Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH HÀ NAM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 63/2024/HS-PT

Ngày 18 - 11 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ NAM

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Hải;

Các Thẩm phán: Ông Trần Văn San và ông Nguyễn Đức Thủy.

- Thư ký phiên tòa: Ông Vũ Huy Anh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hà Nam.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Nam tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Đào - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 11 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hà Nam xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 93/2024/TLPT-HS ngày 28 tháng 10 năm 2024, đối với bị cáo Nguyễn Thị T; do có kháng cáo của bị cáo, bị hại và kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 82/2024/HS-ST ngày 24 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam.

- Bị cáo có kháng cáo, bị kháng cáo và bị kháng nghị: Nguyễn Thị T, sinh năm 1960 tại tỉnh Hà Nam; nơi cư trú: Thôn T, xã Đ, huyện L, tỉnh Hà Nam; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 07/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn L (đã chết) và bà Nguyễn Thị H; có chồng là Nguyễn Văn V (đã chết) và có 04 con, lớn nhất sinh năm 1980, nhỏ nhất sinh năm 1990; tiền án, tiền sự: Không; tạm giữ, tạm giam: Không; hiện bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”; có mặt.

- Bị hại có kháng cáo: Anh Tạ Văn H1, sinh năm 1987; địa chỉ: Thôn B P, xã C, huyện L, tỉnh Hà Nam; có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị: Anh Nguyễn Ngọc P, sinh năm 1980; địa chỉ: Thôn T, xã Đ, huyện L, tỉnh Hà Nam; có mặt.

- Người làm chứng: Anh Đặng Văn Q, sinh năm 1983; anh Trần Xuân V1, sinh năm 1993; anh Trần Văn M, sinh năm 1993; anh Đặng Văn T1, sinh năm 1986; có mặt anh V1, anh T1; vắng mặt anh Q, anh M.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Năm 2017, anh Tạ Văn H1 thuê đất của Nguyễn Thị T tại thụn T, xó Đ, huyện L, tỉnh Hà Nam để mở xưởng sản xuất đồ gỗ. Quá trình thuê đất, hai bên xảy ra mâu thuẫn về thời hạn hợp đồng và tiền thuê. Nguyễn Thị T không cho anh H1 thuê nữa nên nhiều lần anh H1 muốn dỡ xưởng và di chuyển máy móc đi nơi khác thì Nguyễn Thị T ngăn cản và yêu cầu anh H1 phải thanh toán đủ tiền thì mới cho dỡ xưởng và chuyển máy móc đi.

Khoảng 17 giờ 15 phút ngày 16/3/2024, anh Tạ Văn H1 và một số người sử dụng máy cẩu đến xưởng gỗ để chuyển máy móc trong xưởng đi; Nguyễn Thị T đến ngăn cản không cho chuyển và yêu cầu anh H1 phải trả hết tiền mới cho chuyển, hai bên xảy ra tranh cãi. Quá trình tranh cãi, T tát nhiều nhát vào mặt anh H1 sau đó dùng tay phải nhặt một khúc gỗ hình vuông có kích thước (13 x 12 x 8)cm đập nhiều nhát vào bàn chân, đùi và đập 1 nhát vào vùng trán phải anh H1 thì được mọi người can ngăn, T vứt khúc gỗ đi và tiếp tục kéo áo anh H1 làm anh H1 ngã đè lên người Tươi, anh H1 tự đứng dậy, T vẫn nằm ở nền sân. Lúc này Nguyễn Ngọc P, sinh năm 1980 (là con trai T) đang nói chuyện cùng với mấy người đang chuyển đồ ở đó quay ra nhìn thấy mẹ mình bị nằm ngã dưới nền đất, nghĩ anh H1 đánh mẹ mình ngất nên P dùng chân phải đá một nhát trúng vào vùng bụng của anh H1. Những người ở đó tiếp tục can ngăn nên không ai đánh ai nữa. Sau khi bị T đánh, anh H1 bị thương tích và đau nhiều nơi trên cơ thể phải đi khám và điều trị tại Bệnh viện đa khoa tỉnh H từ ngày 16/3/2024 đến ngày 19/3/2024 thì ra viện. Ngày 18/3/2024, anh Tạ Văn H1 có đơn yêu cầu khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Nguyễn Thị T về hành vi cố ý gây thương tích.

