Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BẾN TRE

TỈNH BẾN TRE

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 63/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 16/8/2024.

V/v: "Ly hôn, tranh chấp nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN TRE – TỈNH BẾN TRE

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Đạt.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Hàn Nhựt Thái.
  2. Ông Trần Văn Hưng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Cẩm Trang – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Tre tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương Lan – Kiểm sát viên.

Trong ngày 16 tháng 8 năm 2024, tại phòng xử án Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình đã thụ lý số 237/2024/TLST-HNGĐ ngày 07 tháng 6 năm 2024 về việc: "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con", theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 72/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 16/7/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 192/2024/QĐST-HNGĐ ngày 07/8/2024. Giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Phương T, sinh năm 1993 (xin vắng mặt);
  2. Địa chỉ: Số A, ấp H, xã S, huyện C, tỉnh Bến Tre.

  3. Bị đơn: Ông Lê Thanh T1, sinh năm 1986 (vắng mặt);
  4. Địa chỉ: Số E, tổ A, ấp A, xã S, thành phố B, tỉnh Bến Tre.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn xin ly hôn đề ngày 29/02/2024 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Nguyễn Thị Phương T trình bày: Bà T và ông T1 do tự tìm hiểu quen biết nhau trước nên tự nguyện tiến đến hôn nhân, có tiến hành đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã S, huyện C, tỉnh Bến Tre vào ngày 01/11/2022. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống với nhau hạnh phúc khoảng thời gian đầu nhưng thời gian sau đó đã phát sinh rất nhiều mâu thuẫn mất hạnh phúc do vợ chồng bất đồng quan điểm, thường xuyên cãi vã nhau. Nay do tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà yêu cầu được ly hôn với ông T1 để mỗi người có cuộc sống riêng. Về con chung: thời gian sống chung, bà và ông T1 có với nhau 01 con chung là cháu Lê Thanh T2, sinh ngày 14/8/2022, hiện đang sống chung với bà T. Sau khi ly hôn, bà yêu cầu được trực tiếp nuôi cháu T2, không yêu cầu ông T1 cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và nợ chung: không có.

Bị đơn ông Lê Thanh T1 vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án nên không có lời trình bày.

Tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm:

- Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự, nguyên đơn đã thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của mình; riêng bị đơn chưa thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của mình.

- Về nội dung: đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, cụ thể: Về hôn nhân: chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Nguyễn Thị Phương T; về con chung: giao con chung là cháu Lê Thanh T2 sinh ngày 14/8/2022 cho bà Nguyễn Thị Phương T được trực tiếp nuôi, ông Lê Thanh T1 không phải cấp dưỡng nuôi con do bà T không có yêu cầu; về tài sản chung và nợ chung: không có nên không xem xét giải quyết. Tuyên án phí theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Phương T có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn ông Lê Thanh T1 vắng mặt tại phiên tòa không có lý do dù đã được triệu hợp lệ đến lần thứ hai nên Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt bà T và ông T1 là phù hợp.

[2] Về quan hệ hôn nhân: bà T và ông T1 trên cơ sở quen biết nhau trước nên cả hai tự nguyện tiến đến hôn nhân, có tiến hành đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã S, huyện C, tỉnh Bến Tre vào ngày 01/11/2022. Xét thấy, hôn nhân của bà T và ông T1 đã tuân thủ đầy đủ các quy định của pháp luật hôn nhân gia đình nên được xem là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ. Sau khi kết hôn, bà T và ông T1 có thời gian sống hạnh phúc và có với nhau 01 con chung nhưng vì những mâu thuẫn trong cuộc sống gia đình mà đã dẫn đến việc bà T xin ly hôn. Tại đơn khởi kiện và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, bà T cho rằng nguyên nhân mất hạnh phúc là do vợ chồng bất đồng quan điểm, thường xuyên cãi vã nhau. Xét thấy, sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành mời bà T và ông T1 đến Tòa án nhiều lần để tiến hành hòa giải hôn nhân của ông bà nhưng ông T1 vẫn vắng mặt không có lý do. Điều đó chứng tỏ ông T1 không có thiện chí hàn gắn, đoàn tụ vợ chồng với bà T. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy: bà T và ông T1 là vợ chồng nhưng ông bà không quan tâm, giúp đỡ nhau để tạo điều kiện cho nhau phát triển về mọi mặt mà ông bà lại bỏ mặc nhau, không quan tâm chăm sóc cho nhau nên ông bà đã vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà T là phù hợp.

[3] Về con chung: thời gian sống chung, bà T và ông T1 có 01 con chung là cháu Lê Thanh T2 sinh ngày 14/8/2022. Sau khi ly hôn, bà T yêu cầu được trực tiếp nuôi cháu T2, không yêu cầu ông T1 cấp dưỡng nuôi con. Hội đồng xét xử xét thấy: cháu T2 (dưới 36 tháng tuổi) hiện đang sống chung với bà T, trong quá trình giải quyết vụ án ông T1 cũng không có văn bản trình bày ý kiến tranh chấp về nuôi con chung với bà T. Do đó, để đảm bảo quyền lợi cho sự phát triển tốt về thể chất, sự phát triển tốt về tinh thần và bảo đảm việc học hành cho cháu T2 nên Hội đồng xét xử giao cháu T2 cho bà T được trực tiếp nuôi là hoàn toàn phù hợp theo quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Việc bà T không yêu cầu ông T1 cấp dưỡng nuôi con là sự tự nguyện của bà nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

[4] Về tài sản chung và nợ chung: bà T trình bày là không có. Xét thấy, trong quá trình giải quyết vụ án, ông T1 cũng không có văn bản trình bày là ông và bà T có tài sản chung và nợ chung nên Hội đồng xét xử không đề cập.

[5] Xét thấy quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là hoàn toàn phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận toàn bộ.

[6] Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: bà T phải chịu do bà T yêu cầu ly hôn.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

Về quan hệ hôn nhân: chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Nguyễn Thị Phương T. Bà Nguyễn Thị Phương T và ông Lê Thanh T1 được ly hôn với nhau.

Về con chung: Sau khi ly hôn, bà Nguyễn Thị Phương T được trực tiếp nuôi con chung là cháu Lê Thanh T2, sinh ngày 14/8/2022; ông Lê Thanh T1 không phải cấp dưỡng nuôi con do bà T không có yêu cầu.

Sau khi ly hôn, cha, mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình và các luật khác có liên quan. Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu người không trực tiếp nuôi con thực hiện các nghĩa vụ theo quy định tại Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình, yêu cầu người không trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình tôn trọng quyền được nuôi con của mình. Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: bà T trình bày là không có nên không xem xét giải quyết.

Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: bà Nguyễn Thị Phương T phải chịu 300.000 đồng nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0002582 ngày 06/6/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bến Tre nên bà không còn phải nộp thêm.

Án phí sung vào công quỹ Nhà nước.

Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa án tống đạt hợp lệ để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre xét xử phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bến Tre;
  • - VKSND TP Bến Tre;
  • - Chi cục THADS TP Bến Tre;
  • - UBND xã Sơn Hòa, huyện Châu Thành;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Ngọc Đạt

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 63/2024/HNGĐ-ST ngày 16/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN TRE – TỈNH BẾN TRE về ly hôn, tranh chấp nuôi con

  • Số bản án: 63/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN TRE – TỈNH BẾN TRE
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị Phương T ly hôn Lê Thanh T1
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger