành phố S, tỉnh Kadal, Campuchia; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa: Không biết chữ; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Đạo Cao Đài; quốc tịch: Việt Nam; đảng, đoàn: Không; con ông Hà Văn T1 (đã chết) và bà Dương Thị Đ (đã chết); chồng là Nguyễn Văn D (đã chết) và có 04 con.
Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị tạm giam từ ngày 21/6/2024 cho đến nay, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam - Công an tỉnh An Giang (có mặt).
3. Tô Văn T2, sinh năm 1985 tại Vương quốc Campuchia; nơi cư trú: Ấp A, xã K, huyện A, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa: Không biết chữ; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Đạo Phật; quốc tịch: Không; đảng, đoàn: Không; con ông tên Đ1 (đã chết) và bà Tô Thị N1 (đã chết).
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giam từ ngày 01/01/2024 cho đến nay, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam - Công an tỉnh An Giang (có mặt).
4. Đặng Văn T3, sinh năm 01/01/1984 tại huyện A, tỉnh An Giang; nơi cư trú: Ấp A, xã K, huyện A, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Chạy xe mô tô khách; trình độ văn hóa: Không biết chữ; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Đạo Cao Đài; quốc tịch: Việt Nam; đảng, đoàn: Không; con ông Đặng Văn N2 và bà Phan Thị E; vợ là Tống Thị Mỹ H1 và có 01 con.
Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị tạm giam từ ngày 11/6/2024 cho đến nay, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam - Công an tỉnh An Giang (có mặt).
Người bào chữa cho bị cáo Đặng Văn T3: Luật sư Phan Văn B - Văn phòng L1 thuộc Đoàn luật sư tỉnh An Giang; nơi cư trú: Số A, Quốc lộ I, ấp M, xã M, huyện C, tỉnh An Giang (có mặt).
Người làm chứng: Kim Thị T4, Huỳnh Văn T5, Tô Thị B1, Phan Văn D1, Nguyễn Thanh V, Nguyễn Thanh T6 (tất cả đều vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 13 giờ 40 phút ngày 01/01/2024, Công an huyện A, tổ chức tuần tra kiểm soát trên tuyến biên giới tại khu vực chùa C2 trên quốc lộ I thuộc ấp T, xã K, huyện A, tỉnh An Giang, phát hiện Nguyễn Văn S điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 67G1 – 76476 chở Kim Thị T4 đến giao cho Tô Văn T2 đang đậu xe tại đây, còn có biểu hiện nghi vấn về hoạt động xuất cảnh trái phép sang Campuchia nên mời về trụ sở Công an xã K làm việc, T2 và S thừa nhận tổ chức đưa T4 xuất cảnh trái phép sang Campuchia. Nên lực lượng chức năng tiến hành lập biên bản phạm tội quả tang đối với S, T2 và tạm giữ các đồ vật có liên quan để xử lý.
Quá trình điều tra xác định: Khoảng tháng 10/2023, Nguyễn Văn S được đối tượng tên H2 (không họ, địa chỉ) chạy xe Taxi 16 chỗ tuyến K - P, Vương quốc Campuchia gợi ý kêu S tham gia vào việc đưa người xuất cảnh trái phép sang Campuchia để thu lợi, thì S đồng ý. Để thực hiện, S liên hệ với Hà Thị H làm nghề đưa đò tại xã K, huyện A để đưa khách sang Campuchia, sau đó H rủ thêm Đặng Văn T3, Tô Văn T2 cùng tham với cách thức sau: Khi có người cần xuất cảnh trái phép sang Campuchia thì H2 điện thoại cho S hoặc đưa số điện thoại của S để khách liên hệ thỏa thuận giá, thời gian và địa điểm rước. Đồng thời S điện thoại liên hệ với T3 hoặc Tây đến khu vực cua Ông C hoặc chùa C2 thuộc xã K để chờ sẵn. Sau đó S trực tiếp sử dụng xe mô tô đón khách chở đến điểm hẹn giao cho T3 hoặc Tây để đưa đến bến sông thuộc xã K (đối diện biên giới Campuchia) để H sử dụng xuồng đưa khách xuất cảnh trái phép sang Campuchia giao cho H2 ở P.
