Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH HẢI DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 63/2024/HS-PT

Ngày: 13/6/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Quách Thị Phương Thuý.

Các Thẩm phán: Bà Vũ Thị Yển, bà Đoàn Thị Thu Thúy.

- Thư ký phiên tòa: Bà Triệu Mùi Nái- Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương tham gia phiên toà: Bà Đinh Thu Thủy- Kiểm sát viên trung cấp.

Ngày 13 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Hải Dương xét xử phúc thẩm kín vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 55/2024/TLPT-HS ngày 16/4/2024 đối với bị cáo Nguyễn Văn H do có kháng cáo của bị hại đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 27/2024/HS-ST ngày 06/3/2024 của Tòa án nhân dân huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương.

- Bị cáo bị kháng cáo: Nguyễn Văn H, sinh năm 1986. ĐKHKTT và chỗ ở: Thôn Đ, xã T, huyện T, tỉnh Hải Dương. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ học vấn: 09/12. Dân tộc: Kinh. Giới tính: Nam. Tôn giáo: Không. Quốc tịch: Việt Nam. Con ông Nguyễn Văn C và bà Nguyễn Thị X. Bị cáo đã ly hôn và có 02 con. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giam từ ngày 05/10/2023 tại Trại tạm giam Công an tỉnh H. Có mặt.

- Bị hại kháng cáo: Chị Đặng Thị N, sinh năm 1991. Địa chỉ: Thôn Đ, xã T, huyện T, tỉnh Hải Dương. Có mặt.

- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại: Ông Bùi Văn M và bà Ma Thị T- Luật sư của Văn phòng L. Địa chỉ: Tầng D, tòa nhà A đường L, phường T, quận Đ, thành phố Hà Nội. Có mặt.

- Người làm chứng: Ông Nguyễn Văn K (vắng mặt); bà Nguyễn Thị D, anh Nguyễn Văn D1, anh Nguyễn Văn K1 (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do đã ly hôn vợ và biết anh Nguyễn Văn D1 thường xuyên đi làm xa nên Nguyễn Văn H nảy sinh ý định quan hệ tình dục với vợ anh D1 là chị Đặng Thị N. Khoảng hơn 01 giờ ngày 14/8/2023, H cầm theo một con dao bằng kim loại, dạng dao gọt hoa quả, mũi dao vát nhọn và đi bộ bằng lối tắt sang nhà chị N. H trèo cột hiên bên trái lên ban công tầng hai, mở cửa đi vào nhà chị N rồi đi theo lối cầu thang xuống tầng 1 và quan sát thấy chị N đang ngủ cùng hai con trên giường tại phòng ngủ phía trong. Chị N nằm ở giữa, cháu Nguyễn Ngọc D2 và cháu Nguyễn Trang U nằm hai bên. H đi vào bếp mở chốt cửa lách với mục đích sau khi thực hiện hành vi hiếp dâm sẽ tẩu thoát theo lối này. Sau đó H quay lại phòng ngủ, đẩy cửa đi vào thì chị N tỉnh ngủ hỏi “Ai đấy”, H không nói gì và kéo màn trèo lên giường. Chị N dùng hai chân đạp về phía H nên chân trái trúng vào mũi dao H đang cầm trên tay phải giơ về phía trước và bị thương, chảy máu. H ngồi đè lên hai đầu gối chị N và nói “Đ mẹ mày không nằm im tao giết mày đấy”. Đồng thời H dùng tay trái cầm cạp quần chị N tụt xuống dưới hai chân, kéo quần lót ra khỏi hai chân chị N rồi nhổm dậy tự tụt quần đùi của mình khỏi cơ thể. Chị N vừa khóc vừa nói “Tôi van xin anh, anh tha cho tôi”, H nói “Mày im đi không là đứa này chết hoặc đứa kia chết, con dao này không có mắt đâu” nên chị N sợ hãi nằm im. H dùng tay vén áo ba lỗ của chị N lên phía trên cổ, dùng miệng hôn vào hai đầu vú của chị N, rồi hôn xuống bụng và âm hộ của chị nhung trong khoảng thời gian 02 phút. Sau đó H dùng ngón tay trái đưa vào âm hộ của chị N để kích thích. Chị N dùng tay trái đẩy vào mặt H thì bị H dùng răng cắn vào mu bàn tay. Khoảng 01 phút sau, H tự dùng tay trái cầm dương vật của mình đưa vào trong âm hộ của chị N nhưng do dương vật không cương cứng nên không đưa vào được. Lúc này cháu D2 khóc đòi uống sữa, chị N nói “Tôi xin anh, anh để cho con tôi uống sữa”, H không nói gì và tiếp tục nằm đè lên người chị N, tay trái vẫn đưa vào trong âm hộ của chị N, chị N nhoài người và lấy tay với hộp sữa cho cháu D2 uống. Sau đó H nói với chị N “Mày mút đi”, chị N nói “Tôi không làm được”, H nói tiếp “Lấy tay cho vào”. Do sợ hãi chị N phải cầm dương vật của H đã cương cứng đưa vào trong âm hộ của mình. Huy qùy gối giữa hai chân chị N, đưa dương vật ra vào âm hộ của chị N trong khoảng thời gian 4 đến 5 phút thì dương vật của H không cương cứng nữa mà tự tụt ra ngoài, lúc này H chưa xuất tinh. Sau đó H cầm dao dí vào cổ chị N và bảo “Mày tắt cái bóng điện kia đi”, thì chị N nói “Ông phải để cho tôi dậy tôi mới tắt được”, H vẫn dí dao vào phía sau cổ chị N, còn chị N bước qua người cháu U để rút bóng đèn ngủ ra. Khi chị N vừa rút bóng đèn ngủ ra thì H đẩy chị N vào tường và cầm quần, tay vẫn cầm dao xuống giường bỏ chạy ra hướng cửa lách rồi chạy theo lối cũ về nhà.

Tại Kết luận giám định số 6856/KL-KTHS ngày 22/9/2023 của V- Bộ C1 kết luận: Người nam giới có 04 sợi lông, tóc để lại trên chiếc vỏ chăn và 01 sợi lông hoặc tóc để lại trên chiếc ga trải giường gửi giám định là Nguyễn Văn H.

Tại Kết luận giám định xâm hại tình dục số 16/KL-XHTD ngày 22/08/2023 của Trung tâm pháp y- Sở Y kết luận: Bộ phận sinh dục ngoài, môi lớn, môi bé, âm hộ, hậu môn không tổn thương. Màng trinh khi nâng hai môi lớn lên lỗ màng trinh giãn rộng đường kính khoảng 30mm, rách cũ ở điểm 1h, 6h, 9h, 11h, sâu nhất ở điểm 6h khoảng 03-04mm. Trong âm đạo có ít dịch viêm, không tìm thấy xác tinh trùng. Tại thời điểm giám định chị N không bị nhiễm HIV.

Tại Kết luận giám định số 367 ngày 06/11/2023 của Trung tâm pháp y – Sở Y kết luận: Tỷ lệ tổn thương cơ thể của chị Đặng Thị N tại thời điểm giám định là 01%. Tổn thương gây ra cho chị N do người khác dùng dao và răng cắn gây ra là phù hợp.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 27/2024/HS-ST ngày 06/3/2024, Tòa án nhân dân huyện Tứ Kỳ căn cứ khoản 1 Điều 141; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 38, khoản 1 Điều 42 Bộ luật hình sự (viết tắt: BLHS); khoản 1 Điều 584, khoản 1 Điều 585, Điều 592, Điều 357, Điều 468 Bộ luật dân sự. Xử phạt Nguyễn Văn H 39 tháng tù về tội “Hiếp dâm”. Chấp nhận sự tự nguyện của bị cáo H bồi thường cho chị N tổng số tiền 30.000.000đ. Xác nhận bị cáo đã bồi thường 15.000.000đ, còn phải bồi thường số tiền 15.000.000đ. Ngoài ra cấp sơ thẩm còn quyết định về tiền lãi chậm thi hành án, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo.

Ngày 14/3/2024, chị Đặng Thị N kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm vì cho rằng cấp sơ thẩm bỏ lọt tội phạm và mức hình phạt áp dụng với bị cáo là nhẹ.

