TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THÀNH TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 63/2024/ HS-ST Ngày 16-7-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THÀNH - TỈNH NGHỆ AN
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - chủ toạ phiên toà: Ông Ngô Văn Phú.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Lệ Lan và Bà Nguyễn Thị Hà.
Thư ký phiên toà: Bà Hoàng Thị Tình - Thư ký Toà án nhân dân huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thành tham gia phiên tòa: Ông Hồ Văn Nam - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 15 và 16 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 61/2024/TLST-HS ngày 18 tháng 6 năm 2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 59/2024/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:
Thái Hữu T; Tên gọi khác: không; Giới tính: nam; Sinh ngày 13 tháng 3 năm 1984 tại huyện Y, tỉnh Nghệ An; Nơi cư trú: Xóm F, xã T, huyện Y, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hoá: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Thái Hữu H, sinh năm 1956, con bà Nguyễn Thị C, sinh năm 1958; vợ: Vũ Thị A, sinh năm 1989; con: có 02 con lớn nhất sinh năm 2010, con nhỏ nhất sinh năm 2016; tiền án, tiền sự: Không; Bị tạm giữ từ ngày 19/4/2024 đến ngày 25/4/2024.
Bị cáo tại ngoại đến nay có mặt tại phiên tòa.
Người bị hại: Bà Lưu Thị T1, sinh năm 1958; Nơi cư trú: Xóm F, xã T, huyện Y, tỉnh Nghệ An; Có mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Nguyễn Văn Q, sinh năm 1986; Cư trú tại: Xóm P, xã H, huyện Y, tỉnh Nghệ An. Có mặt.
Người tham gia tố tụng khác: Không.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào khoảng 23 giờ 25 phút ngày 17 tháng 4 năm 2024, tại xóm F, xã T, huyện Y, tỉnh Nghệ An, Thái Hữu T có hành vi trộm của bà Lưu Thị T1, sinh năm 1958, trú tại xóm F, xã T, huyện Y có tổng giá trị là 7.735.000 đồng (Bảy triệu bảy trăm ba mươi lăm nghìn đồng), cụ thể: Thái Hữu T quen và biết gia đình bà Lưu Thị T1, sinh năm 1958, trú tại xóm F, xã T, huyện Y, tỉnh Nghệ An do trước đây T có đến xây cổng nhà cho bà T1 nên biết nhà bà T1 có các tài sản gồm: Máy bơm nước, máy cắt sắt và máy hàn điện để trong nhà. Đến khoảng 23 giờ 25 phút ngày 17 tháng 4 năm 2024 Thái Hữu T cầm 01 (một) chiếc tuốc nơ vít bằng sắt có cán bằng nhựa màu vàng xanh, đi xe đạp từ nhà đến nhà bà Lưu Thị T1 để trộm cắp tài sản. Đến nơi, Thái Hữu T để xe đạp bên đường, sát tường rào nhà bà Lưu Thị T1, đi đến cửa tôn sau bếp, sát đường. Thái Hữu T dùng tuốc nơ vít vặn ốc ở gần chốt cửa, dùng tay phải kéo, nâng tôn hở ra, đưa tay qua khe hở để tháo chốt cửa. Sau khi tháo được chốt cửa Thái Hữu T đi vào trong bếp, đến gần ổ điện gắn trên tường dùng tay tháo ổ điện ngắt Camera. Thái Hữu T trèo lên máy giặt, tiếp tục trèo lên gác lấy 01 (một) máy cắt sắt nhãn hiệu HITACHI màu xanh đen và 01 (một) máy hàn điện nhãn hiệu UNI-WELD NBC-270F màu xanh để xuống nền nhà bếp. Thái Hữu T đi đến gần máy lọc nước ở góc bếp tháo máy bơm nước nhãn hiệu SAKAYO model: SO- 200 màu trắng đen đưa đến để cạnh máy hàn điện và máy cắt sắt. Sau đó, Thái Hữu T đưa máy hàn điện, máy cắt sắt và máy bơm nước ra xe đạp chở về nhà cất giấu trong tủ bếp. Sau khi cất giấu tài sản trộm cắp được, T tiếp tục đi xe đạp đến nhà bà Lưu Thị T1 theo đường cũ vào bếp lấy 05 (năm) cân gạo bỏ vào bì xác rắn màu vàng và lấy 01 (một) can dầu ăn nhãn hiệu Neptune, loại 5 lít trong can có 02 lít dầu ăn đưa ra xe đạp đi về nhà cất giấu ở bếp.
Đến khoảng 09 giờ 00 phút ngày 18 tháng 4 năm 2024, Thái Hữu T lấy máy bơm nước, máy cắt sắt bỏ vào bì đi xe đạp dọc theo Quốc lộ G hướng từ thị trấn Y, huyện Y đi xã H, huyện Y tìm bản tài sản. Thái Hữu T đi đến ngã tư xã H rẽ trái theo hướng xã P, huyện Y khoảng 400 mét nhìn thấy quán sửa chữa điện dân dụng của anh Nguyễn Văn Q, sinh năm 1986, trú tại xóm P, xã H, huyện Y, tỉnh Nghệ An. T đi vào, anh Nguyễn Văn Q hỏi “có việc chỉ không em?", Thái Hữu T trả lời “em có hai cái máy cũ đây, anh có mua không?”, anh Nguyễn Văn Q nói “đưa ra đây anh coi coi rồi anh mua". T lấy máy bơm nước và máy cắt sắt ra, anh Nguyễn Văn Q xem xong nói “Máy bơm hai trăm hai mươi nghìn, còn máy cắt thì năm trăm”, Thái Hữu T đồng ý bán. Sau khi bán máy cắt sắt và máy bơm nước 720.000 đồng (Bảy trăm hai mươi nghìn đồng) T tiêu xài cá nhân hết 420.000 đồng (Bốn trăm hai mươi nghìn đồng), số tiền còn lại Thái Hữu T cất giấu trong người.
Ngày 18 tháng 4 năm 2024, Thái Hữu T đã đến Công an xã T đầu thú, khai nhận về toàn bộ hành vi phạm tội của mình và giao nộp tài sản trộm cắp.
Tại Kết luận định giá tài sản số 12/KL-HĐĐG ngày 22/4/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Y kết luận:
- “- 02 (hai) lít dầu ăn, nhãn hiệu Neptune Light, thời điểm ngày 17/4/2024 có giá trị 130.000 đồng (Một trăm ba mươi nghìn đồng); 05 (năm) kilogam gạo loại TBR225, thời điểm ngày 17/4/2024 có giá trị: 105.000 đồng (Một trăm linh năm nghìn đồng); 01 (một) máy bơm nước, nhãn hiệu SAKAYO, model: SO-200, màu trắng đen (đã qua sử dụng), còn sử dụng bình thường, thời điểm ngày 17/4/2024 có giá trị: 700.000 đồng (Bảy trăm nghìn đồng), 01 (một) máy cắt sắt, nhãn hiệu HITACHI, màu xanh đen (đã qua sử dụng), còn sử dụng bình thường, thời điểm ngày 17/4/2024 có giá trị: 800.000 đồng (T2 trăm nghìn đồng) và 01 (một) máy hàn điện, nhãn hiệu UNI-WELD NBC-270F, màu xanh (đã qua dụng), thời điểm ngày 17/4/2024 có giá trị: 6.000.000 đồng (Sáu triệu đồng).”
Tại cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y, Thái Hữu T đã khai nhận hành vi phạm tội của mình.
Vật chứng và xử lý vật chứng vụ án: Ngày 18/4/2024, Công an xã T thu giữ của Thái Hữu T: 01 (một) can dầu ăn, nhãn hiệu Neptune Light loại 5 lít, bên trong chứa 02 (hai) lít dầu ăn; 05 (năm) kilogam gạo loại TBR225 được đựng trong một bì xác rắn màu vàng; 01 (một) máy bơm nước, nhãn hiệu SAKAYO, model: SO-200, màu trắng đen, đã qua sử dụng. Thu giữ của Nguyễn Văn Q: 01 (một) máy cắt sắt, nhãn hiệu HITACHI, màu xanh đen, đã qua sử dụng; 01 (một) máy hàn điện, nhãn hiệu UNI-WELD NBC-270F, màu xanh đã qua sử dụng. Các vật chứng nêu trên quá trình điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu là bà Lưu Thị T1 theo quy định của pháp luật.
Ngoài ra, Công an xã T còn thu giữ của Thái Hữu T: Số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), hiện đang tạm gửi tại kho bạc Nhà nước chờ xử lý theo quy định. Thu giữ: 01 (một) chiếc xe đạp mini màu xanh đã qua sử dụng; 01 (một) chiếc tuavit bằng sắt dài 20 cm có cán bằng nhựa màu vàng xanh đã qua sử dụng hiện đang được bảo quản tại kho vật chứng Cơ quan thi hành án dân sự huyện Y chờ xử lý theo quy định.
Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại là bà Lưu Thị T1 đã nhận lại tài sản bị trộm cắp và không có yêu cầu bồi thường thiệt hại về dân sự.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Nguyễn Văn Q không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì.
Bản cáo trạng số 64/ CT-VKS-YT ngày 17 tháng 6 năm 2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thành đã truy tố bị cáo Thái Hữu T về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi trộm cắp tài sản của mình đúng như nội dung bản cáo trạng truy tố. Người bị hại đã nhận lại tài sản bị mất và không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có yêu cầu, đề nghị gì.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thành thực hành quyền công tố trình bày quan điểm của viện kiểm sát đối với vụ án, sau khi phân tích tính chất, hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của bị cáo đã giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 173; các điểm i,s khoản 1,2 Điều 51, khoản 1,2 Điều 65 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Thái Hữu T từ 07 đến 09 tháng tù về tội: “Trộm cắp tài sản” nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 14 tháng đến 18 tháng. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Về xử lý vật chứng: Tịch thu sung nộp ngân sách nhà nước vật chứng gồm: Số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) và 01 (một) chiếc xe đạp mini màu xanh đã qua sử dụng. Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) chiếc tuavit bằng sắt dài 20 cm có cán bằng nhựa màu vàng xanh đã qua sử dụng.
Trách nhiệm dân sự: Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án đã nhận lại tài sản không yêu cầu bồi thường gì thêm. Về án phí buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Tại lời nói sau cùng bị cáo đã biết sai, bị cáo xin được hưởng khoan hồng của pháp luật, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y, Điều tra viên và Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thành, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án và những người tham gia tố tụng khác không ai có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Vì vậy, có đủ cơ sở khẳng định các hành vi và quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong giai đoạn điều tra, truy tố là khách quan và hợp pháp.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về hành vi phạm tội, tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội của bị cáo: Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, quá trình tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy: Bị cáo Thái Hữu T đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã nêu, lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với bản kết luận định giá tài sản số 12/KL-HĐĐG ngày 22/4/2024 của Hội đồng định giá tài sản của UBND huyện Y và các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án đã được công bố và thẩm tra tại phiên tòa. Do đó Hội đồng xét xử có đủ căn cứ để xác định: Vào khoảng 23 giờ 25 phút ngày 17 tháng 4 năm 2024, tại xóm F, xã T, huyện Y, tỉnh Nghệ An, Thái Hữu T có hành vi trộm của bà Lưu Thị T1 01 (một) máy cắt sắt nhãn hiệu HITACHI màu xanh đen, 01 (một) máy hàn điện nhãn hiệu UNI-WELD NBC-270F màu xanh, 01 (một) máy bơm nước nhãn hiệu SAKAYO màu trắng đen đưa, 01 (một) máy cắt sắt, 05 (năm) cân gạo và 02 (hai) lít dầu ăn. Xét thấy, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác được pháp luật bảo vệ gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự tại địa phương. Khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi trộm cắp tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của người khác có trị giá 7.735.000 đồng (Bảy triệu bảy trăm ba mươi lăm nghìn đồng).
Do đó hành vi của bị cáo Thái Hữu T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”. Tội phạm và hình phạt được qui định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự với mức hình phạt từ cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm. Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An truy tố bị cáo là có căn cứ đúng người, đúng tội. Vì vậy, cần phải nghiêm khắc với bị cáo, phải xử phạt mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo để đảm bảo tính răn đe giáo dục và phòng ngừa chung.
[2.2] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:
Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng qui định tại điều 52 Bộ luật hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ: Xét quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo đã thành khẩn khai báo hành vi phạm tội của mình, biết ăn năn hối cải; Bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Bị cáo cũng đã đầu thú hành vi phạm tội của mình. Đây là những tình tiết giảm nhẹ được qui định tại điểm i,s khoản 1,2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Do đó cần cho bị cáo được hưởng những tình tiết giảm nhẹ nêu trên để giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo.
[2.3.] Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[2.4.] Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án không yêu cầu bị cáo bồi thường thêm nên không xem xét.