Tại bản Kết luận giám định số 118/KLTTCT-TTGĐYK&PY, 119/KLTTCT-TTGĐYK&PY ngày 15/5/2024 của Trung tâm giám định Y khoa và Pháp y tỉnh H, kết luận thương tích của anh Tạ Văn H1 và Nguyễn Thị T như sau:

- Kết luận về thương tích của anh Tạ Văn H1: “1. Các kết quả chính: Vết biến đổi rối loạn sắc tố da trán lệch phải; Sây sát da bàn tay, bàn chân, hiện không còn dấu vết thương tích; Sưng nề vùng chẩm, hiện ổn định; Đau nhiều nơi trên cơ thể hiện ổn định.

2. Kết luận: Căn cứ Thông tư số 22/2019/TTBYT, ngày 28/8/2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Tạ Văn H1 tại thời điểm giám định là 01% (một phần trăm).

3. Qua nghiên cứu hồ sơ tài liệu và khám giám định, nhận định: Sây sát do do tác động với vật có góc cạnh gây nên; Sưng nề do tác động với vật tày gây nên".

Kết luận về thương tích của Nguyễn Thị T:

“1. Các kết quả chính: Vết biến đổi rối loạn sắc tố da cẳng chân phải; Sây sát da khuỷu tay phải hiện không còn dấu vết thương tích; Đau nhiều nơi trên cơ thể hiện ổn định.

2. Kết luận: Căn cứ Thông tư số 22/2019/TTBYT, ngày 28/8/2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Nguyễn Thị T tại thời điểm giám định là 01% (một phần trăm).

3. Qua nghiên cứu hồ sơ tài liệu và khám giám định, nhận định: thương tích do tác động với vật có góc cạnh gây nên.”.

Tại bản Kết luận giám định số 116/KLTTCT-TTGĐYK&PY ngày 22/5/2024 của Trung tâm giám định Y khoa và Pháp y tỉnh H, kết luận thương tích của anh Nguyễn Ngọc P:

“1. Các kết quả chính: Gãy 01 xương sườn một điểm, can tốt.

2. Kết luận: Căn cứ Thông tư số 22/2019/TTBYT, ngày 28/8/2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Nguyên Ngọc P1 tại thời điểm giám định là 02% (hai phần trăm)

3. Qua nghiên cứu hồ sơ tài liệu và khám giám định, nhận định: Gãy xương sường VI bên trái do vật tày tác động trực tiếp gây nên”.

Vật chứng, đồ vật thu giữ: 01 khúc gỗ hình hộp chữ nhật, màu nâu có kích thước (13 x 12 x 8)cm là hung khí mà T dùng để gây thương tích cho anh H1, được chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lý Nhân; 01 đĩa DVD lưu trữ 01 đoạn video thời lượng 04 phút 10 giây ghi lại diễn biến sự việc, được lưu cùng hồ sơ vụ án.

Về trách nhiệm dân sự: Anh Tạ Văn H1, Nguyễn Thị T và anh Nguyễn Ngọc P đều không có yêu cầu bồi thường gì về dân sự. Quá trình điều tra, Nguyễn Thị T tự nguyện nộp cho Cơ quan CSĐT Công an huyện L số tiền 5.000.000 đồng để bồi thường cho anh Tạ Văn H1, hiện Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lý Nhân quản lý.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 82/2024/HS-ST ngày 24 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam quyết định:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị T phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 134; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị T 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt đi thi hành án.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về xử lý vật chứng, án phí hình sự sơ thẩm và quyền kháng cáo.

Ngày 01 tháng 10 năm 2024, bị cáo Nguyễn Thị T kháng cáo xin hưởng án treo.

Tại Quyết định kháng nghị số 02/QĐ-VKSLN ngày 07/10/2024 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Lý Nhân quyết định: Kháng nghị một phần Bản án hình sự sơ thẩm số 82/2024/HS-ST ngày 24 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam; đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Hà Nam xét xử phúc thẩm vụ án theo hướng cho bị cáo Nguyễn Thị T hưởng án treo.

Ngày 09 tháng 10 năm 2024, bị hại anh Tạ Văn H1 kháng cáo đề nghị tăng hình phạt đối với bị cáo.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo và bị hại giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Nam: Giữ nguyên Quyết định kháng nghị số 02/QĐ-VKSLN ngày 07/10/2024 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Lý Nhân. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự: Chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Lý Nhân và kháng cáo của bị cáo; không chấp nhận kháng cáo của bị hại; sửa một phần Bản án hình sự sơ thẩm số 82/2024/HS-ST ngày 24 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Lý Nhân.

Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 134; điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị T phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị T 06 (Sáu) tháng tù, cho hưởng án treo; thời gian thử thách là 01 năm, kể từ ngày tuyên án phúc thẩm Giao bị cáo Nguyễn Thị T cho Ủy ban nhân xã Đ, huyện L, tỉnh Hà Nam giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Án phí hình sự phúc thẩm bị cáo Nguyễn Thị T không phải chịu.

Bị cáo Nguyễn Thị T nhất trí với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Nam; đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng án treo.

Bị hại anh Tạ Văn H1 cho rằng giữa bị cáo và anh Nguyễn Ngọc P có sự bàn bạc với nhau từ trước về việc gây thương tích và bị cáo Nguyễn Thị T chuẩn bị công cụ phương tiện phạm tội là ớt bột xoa vào tay để tát, bôi lên mặt, mắt anh. Vì vậy, bị cáo Nguyễn Thị T phạm tội có tổ chức, có tính chất côn đồ, chuyên nghiệp và phạm tội đến cùng. Sau khi gây thương tích, bị cáo không xin lỗi mà còn tiếp tục có thái độ thách thức. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm tăng mức hình phạt đối với bị cáo; về trách nhiệm dân sự không yêu cầu bị cáo phải bồi thường.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án anh Nguyễn Ngọc P cho rằng chiều ngày 16/3/2024, khi anh đi làm về đến xưởng gỗ Hạng Huyền thuộc thôn T, xã Đ thì thấy mẹ anh là bị cáo Nguyễn Thị T nằm dưới đất cạnh chỗ anh Tạ Văn H1, nghĩ rằng mẹ mình bị anh H1 đánh nên anh có vào dùng chân phải đá một nhát trúng vào vùng bụng của anh H1. Việc anh H1 cho rằng giữa bị cáo và anh có sự bàn bạc, chuẩn bị công cụ, phương tiện gây thương tích cho anh H1 là không đúng sự thật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Đơn kháng cáo của bị cáo, bị hại và kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam trong thời hạn luật định, nội dung đảm bảo theo quy định tại Điều 332, 336 của Bộ luật tố tụng hình sự nên là hợp lệ, được cấp phúc thẩm xem xét, giải quyết theo quy định của pháp luật.

[2] Về hành vi và tội danh: Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo Nguyễn Thị T khai nhận hành vi của mình đúng như bản án sơ thẩm đã xác định. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, phù hợp với kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án và phù hợp với một phần lời khai của bị hại. Do đó đủ cơ sở kết luận: Hồi 17 giờ 15 phút ngày 16/3/2024, tại xưởng gỗ H3 thuộc thôn T, xã Đ, huyện L, do có mâu thuẫn trong việc cho thuê đất làm nhà xưởng, Nguyễn Thị T đã có hành vi dùng tay tát nhiều nhát vào mặt anh Tạ Văn H1 và cầm 01 khúc gỗ kích thước (13 x 12 x 8)cm là hung khí nguy hiểm đập nhiều nhát vào bàn chân, đùi và một nhát vào trán bên phải của anh H1, làm anh H1 bị thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 01%.

Về lời khai của anh Tạ Văn H1 cho rằng giữa bị cáo Nguyễn Thị T và anh Nguyễn Ngọc P có sự bàn bạc với nhau về việc gây thương tích và bị cáo dùng ớt bột gây thương tích cho anh: Xét thấy, ngoài lời khai của bị hại thì không có căn cứ nào khác để chứng minh; đồng thời bệnh án thể hiện anh H1 không phải điều trị thương tích do ớt bột gây ra và anh H1 cũng khẳng định không phải điều trị thương tích do ớt bột gây ra. Vì vậy, lời khai trên của anh H1 là không có cơ sở để khẳng định. Như vậy, bị cáo Nguyễn Thị T thực hiện hành vi gây thương tích cho anh H1 là bột phát, xuất phát từ mâu thuẫn giữa bị cáo và bị hại trong việc vay mượn tiền và thanh toán tiền thuê đất. Do đó, bị hại cho rằng bị cáo phạm tội có tổ chức, có tính chất chuyên nghiệp, côn đồ và phạm tội đến cùng là không có căn cứ.