Tại phiên tòa phúc thẩm: Bị hại và người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho bị hại đề nghị Hội đồng xét xử xem xét ngoài tội “Hiếp dâm” thì hành vi của bị cáo còn phạm tội “Đe dọa giết người”; đề nghị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “cố tình thực hiện tội phạm đến cùng” quy định tại điểm e khoản 1 Điều 52 BLHS và tăng mức hình phạt đối với bị cáo; yêu cầu bị cáo bồi thường tổn thất tinh thần, thu nhập thực tế bị mất cho chị N và chồng, con của chị N với tổng số tiền 100.000.000đ. Ngoài các nội dung trên, bị hại xác định không kháng cáo các nội dung khác của bản án sơ thẩm.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương phân tích các tình tiết của vụ án, xác định cấp sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất, mức độ của hành vi phạm tội và áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị hại và đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên các quyết định của bản án sơ thẩm. Buộc bị hại phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Kháng cáo của bị hại được thực hiện trong thời hạn quy định tại Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự nên là kháng cáo hợp lệ và được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

[2] Về tội danh:

[2.1] Từ trình bày của bị cáo, bị hại, các kết luật giám định, vật chứng thu được và các tài liệu khác đã thu thập tại hồ sơ vụ án, có cơ sở xác định: Khoảng 01 giờ 08 phút ngày 14/8/2023, Nguyễn Văn H đã có lời nói và sử dụng dao đe dọa để thực hiện hành vi quan hệ tình dục với chị Đặng Thị N trái với ý muốn của chị N. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Vì vậy Nguyễn Văn H bị Tòa án cấp sơ thẩm xét xử về tội “Hiếp dâm” quy định tại khoản 1 Điều 141 BLHS là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[2.2] Khi chị N phản kháng, không đồng ý cho bị cáo quan hệ tình dục thì bị cáo cầm dao kề vào bên trái cổ chị N và nói “Đ mẹ mày không nằm im tao giết mày đấy”. Khi chị N khóc xin tha thì bị cáo nói “Mày im đi không là đứa này chết hoặc đứa chia chết, con dao này không có mắt đâu”. Chị N cho rằng lúc này bị cáo dí dao vào đùi cháu U, cháu D2. Bị cáo xác định không dí dao vào đùi cháu U, cháu D2 mà chỉ giơ dao chỉ. Tuy các bên trình bày mâu thuẫn về nội dung này nhưng tại thời điểm đó, bị cáo đã ngồi đè lên hai đầu gối chị N, đã tụt quần của chị N và của bị cáo xuống; lời nói và hành vi của bị cáo là nhằm mục đích để được quan hệ tình dục với chị N nên người bị đe dọa trong trường hợp này là chị N, không phải là các con của chị N. Vì vậy bị hại và người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho bị hại đề nghị xem xét bị cáo còn phạm tội “Đe dọa giết người” là không có cơ sở.

[3] Về hình phạt: Quá trình thực hiện tội phạm, bị cáo không gặp phải sự can ngăn của người khác hoặc trở ngại khác. Việc chị N dùng hai chân đạp về phía bị cáo, dùng tay đẩy vào mặt bị cáo hoặc khi con của chị N khóc và chị N xin bị cáo cho con uống sữa thể hiện chị N không muốn quan hệ tình dục cùng bị cáo. Vì vậy không có căn cứ áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “cố tình thực hiện tội phạm đến cùng” quy định tại điểm e khoản 1 Điều 52 BLHS đối với bị cáo. Tại cấp phúc thẩm, gia đình bị cáo cung cấp tài liệu thể hiện ông nội, bà nội của bị cáo được tặng thưởng huân chương, kỷ niệm chương nhưng đây không phải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự bị cáo được hưởng theo quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS. Cấp sơ thẩm đã xem xét bị cáo chưa có tiền án, tiền sự; sau khi phạm tội, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tự nguyện bồi thường cho bị hại số tiền 15.000.000đ để áp dụng cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 BLHS và áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo là phù hợp. Tuy nhiên để thực hiện được hành vi quan hệ tình dục với chị N, bị cáo đã sử dụng lời nói và hành vi đe dọa rất quyết liệt là dọa giết chị N, dọa giết con của chị N, dùng dao dí vào cổ chị N. Việc đe dọa của bị cáo đã làm tê liệt hoàn toàn ý thức chống cự của chị N. Với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi mà bị cáo đã thực hiện, có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị hại về việc tăng mức hình phạt đối với bị cáo.