Với cách thức trên, từ tháng 10/2023 đến tháng 01/2024, nhóm của S 04 lần tổ chức đưa người xuất cảnh trái phép sang Campuchia để thu lợi, cụ thể:
Lần thứ nhất: Ngày 26/10/2023, theo yêu cầu của H2 và H, S điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 67G1 - 764.76 đến cầu C thuộc xã Đ, huyện A chở 01 khách Nam khoảng 35 tuổi đến chùa C2 giao cho T3, sau đó T3 điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 61 E1-564.56 chở người khách này đến Trung tâm thương mại xã K giao H đưa sang Campuchia để giao cho H2. H được khách trả công 1.000.000 đồng, H cho lại T3 100.000 đồng, còn S được H2 cho 200.000 đồng.
Lần thứ hai: Ngày 11/12/2023, theo yêu cầu của H2, S đến cầu C chở 01 người khác nữ đến cua Ông C, thuộc xã Q, huyện A giao cho T3 chở người này đến bến sông bà Năm L thuộc xã K giao cho H sang trái phép sang Campuchia, để giao cho H2. Lần này, H được khách trả công 1.000.000 đồng, S được H2 cho 200.000 đồng, riêng T3 không nhận tiền công và nghỉ đưa khách do sợ bị công an bắt.
Lần thứ ba: Ngày 26/12/2023, theo yêu cầu của H2 và H, S đến bến xe K thuộc thị trấn L, huyện A chở con gái của H2 đến chua Cây C1 giao cho T2 điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 51K6-3199 chở con của H2 đến bến sông bà Năm L để H đưa trái phép sang Campuchia, giao lại cho H2. H được con của H2 trả công 1.000.000đ, H cho T2 100.000 đồng, riêng S không nhận tiền công của H2.
Lần thứ tư: Khoảng 10 giờ ngày 01/01/2024, theo yêu cầu của H2 và H, S đến khu vực cầu C thuộc thành phố C chở Kim Thị T4 đến chùa C2 thuộc xã K, giao cho T2 chở đến bến đò ông T7 thuộc xã K để giao lại cho Nguyễn Văn H3 theo yêu cầu của H (H không cho H3 biết việc H tổ chức đưa người trái phép sang Campuchia), khi S chở T4 đến khu vực chùa C2 để giao cho T2 thì bị lực lượng công an bắt quả tang.
Vật chứng thu giữ: 04 điện thoại di động, 03 xe mô tô, 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô tên Tô Văn H4, tiền Việt Nam 100.000 đồng.
Ngày 09/01/2024, ngày 10/6/2024 và ngày 28/6/2024, S, T2, T3, H bị khởi tố để điều tra.
Lời khai người làm chứng, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Huỳnh Văn T5, Tô Thị B1, Phan Văn D1, Kim Thị T4, Nguyễn Thanh V, Nguyễn Thanh T6, Nguyễn Văn H3 trình bày phù hợp với nội dung vụ án.
Quá trình điều tra các bị cáo Nguyễn Văn S, Hà Thị H, Đặng Văn T3, Tô Văn T2 thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội phù hợp với lời khai của người chứng kiến, người làm chứng, người liên quan, vật chứng thu giữ và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án.
Cáo trạng số 85/CT-VKSAG-P1 ngày 21 tháng 8 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang đã truy tố các bị cáo Nguyễn Văn S, Hà Thị H, Tô Văn T2 và Đặng Văn T3 về tội “Tổ chức cho người khác xuất cảnh trái phép” quy định tại khoản 2 Điều 348 của Bộ luật hình sự.
Tại Cơ quan điều tra các bị cáo Nguyễn Văn S, Hà Thị H, Tô Văn T2 và Đặng Văn T3 khai nhận hành vi phạm tội của mình.
Tại phiên tòa, các bị cáo Nguyễn Văn S, Hà Thị H, Tô Văn T2 và Đặng Văn T3 thừa nhận nhiều lần đưa người xuất cảnh trái phép như nội dung Cáo trạng đã nêu trên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang phát biểu luận tội đối với các bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 348; điểm r, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn S mức án từ 06 năm đến 07 năm tù; xử phạt bị cáo Hà Thị H mức án từ 05 năm đến 06 năm tù; Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 348; điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; khoản1 Điều 54, Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015: Xử phạt bị cáo Tô Văn T2 mức án từ 03 năm đến 04 năm tù; xử phạt bị cáo Đặng Văn T3 mức án từ 03 năm đến 04 năm.
- Hình phạt bổ sung: Đề xuất không áp dụng do các bị cáo thuộc thành phần lao động nghèo.
Người bào chữa cho bị cáo Đặng Văn T3 đồng ý với quan điểm của Viện kiểm sát về việc truy tố bị cáo Đặng Văn T3 về tội “Tổ chức cho người khác xuất cảnh, nhập cảnh trái phép”. Tuy nhiên, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét hoàn cảnh của bị cáo T3 để giảm nhẹ hình phạt.
Bị cáo Đặng Văn T3 nhất trí với bản luận cứ bào chữa nêu trên của người bào chữa, đồng thời không bào chữa bổ sung và không tranh luận gì khác. Trong lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Các bị cáo Nguyễn Văn S, Hà Thị H và Tô Văn T2 không ý kiến tranh luận. Các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, tỏ thái độ ăn năn hối cải; nói lời sau cùng, các bị cáo mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Trong phần đối đáp một lần nữa đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang vẫn giữ nguyên quan điểm như đã đề nghị tại bản luận tội nêu trên, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét và quyết định theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng:
- Đối với hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và những người tham gia tổ tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp;
- Đối với người làm chứng đều vắng mặt tại phiên tòa. Xét thấy, sự vắng mặt của họ không gây trở ngại đến việc xét xử của vụ án. Căn cứ Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.
[2] Về nội dung: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa các bị cáo S, H, T2 và T3 khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu trên. Lời khai nhận tội của các bị cáo tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa là phù hợp với nhau, phù hợp lời khai của người làm chứng về thời gian, địa điểm, phương thức phạm tội, cùng các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ căn cứ để kết luận: Từ tháng 10/2023 đến 01/2024, các bị cáo S, H, T2 và T3 đã có hành vi nhiều lần đưa người xuất cảnh trái phép từ nội địa huyện A, tỉnh An Giang sang Vương quốc Campuchia để hưởng lợi. Hành vi của các bị cáo đã phạm tội “Tổ chức cho người khác xuất cảnh trái phép”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 348 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017), có khung hình phạt từ 05 năm tù đến 10 năm tù, đây là tội phạm rất nghiêm trọng.
[3] Hành vi phạm tội của các bị cáo S, H, T2 và T3 là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trật tự quản lý hành chính trong lĩnh vực quản lý xuất nhập cảnh. Do đó, cần có mức hình phạt tương xứng, cách li các bị cáo một thời gian nhất định nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
[4] Xét tính chất, mức độ của tội phạm, các tình giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Về tình tiết tăng nặng: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn, hối cải, tự thú những lần phạm tội trước đó. Đồng thời, các bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự; xuất thân từ thành phần lao động nghèo, trình độ học vấn thấp nên nhận thức về pháp luật bị hạn chế, đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm r, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015. Thế nên, cũng cân nhắc xem xét xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo nhằm thể hiện chính sách khoan hồng của Đảng và Nhà nước ta đối với người phạm tội biết ăn năng, hối cải.
[5] Về vai trò của các bị cáo trong vụ án: Tuy đây là vụ án có tính chất rất nghiêm trọng, các bị cáo là đồng phạm trong tội “Tổ chức cho người khác xuất cảnh trái phép” nhưng chỉ mang tính chất giản đơn. Để đánh giá đúng vai trò của các bị cáo thì cần phải phân tích đúng tính chất của vụ án và hành vi của từng bị cáo, phân hóa vai trò trách nhiệm và nhân thân của các bị cáo để xem xét. Cụ thể: Nguyễn Văn S, Hà Thị H, Đặng Văn T3, Tô Văn T2 đã có hành vi nhiều lần tổ chức cho người khác xuất cảnh trái phép từ Việt Nam sang Campuchia để thu lợi. Trong đó: Bị cáo Sàng giữ vai trò chủ mưu, 04 lần tổ chức cho 04 người xuất cảnh trái phép. Bị cáo H giữ vai trò đồng phạm thực hành, 04 lần tổ chức cho 04 người xuất cảnh trái phép. Bị cáo T3 và bị cáo T2 giữ vai trò đồng phạm thực hành, 02 lần tổ chức cho 02 người xuất cảnh trái phép.
Do đó, mức hình phạt của bị cáo S và bị cáo H sẽ cao hơn bị cáo T3 và bị cáo T2.
Xét bị cáo T3 và bị cáo T2 phạm tội có nhiều tình tiết giảm nhẹ, không có tình tiết tăng nặng, nên xem xét áp dụng khoản 1 Điều 54 của Bộ luật Hình sự năm 2015 để quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt như quan điểm đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp, được chấp nhận.
[6] Đối với hành vi của Nguyễn Văn H3 đến bên đò ông T7 để chở Kim Thị T4 nhưng H3 không biết việc H tổ chức đưa người trái phép sang biên giới và hiện H3 đã đi khỏi địa phương nên chưa đủ cơ sở xử lý Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh A tiếp tục điều tra làm rõ, xử lý sau.
Về đối tượng tên H2 và những người đã xuất cảnh trái phép do không rõ họ, tên, địa chỉ cụ thể nên Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh An Giang chưa làm rõ được, sẽ tiếp tục điều tra, xử lý sau.
Kim Thị T4 đã có hành vi xuất cảnh trái phép qua biên giới Việt Nam - Campuchia nhưng do T4 chưa có tiền án, tiền sự về hành vi này, nên chưa đủ cơ sở truy cứu trách nhiệm hình sự.
[7] Quá trình điều tra, xác định các bị cáo có thu lợi bất chính nên buộc các bị cáo giao nộp để tịch thu sung công quỹ Nhà nước, cụ thể: Sàng 400.000 đồng, H 2.800.000 đồng (H đã giao nộp 3.000.000 đồng nên tiếp tục tạm giữ của H 200.000 đồng để đảm bảo việc thi hành án); T3 100.000 đồng; Tây 100.000 đồng (đã giao nộp xong).
[8] Về xử lý vật chứng:
Các vật chứng xử lý trong giai đoạn điều tra, xét thấy đảm bảo căn cứ và đúng theo quy định nên không tiếp tục đề cập xem xét. Đối với các vật chứng còn lại do Cơ quan An ninh điều tra thu giữ, gồm:
- - 01 điện thoại di động hiệu OPPO A92 kèm sim số 0393563636 và 0345051552;
- - 01 điện thoại di động hiệu VIVO 1820, màu xanh đen kèm theo sim số 0343022637 (đã qua sử dụng, chưa kiểm tra chất lượng bên trong);
- - 01 điện thoại di động dạng phím bấm, hiệu NOKIA, màu đen kèm theo sim số 0327696916;
- - 01 xe mô tô hiệu Wave màu đỏ, biển số 67G1 - 76476 (đã qua sử dụng, chưa kiểm tra chất lượng bên trong);
- - 01 xe mô tô hiệu Wave RS 100, màu đỏ, biển số 51K6 – 3199 (đã qua sử dụng, chưa kiểm tra chất lượng bên trong);
- - 01 xe mô tô hiệu Honda Air Blade, màu đỏ đen xám, biển số 61E1-56456 (đã qua sử dụng, chưa kiểm tra chất lượng bên trong) và 01 giấy đăng ký xe số 009926, biển số 61E1-56456 mang tên Nguyễn Thanh T6, hiệu Honda Air Blade;
- - Trả lại cho bà Kim Thị T4 01 điện thoại di động hiệu S1 A13, màu xám đen kèm theo sim số 0346044093 và số 0344206397 (đã qua sử dụng).
[9] Về các vấn đề khác: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn S, Hà Thị H, Tô Văn T2 và Đặng Văn T3 phạm tội “Tổ chức cho người khác xuất cảnh trái phép”.
- Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 348; điểm r, điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017): Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn S 06 (sáu) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam (ngày 01/01/2024).
- Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 348; điểm r, điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017): Xử phạt bị cáo Hà Thị H 05 (năm) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam (ngày 21/6/2024).
- Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 348; điểm r, điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 54, Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017): Xử phạt bị cáo Tô Văn T2 03 (ba) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam (ngày 01/01/2024).
- Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 348; điểm r, điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 54, Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017): Xử phạt bị cáo Đặng Văn T3 03 (ba) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam (ngày 01/01/2024).
Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:
Buộc các bị cáo Nguyễn Văn S nộp lại số tiền thu lợi bất chính 400.000 đồng, Hà Thị H nộp lại số tiền 2.800.000 đồng (H đã giao nộp xong 3.000.000 đồng để khắc phục hậu quả được khấu trừ theo biên lai số 0000596 ngày 20/8/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh An Giang), Tô Văn T2 nộp lại số tiền 100.000 đồng và Đặng Văn T3 nộp lại số tiền 100.000 đồng đồng sung công quỹ Nhà nước.
Tịch thu sung công quỹ Nhà nước:
- - 01 điện thoại di động hiệu OPPO A92 kèm sim số 0393563636 và 0345051552;
- - 01 điện thoại di động hiệu VIVO 1820, màu xanh đen kèm theo sim số 0343022637 (đã qua sử dụng, chưa kiểm tra chất lượng bên trong);
- - 01 điện thoại di động dạng phím bấm, hiệu NOKIA, màu đen kèm theo sim số 0327696916;
- - 01 xe mô tô hiệu Wave màu đỏ, biển số 67G1 - 76476 (đã qua sử dụng, chưa kiểm tra chất lượng bên trong);
- - 01 xe mô tô hiệu Wave RS 100, màu đỏ, biển số 51K6 – 3199 (đã qua sử dụng, chưa kiểm tra chất lượng bên trong);
- - 01 xe mô tô hiệu Honda Air Blade, màu đỏ đen xám, biển số 61E1-56456 (đã qua sử dụng, chưa kiểm tra chất lượng bên trong) và 01 giấy đăng ký xe số 009926, biển số 61E1-56456 mang tên Nguyễn Thanh T6, hiệu Honda Air Blade;
- - Trả lại cho bà Kim Thị T4 01 điện thoại di động hiệu S1 A13, màu xám đen kèm theo sim số 0346044093 và số 0344206397 (đã qua sử dụng).
Tiếp tục tạm giữ số tiền 200.000 đồng sau khi khấu trừ số tiền khắc phục hậu quả là 2.800.000 đồng (theo biên lai số 0000596 ngày 20/8/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh An Giang) để đảm bảo thi hành án.
(Đặc điểm vật chứng như Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 10/9/2024 giữa Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh A với Cục Thi hành án dân sự tỉnh An Giang).
Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án: Các bị cáo Nguyễn Văn S, Hà Thị H, Tô Văn T2, Đặng Văn T3 mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án../.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thuận Lợi |
Bản án số 63/2024/HS-ST ngày 11/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG về tổ chức cho người khác xuất cảnh trái phép
- Số bản án: 63/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tổ chức cho người khác xuất cảnh trái phép
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tổ chức cho người khác xuất cảnh trái phép