[2.5.] Về vật chứng, xử lý vật chứng:
- - 01 (một) can dầu ăn, nhãn hiệu Neptune Light loại 5 lít, bên trong chứa 02 (hai) lít dầu ăn; 05 (năm) kilogam gạo loại TBR225 được đựng trong một bì xác rắn màu vàng; 01 (một) máy bơm nước, nhãn hiệu SAKAYO, model: SO-200, màu trắng đen, đã qua sử dụng; 01 (một) máy cắt sắt, nhãn hiệu HITACHI, màu xanh đen, đã qua sử dụng và 01 (một) máy hàn điện, nhãn hiệu UNI-WELD NBC-270F, màu xanh đã qua sử dụng. Quá trình điều tra Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Y đã xử lý vật chứng trả lại tài sản chủ sở hữu và người quản lý tài sản hợp pháp tài sản đó là đúng qui định của pháp luật.
- - Đối với số tiền 300.000 đồng là khoản tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm mà bị cáo thu lợi bất chính từ việc phạm tội cần truy thu nộp vào ngân sách nhà nước và 01(một) chiếc xe đạp mini màu xanh đã qua sử dụng là phương tiện phạm tội thuộc quyền sở hữu của bị cáo nên cần tịch thu nộp vào ngân sách nhà nước.
- - Đối với 01 (một) chiếc tuavit bằng sắt dài 20 cm có cán bằng nhựa màu vàng xanh đã qua sử dụng hiện không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
[2.6] Về những vấn đề khác: Hành vi mua tài sản của ông Nguyễn Văn Q do ông Q không biết tài sản do trộm cắp mà có là có căn cứ nên hành vi này chưa đủ cơ sở để xử lý hành vi tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có.
[2.7.] Về mức hình phạt đối với bị cáo: Sau khi xem xét, đánh giá tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, đánh giá về nhân thân, lý lịch và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo. Hội đồng xét xử thấy bị cáo phạm tội không có tiền án, tiền sự, không có tình tiết tăng nặng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ. Bị cáo có lý lịch, nơi cư trú rõ ràng và ổn định, ngoài ra bị cáo có hoàn cảnh cũng khó khăn, vợ đã đi làm ăn xa, một mình bị cáo nuôi 02 con nhỏ. Do đó Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà cho bị cáo được hưởng án treo cũng đảm bảo tính nhân văn của pháp luật hình sự và để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật mà cố gắng cải tạo tốt để trở thành công dân có ích cho xã hội. Từ những nhận xét, đánh giá trên đây Hội đồng xét xử sơ thẩm chấp nhận đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thành về việc áp dụng hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo đối với bị cáo theo quy định tại Điều 65 Bộ luật hình sự.
[3.] Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
[4.] Về quyền kháng cáo bản án sơ thẩm: Bị cáo, bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án hình sự sơ thẩm theo quy định tại điều 331 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm i,s khoản 1,2 Điều 51, khoản 1,2 Điều 65 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Thái Hữu T 08 (T2) tháng tù về tội: “Trộm cắp tài sản” nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 16 (Mười sáu) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Thái Hữu T cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện Y, tỉnh Nghệ An giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát giáo dục bị cáo. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo qui định tại khoản 3 điều 92 luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Toà án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
2. Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án đã nhận lại tài sản không yêu cầu bồi thường gì thêm nên không xem xét giải quyết.
3. Xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 của Bộ luật hình sự.
- - Tịch thu nộp vào ngân sách nhà nước: 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) và 01 (một) chiếc xe đạp mini màu xanh đã qua sử dụng.
- - Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) chiếc tuavit bằng sắt dài 20 cm có cán bằng nhựa màu vàng xanh đã qua sử dụng.
Vật chứng đã được chuyển giao cho Chi cục thi hành án Dân sự huyện Yên Thành quản lý. Chi tiết vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng và phiếu nhập kho đề cùng ngày 25/6/2024 giữa cơ quan Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện Y và Chi cục thi hành án Dân sự huyện Yên Thành và và Giấy nộp tiền vào tài khoản 39490104774600000 của Chi cục thi hành án Dân sự huyện Yên Thành tại (Kho bạc nhà nước Y) đề ngày 25/6/2024.
4. Án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a, khoản 1, Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Thái Hữu T phải nộp: 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
5. Quyền kháng cáo: Bị cáo, Bị hại và Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ngô Văn Phú |
Bản án số 63/2024/HS-ST ngày 16/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THÀNH - TỈNH NGHỆ AN về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 63/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THÀNH - TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Thái Hữu T trộm cắp tài sản