[4] Về trách nhiệm dân sự:

[4.1] Sau khi bị xâm hại, chị N phải nghỉ làm 10 ngày để ổn định tinh thần là thực tế và phù hợp. Vì vậy bị cáo phải bồi thường cho chị N khoản thu nhập bị mất trong thời gian 10 ngày nghỉ làm và khoản bù đắp tổn thất về tinh thần. Chị N làm công nhân tại Công ty G có mức thu nhập 7.843.071 đồng/tháng nên thu nhập thực tế bị mất của chị N = (7.843.071đ : 26 ngày) x 10 ngày = 3.017.000₫ (làm tròn). Cấp sơ thẩm căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 592 Bộ luật dân sự, buộc bị cáo phải bồi thường tổn thất về tinh thần cho chị N với mức cao nhất là 10 lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định = 1.800.000đ x 10 lần = 18.000.000đ. Tổng số tiền bị cáo phải bồi thường cho chị N là 21.017.000đ. Tuy nhiên tại phiên tòa sơ thẩm và phiên tòa phúc thẩm, bị cáo đồng ý bồi thường cho chị N tổng số tiền 30.000.000đ là tự nguyện nên được chấp nhận. Bị cáo đã bồi thường 15.000.000đ nên phải bồi thường số tiền còn lại là 15.000.000đ.

[4.2] Đối với thương tích 01%, chị N xác định đã tự điều trị và không yêu cầu bị cáo bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[4.3] Trong vụ án này, chị N là người trực tiếp bị thiệt hại về sức khỏe, tinh thần do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra. Sau khi bị xâm hại, chị N phải nghỉ làm 10 ngày để ổn định tinh thần nhưng không thuộc trường hợp phải có người trực tiếp chăm sóc, hỗ trợ sinh hoạt hàng ngày. Cháu D2, cháu U không phải là người bị đe dọa, không bị tổn thương về sức khỏe do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra. Pháp luật không quy định bồi thường tổn thất tinh thần cho người thân thích của người bị xâm phạm danh dự, nhân phẩm. Vì vậy bị hại yêu cầu bị cáo phải bồi thường thu nhập thực tế bị mất và tổn thất tinh thần cho anh D1, cháu D2, cháu U (chồng, con của chị N) là không có cơ sở nên không được chấp nhận.

[5] Về án phí: Kháng cáo được chấp nhận một phần nên chị N không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm. Bị cáo H phải chịu án phí dân sự đối với số tiền còn phải bồi thường.

[6] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, Hội đồng xét xử không xem xét, đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355, điểm a khoản 2 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 141, điểm b, s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 42 Bộ luật hình sự; các Điều 584, 585, 586, 592 Bộ luật dân sự; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.

Chấp nhận một phần kháng cáo của bị hại Đặng Thị N. Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 27/2024/HS-ST ngày 06/3/2024 của Tòa án nhân dân huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương về hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Văn H.

  1. Về tội danh và hình phạt: Xử phạt Nguyễn Văn H 45 (bốn mươi lăm) tháng tù về tội “Hiếp dâm”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 05/10/2023.

  2. Về trách nhiệm dân sự: Chấp nhận sự tự nguyện của bị cáo Nguyễn Văn H bồi thường cho chị Đặng Thị N số tiền 30.000.000đ. Bị cáo đã bồi thường 15.000.000đ theo biên lai thu tiền số 0002783 ngày 06/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương. Số tiền còn phải bồi thường là 15.000.000đ (mười lăm triệu đồng).

    Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.

  3. Về án phí:

    • Chị Đặng Thị N không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
    • Bị cáo Nguyễn Văn H phải chịu 750.000đ (bẩy trăm năm mươi nghìn đồng) án phí dân sự.
  4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

  5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án phúc thẩm.

Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu yêu cầu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Bị hại; người bảo vệ cho bị hại;
  • - VKSND tỉnh Hải Dương;
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Hải Dương;
  • - CQ THAHS Công an tỉnh Hải Dương;
  • - VKSND huyện Tứ Kỳ;
  • - TAND huyện Tứ Kỳ;
  • - Chi cục THADS huyện Tứ Kỳ;
  • - CQ CSĐT Công an huyện Tứ Kỳ;
  • - Sở tư pháp tỉnh Hải Dương;
  • - Vụ GĐKT1-TANDTC;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

6

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Quách Thị Phương Thuý

7

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 63/2024/HS-PT ngày 13/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG về hình sự phúc thẩm (tội hiếp dâm)

  • Số bản án: 63/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Tội Hiếp dâm)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 13/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn H phạm tội "Hiếp dâm"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger