|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHÚ THỌ TỈNH PHÚ THỌ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 63 /2024/HS-ST Ngày : 15 - 11 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHÚ THỌ - TỈNH PHÚ THỌ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Ngọc Hà
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Anh Vũ.
2. Bà Trần Hằng Nga
Thư ký phiên tòa: Ông Đặng Trần Hoàng - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa: Ông Trịnh Huy Phương - Kiểm sát viên thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử tại phiên tòa.
Ngày 15 tháng 11 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 67/2024/TLST-HS ngày 30 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 68/2024/QĐXXST- HS ngày 04 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Đông Đ; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày: 05 tháng 12 năm 2000; Nơi thường trú: Khu phố A, phường A, thị xã T, tỉnh Tây Ninh; Chỗ ở hiện tại: Không xác định; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 09/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; SỐ CCCD: [...]; cấp ngày 20/02/2023; nơi cấp: Cục C1 về TTXH; Bố đẻ: Nguyễn Văn Đ1, sinh năm: 1979; Mẹ đẻ: Bùi Thị H, sinh năm: 1975; Anh, chị em ruột: Có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất; Vợ: Lưu Thị Hương G, sinh năm 1997; Con: Có 01 con, sinh năm 2022; (Hiện bố, mẹ, vợ, con đang ở Tổ C, Ấp G, xã X, huyện H, Tp .); Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 06/8/2024 đến ngày 15/8/2024 chuyển tạm giam. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ công an thị xã P, tỉnh Phú Thọ. (Có mặt tại phiên tòa).
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
Anh Lê Đức M, sinh năm 1984 và Chị Nguyễn Thị Ánh T, sinh năm 1986.
Đều có địa chỉ: Khu D, phường N, thành phố V, tỉnh Phú Thọ. ( Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Hồi 18 giờ 10 phút, ngày 06/8/2024, tại khu vực đường đê thuộc khu H, xã H, thị xã P, tỉnh Phú Thọ. Tổ công tác Công an thị xã P kiểm tra phát hiện Nguyễn Đông Đ, sinh năm: 2000, thường trú: Khu phố A, phường A, thị xã T, tỉnh Tây Ninh có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Vật chứng thu giữ: 02 (hai) đoạn ống hút đều bằng nhựa (01 đoạn ống hút màu xanh, 01 đoạn ống hút màu đỏ sọc trắng, được hàn kín cả hai đầu) bên trong đều chứa chất rắn dạng tinh thể màu trắng (Đ khai là ma túy đá); 01 (một) vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu POCO, màu xanh đen, gắn sim số 0795116590; Tiền ngân hàng N: 250.000 đồng (Hai trăm năm mươi nghìn đồng). Tổ công tác đã mời chính quyền địa phương, người chứng kiến đến tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ, niêm phong vật chứng theo quy định.
Cùng ngày 06/8/2024, Cơ quan CSĐT Công an thị xã P đã trưng cầu Phòng K, Công an tỉnh P giám định chất rắn dạng tinh thể màu trắng bên trong 02 đoạn ống hút bằng nhựa của Nguyễn Đông Đ thu giữ ngày 06/8/2024. Tại Bản kết luận giám định số 1095/KL-KTHS, ngày 12/8/2024 của Phòng K Công an tỉnh P, kết luận:
“Chất rắn dạng tinh thể màu trắng chứa bên trong 02 đoạn ống hút gửi đến giám định có tổng khối lượng là 0,408 gam; là ma túy; loại Methamphetamine.
Methamphetamine là chất ma túy nằm trong Danh mục IIC, số thứ tự 247, Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ.
H1 lại đối tượng giám định:
“0,235 gam chất rắn dạng tinh thể màu trắng, cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định, được niêm phong dán kín trong 01 túi niêm phong, bên ngoài túi niêm phong có 05 hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K Công an tỉnh P và chữ ký của các thành phần liên quan tại các mép dán”.
Ngày 07/8/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã P đã tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Đông Đ tại quán B thuộc tổ I, khu H, phường N, thành phố V, tỉnh Phú Thọ, quá trình khám xét không thu giữ đồ vật, tài liệu gì.
Tại cơ quan điều tra, bị cáo Đ đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như sau: Từ tháng 4 năm 2024, bị cáo bắt đầu làm nhân viên phục vụ tại quán B thuộc phường N, thành phố V, tỉnh Phú Thọ. Qúa trình làm việc tại quán, bị cáo có quen và biết một người đàn ông tên là T1 (là khách đến quán, không xác định được tên tuổi, địa chỉ cụ thể), qua nói chuyện T1 nói có ma túy đá để bán, khi nào bị cáo cần mua ma túy có thể ra khu vực ngã tư đèn đỏ dốc dệt thuộc phường N, thành phố V, tỉnh Phú Thọ (gần quán B), nếu gặp được T1 thì T1 sẽ bán cho. Khoảng 15 giờ ngày 06/8/2024, do có nhu cầu sử dụng ma túy, bị cáo một mình đi bộ từ quán B đến khu vực ngã tư đèn đỏ dốc dệt để tìm gặp T1, tại đây bị cáo mua của T1 02 (hai) đoạn ống hút bằng nhựa được hàn kín cả 02 đầu (01 đoạn ống hút màu xanh, 01 đoạn ống hút màu đỏ sọc trắng) bên trong chứa ma túy đá, được để trong một vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng, với giá 850.000 đồng. Sau khi mua được ma túy đá, do trước đó, bị cáo có quen với một người nam giới tên là T2 (không rõ tên tuổi địa chỉ cụ thể), T2 có nói với bị cáo nhà mình ở khu vực gần trạm bơm, đầu thị xã P, khi nào lên thị xã P vào nhà T2 chơi, nên bị cáo đã bắt taxi đi lên khu vực gần bờ đê thuộc khu H, xã H, thị xã P để chơi, tìm nhà T2 và mang theo số ma túy đã mua với mục đích khi nào thèm thì sẽ sử dụng cho bản thân thì bị tổ công tác Công an thị xã P kiểm tra, thu giữ vật chứng như đã nêu trên.
Ngoài ra, bị cáo Đ còn khai nhận ngày 03/8/2024 có mua của T1 300.000 đồng tiền ma túy đá và đã sử dụng hết cho bản thân. Công an thị xã P đã Quyết định xử phạt vi phạm hành chính, mức phạt 1.500.000 đồng (Một triệu năm trăm nghìn đồng).
Kiểm tra danh bạ, nhật ký, tin nhắn và ứng dụng trên chiếc điện thoại POCO màu xanh đen, lắp sim số 0795116590 thu giữ của Nguyễn Đông Đ, không phát hiện nội dung nào liên quan đến vi phạm pháp luật.
Về nguồn gốc số ma túy đá Đ khai mua của một người đàn ông tên T1 ngày 03/8/2024 và ngày 06/8/2024. Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra không biết rõ ở đâu, không có số điện thoại, nên không đủ căn cứ để xác minh, làm rõ người bán ma túy cho Đ.
Đối với người đàn ông tên là T2 và người nam giới lái xe taxi chở bị cáo Đ đến khu vực đường đê thuộc khu H, xã H, thị xã P, tỉnh Phú Thọ. Quá trình điều tra không xác định được thông tin, lai lịch nên không có cơ sở xác định có liên quan với hành vi tàng trữ ma túy của bị cáo Đ.
Về vật chứng, đồ vật, tài liệu tạm giữ, kết quả điều tra xác định:
- Đối với 0,235 gam chất rắn dạng tinh thể màu trắng, cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định, được niêm phong dán kín trong 01 túi niêm phong, bên ngoài túi niêm phong có 05 hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K Công an tỉnh P và chữ ký của các thành phần liên quan tại các mép dán, la mẫu vật gửi lại sau giám định; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu POCO, màu xanh đen, gắn sim số 0795116590. Chiếc điện thoại trên là tài sản hợp pháp của vợ chồng anh Lê Đức M, sinh năm: 1984 và chị Nguyễn Thị Ánh T, sinh năm: 1986, cùng thường trú tại khu D, phường N, thành phố V, tỉnh Phú Thọ, do Đ mượn của anh M dùng để liên lạc hàng ngày, không liên quan đến hành vi phạm tội; Tiền ngân hàng N: 250.000 đồng của bị can, hiện đang tạm giữ tại tài khoản số 39490904428700000 của Công an thị xã P - Là tài sản thuộc sở hữu hợp pháp của bị can, không liên quan đến tội phạm; 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng (loại vỏ cứng) chuyển đến Chi cục thi hành án dân sự thị xã Phú Thọ.
Về điều kiện kinh tế: Bị cáo không có tài sản gì có giá trị, ngoài đồ dùng sinh hoạt hàng ngày.
Tại phiên tòa, bị cáo Đ khai và thừa nhận: Tại bản cáo trạng số 68 ngày 30/10/2024 của VKSND Thị xã Phú Thọ truy tố bị cáo như vậy là đúng. Vào hồi 08 giờ 10 phút ngày 06/8/2024, bị cáo đã thực hiện hành vi tàng trữ 0,408 gam ma túy, loại Methamphetamine để tàng trữ cho bản thân thì bị Cơ quan Công an thị xã P kiểm tra phát hiện như đã nêu trên.
Tại bản cáo trạng số 68/CT-VKS-TXPT ngày 30/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Thọ truy tố bị cáo Nguyễn Đông Đ về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 điều 249 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Thọ giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Về trách nhiệm hình sự:
Đề nghị HĐXX Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đông Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s, khoản 1 Điều 51; điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt Nguyễn Đông Đ mức án từ 24 đến 30 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, Thời hạn tù được tính từ ngày tạm giữ 06/8/2024.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- Xử lý vật chứng:
Áp dụng khoản 1 điều 47 BLHS, khoản 2, điểm b, khoản 3 Điều 106 BLTTHS:
Tịch thu để tiêu huỷ: 01 bì niêm phong số 1095/KL - KTHS bên trong có chứa 0,235 gam chất rắn dạng tinh thể màu trắng, cùng toàn bộ bao gói là mẫu vật còn lại được hoàn trả sau khi giám định, 01(một) vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng (Loại vỏ cứng), 01 sim số: 0795116590.
Trả lại cho anh Lê Anh Đ2 và chị Nguyễn Thị Ánh T 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu POCO, màu xanh đen, đã qua sử dụng, số IMEI: 862598052219946, có
Trả lại cho bị cáo Nguyễn Đông Đ số tiền 250.000 đồng.
-Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo ân hận về hành vi mà bị cáo đã phạm, mong Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo hưởng mức án thấp nhất để sớm trở về với gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng:
Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Thọ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Đánh giá các chứng cứ buộc tội đối với bị cáo:
Hồi 18 giờ 10 phút ngày 06/8/2024, tại khu vực đường đê thuộc khu H, xã H, thị xã P, tỉnh Phú Thọ, Nguyễn Đông Đ đã có hành vi tàng trữ trên người 0,408 gam gam ma túy, loại Methamphetamine, với mục đích để sử dụng cho bản thân, bị Tổ công tác Công an thị xã P phát hiện, bắt quả tang thu giữ.
Lời nhận tội của bị cáo hoàn toàn phù hợp với thời gian, địa điểm xảy ra vụ án, vật chứng vụ án và các tài liệu khác có trong hồ sơ và đã được thẩm tra tại phiên tòa. Như vậy, có đủ căn cứ pháp lý kết luận bị cáo Đ phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 điều 249 của Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Thọ truy tố bị cáo về tội danh cũng như điều khoản trên là hoàn toàn đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Điều 249 - Bộ luật Hình sự quy định:
”1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
a).....
c) Heroine, C, Methamphetamine ... có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam
”
[3]. Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Xét tính chất vụ án là thuộc trường hợp nghiêm trọng. Hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy. Hành vi của bị cáo còn gây mất trật tự trị an xã hội trên địa bàn và nó là nguyên nhân làm phát sinh nhiều loại tội phạm khác. Do vậy cần xử phạt bị cáo với mức hình phạt thật nghiêm minh để bị cáo nhận thức được tính chất nghiêm trọng và hậu quả do hành vi của bị cáo đã gây ra, đồng thời có tác dụng giáo dục riêng đối với bị cáo và phòng ngừa chung tội phạm. Song khi quyết định hình phạt cũng cần xem xét đến tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo như sau:
Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
Xét tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội và tình tiết giảm nhẹ nhiệm hình sự đối với bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng đối với bị cáo cần áp dụng hình phạt như Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Thọ đề nghị là phù hợp. Mức án đó cũng đủ điều kiện để giáo dục bị cáo sửa chữa được tội lỗi mà bị cáo đã phạm.
Đối với người đàn ông đã bán ma tuý cho bị cáo Đ tên T1 ngày 03/8/2024 và ngày 06/8/2024, do bị cáo Đ không biết T1 địa chỉ ở đâu, nên Cơ quan điều tra không có đủ căn cứ để tổ chức xác minh làm rõ và xử lý là phù hợp.
Ngoài ra, tại cơ quan điều tra bị cáo Đ còn khai nhận ngày 03/8/2024 có mua của T1 300.000 đồng tiền ma túy đá và đã sử dụng hết cho bản thân. Cơ quan công an thị xã P đã Quyết định xử phạt vi phạm hành chính, mức phạt tiền: Mức phạt 1.500.000 đồng (Một triệu năm trăm nghìn đồng) là phù hợp.
[4]. Về hình phạt bổ sung:
Tại khoản 5 điều 249 Bộ luật hình sự quy định: “Người phạm tội còn có thể bị bị phạt tiền từ 5.000.000đồng đến500.000.000đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”. Xét thấy, bị cáo không có tài sản riêng gì có giá trị, ngoài đồ dùng sinh hoạt cho bản thân nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo là phù hợp với điều kiện thực tế và quy định của pháp luật.
[5]. Về xử lý vật chứng và các tài sản, đồ vật tạm giữ:
Đối với 01 (một) túi giấy niêm phong số 1095/KL - KTHS có đóng 05 hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K - Công an tỉnh P và chữ ký của các thành phần liên quan là mẫu vật còn lại được hoàn trả sau khi giám định; 01(một) vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng (Loại vỏ cứng) và 01 sim số 0795116590 không còn giá trị sử dụng cần tịch thu để tiêu hủy.
Đối với 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu POCO, màu xanh đen, Chiếc điện thoại trên là tài sản hợp pháp của vợ chồng anh Lê Đức M và chị Nguyễn Thị Anh T3 do bị cáo Đức mượn của anh M dùng để liên lạc hàng ngày, không liên quan đến hành vi phạm tội, cần trả lại cho vợ chồng anh M, chị T3 là phù hợp.
Đối với số tiền 250.000 đồng (Hai trăm năm mươi nghìn đồng) thu giữ của bị cáo Đ là tiền do bị cáo Đ lao động mà có không liên quan đến hành vi phạm tội cần trả lại cho bị cáo là phù hợp.
[6]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự; khoản 1 điều 47 BLHS, điểm a, c khoản 2, điểm a, b khoản 3 Điều 106; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Căn cứ Điều 331 Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Đông Đ phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Đông Đ 24 ( Hai mươi tư) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam là ngày 06/8/2024
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng:
Tịch thu để tiêu hủy: 01 (một) túi giấy niêm phong số 1095/KL - KTHS có đóng 05 hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K - Công an tỉnh P và chữ ký của các thành phần liên quan là mẫu vật còn lại được hoàn trả sau khi giám định; 01(một) vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng (Loại vỏ cứng) và 01 sim số 0795116590.
Trả lại cho anh Lê Anh Đ2 và chị Nguyễn Thị Ánh T 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu POCO, màu xanh đen, đã qua sử dụng, số IMEI: 862598052219946.
Trả lại cho bị cáo Nguyễn Đông Đ số tiền 250.000 đồng.
(Theo biên bản giao nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng đến Chi cục thi hành án dân sự thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ ngày 31/10/2024).
Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Đông Đ phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo có mặt có quyền kháng cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày giao hoặc niêm yết bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử phúc thẩm.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Ngọc Hà |
Bản án số 63/2024/HS-ST ngày 15/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHÚ THỌ, TỈNH PHÚ THỌ về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 63/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 15/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHÚ THỌ, TỈNH PHÚ THỌ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tàng trữ trái phép chất ma túy