Như vậy, bản án sơ thẩm tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị T phạm tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại a khoản 1 Điều 134 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[3] Về kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Lý Nhân và kháng cáo của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy:

Về tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo là bột phát, xuất phát từ mâu thuẫn giữa bị cáo và bị hại trong việc vay mượn tiền và thanh toán tiền thuê đất; hậu quả của hành vi phạm tội không lớn, ở mức khởi điểm phải chịu trách nhiệm hình sự.

Về nhân thân, bị cáo là người cao tuổi và có nhân thân tốt.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Cấp sơ thẩm áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng”, “thành khẩn khai báo” theo quy định tại các điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật. Tuy nhiên, cấp sơ thẩm không áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “người phạm tội tự nguyện bồi thường thiệt hại” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự cho bị cáo là chưa đúng quy định của pháp luật, bởi bị cáo đã tự nguyện nộp 5.000.000 đồng để bồi thường thiệt hại cho bị hại do hành vi phạm tội của mình gây ra; việc bị hại không yêu cầu và không nhận bồi thường là quyền của bị hại, không loại trừ bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự này. Vì vậy cấp phúc thẩm áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ này cho bị cáo. Tại cấp phúc thẩm, bị cáo giao nộp tài liệu chứng cứ thể hiện bị cáo có mẹ đẻ và em trai là người có công với cách mạng (bà Nguyễn Thị H tham gia dân công hỏa tuyến; ông Nguyễn Văn H2 là thương binh), bị cáo mắc bệnh đái tháo đường, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, được áp dụng đối với bị cáo.

Xét thấy, hậu quả của hành vi phạm tội không lớn; bị cáo được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, trong đó có tình tiết giảm nhẹ mới; bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng; trong thời gian áp dụng biện pháp “Cấm đi khỏi nơi cư trú” bị cáo nghiêm chỉnh chấp hành tốt các quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, quy định của pháp luật và của địa phương nơi cư trú, được chính quyền địa phương xác nhận có đủ khả năng cải tạo, giáo dục tại cộng đồng. Vì vậy, giữ nguyên mức hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo là phù hợp, đủ điều kiện giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người tốt, có ích cho gia đình và xã hội mà vẫn đáp ứng yêu cầu đấu tranh, phòng ngừa tội phạm.

Kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Lý Nhân và kháng cáo của bị cáo là có căn cứ, được Hội đồng xét xử chấp nhận chấp nhận.

[4] Về kháng cáo của bị hại: Với nhận định như trên, Hội đồng xét xử chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Lý Nhân và kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên mức hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo. Vì vậy, kháng cáo tăng hình phạt đối với bị cáo của bị hại là không có căn cứ, không được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[5] Về án phí: Kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị T được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị cấp phúc thẩm không xem xét.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự: Chấp nhận Quyết định kháng nghị số 02/QĐ-VKSLN ngày 07/10/2024 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Lý Nhân và kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị T; không chấp nhận kháng cáo của bị hại Tạ Văn H1. Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 82/2024/HS-ST ngày 24 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam.

2. Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 134; điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị T phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị T 06 (Sáu) tháng tù, cho hưởng án treo; thời gian thử thách là 01(Một) năm, kể từ ngày tuyên án phúc thẩm (18/11/2024).

Giao bị cáo Nguyễn Thị T cho Ủy ban nhân xã Đ, huyện L, tỉnh Hà Nam giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

3. Án phí hình sự phúc thẩm bị cáo Nguyễn Thị T không phải chịu.

4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - TAND cấp cao tại Hà Nội;
  • - VKSND tỉnh Hà Nam;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Hà Nam;
  • - Phòng HSNV Công an tỉnh Hà Nam;
  • - Phòng KTNV&THA TAND tỉnh Hà Nam;
  • - TAND, VKSND huyện Lý Nhân;
  • - Cơ quan CSĐT Công an huyện Lý Nhân;
  • - Chi cục THADS huyện Lý Nhân;
  • - UBND xã Đức Lý, huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam;
  • - Bị cáo, bị hại, người có QLNLLQ;
  • - Bộ phận HCTP;
  • - Lưu HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Thanh Hải

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 63/2024/HS-PT ngày 18/11/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Hà Nam về hình sự phúc thẩm (cố ý gây thương tích)

  • Số bản án: 63/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Cố ý gây thương tích)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 18/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân tỉnh Hà Nam
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị T phạm tội “Cố ý gây thương tích”. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị T 06 (Sáu) tháng tù, cho hưởng án treo; thời gian thử thách là 01(Một) năm, kể từ ngày tuyên án phúc thẩm (18/11/2024).
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger