|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỎ CÀY NAM TỈNH BẾN TRE |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 63/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 03-6-2024
V/v: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỎ CÀY NAM, TỈNH BẾN TRE
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Chí Nhân.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Sử Văn Trai Em;
- Ông Phan Văn Sơn.
Thư ký phiên tòa: Ông Đinh Nhật Trường – Thư ký Tòa án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỏ Cày Nam tham gia phiên tòa:
Bà Lê Thị Diệu – Kiểm sát viên.
Trong ngày 03 tháng 6 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 122/2024/TLST-HNGĐ, ngày 25 tháng 3 năm 2024, về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 182/2023/QĐXXST-HNGĐ, ngày 08 tháng 5 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 216/2024/QĐST-HNGĐ, ngày 22 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Lê Thị Hồng Đ, sinh năm 1986;
Địa chỉ: ấp A, xã Đ, huyện M, tỉnh Bến Tre, có đơn xin xét xử vắng mặt đề ngày 22/5/2024.
Bị đơn: Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1985;
Địa chỉ: ấp A, xã Đ, huyện M, tỉnh Bến Tre, đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để xét xử nhưng vắng mặt không có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, nguyên đơn Lê Thị Hồng Đ trình bày:
Chị Lê Thị Hồng Đ và anh Nguyễn Văn T tự nguyện kết hôn vào năm 2014, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện M, tỉnh Bến Tre.
Sau khi kết hôn, vợ chồng sống hạnh phúc một thời gian ngắn thì phát sinh nhiều mâu thuẫn nên vợ chồng ly thân đến nay không hàn gắn được.
Vợ chồng chị có một con chung tên Nguyễn Thiên K, sinh ngày 24/01/2015, hiện con đang sống chung với chị Đ.
Tài sản chung và nợ chung: Vợ chồng chị Đ không có tài sản chung và cũng không có nợ chung.
Do vợ chồng chị không còn tình cảm yêu thương nhau nữa nên chị Đ yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị ly hôn với anh T, chị không yêu cầu cấp dưỡng giữa vợ chồng.
Về con chung, chị Đ yêu cầu được trực tiếp nuôi con, không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.
Tài sản chung và nợ chung: không có nên không yêu cầu giải quyết.
Bị đơn Nguyễn Văn T vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng và không gửi cho Tòa án văn bản trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Phát biểu quan điểm về vụ án tại phiên tòa sơ thẩm, vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỏ Cày N nhận định:
Về tố tụng:
Tòa án thụ lý vụ án đúng thẩm quyền, xác định đúng và đầy đủ tư cách của những người tham gia tố tụng. Thẩm phán và những người tiến hành tố tụng đã tuân thủ đúng và đầy đủ các quy định của pháp luật tố tụng.
Về nội dung giải quyết:
Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 28, Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39, Điều 147, các điều 227 và 228 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Áp dụng các điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 và 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình;
Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Lê Thị Hồng Đ.
Về con chung: Giao cho chị Đ được quyền trực tiếp nuôi con, ghi nhận việc chị Đ không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.
Tài sản chung và nợ chung: không có nên không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Căn cứ vào yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Lê Thị Hồng Đ và nội dung tranh chấp cần phải giải quyết, Tòa án xác định đây là vụ án Hôn nhân và Gia đình về việc: “ Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” được quy định tại các điều 51, 56, 58 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 và Khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân.
Bị đơn Nguyễn Văn T hiện đang đăng ký thường trú và cư trú tại ấp A, xã Đ, huyện M nên căn cứ vào Điểm a Khoản 1 Điều 35 và Điểm a Khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Nam theo trình tự sơ thẩm.
Nguyên đơn Lê Thị Hồng Đ có đơn xin xét xử vắng mặt; bị đơn Nguyễn Văn T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để xét xử nhưng anh T vẫn vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử căn cứ vào Điểm b Khoản 2 Điều 227 và các khoản 1 và 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, vẫn tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự trong vụ án.
[2] Về nội dung giải quyết:
Xem xét, giải quyết yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Lê Thị Hồng Đ, Hội đồng xét xử xét thấy:
Chị Lê Thị Hồng Đ và anh Nguyễn Văn T tự nguyện kết hôn năm 2014, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện M, tỉnh Bến Tre nên hôn nhân của chị Đ và anh T là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận.
Sau khi kết hôn, chị Đ và anh T sống hạnh phúc một thời gian ngắn thì phát sinh nhiều mâu thuẫn nên ly thân đến nay không hàn gắn được, nguyên nhân theo chị Đ khai là do vợ chồng không hòa hợp dẫn đến đổ vỡ hạnh phúc gia đình. Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã triệu tập hai bên đương sự nhiều lần để hòa giải, hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng anh T không chấp hành, cho thấy anh T không có mong muốn hàn gắn và mâu thuẫn vợ chồng giữa chị Đ và anh T đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Đ. Các đương sự không có yêu cầu cấp dưỡng giữa vợ chồng nên không xem xét.
Về con chung: Vợ chồng chị Đ và anh T có một con chung tên Nguyễn Thiên K, sinh ngày 24/01/2015, hiện đang sống với chị Đ. Theo Biên bản lấy ý kiến của con chưa thành niên từ đủ 07 tuổi trở lên thì cháu Thiên K mong muốn được tiếp tục sống chung với Mẹ cháu nên Hội đồng xét xử giao cho chị Đ được quyền trực tiếp nuôi con.
Chị Đ không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
Tài sản chung và nợ chung: Vợ chồng chị Đ và anh T không có tài sản chung và không có nợ chung nên không xem xét.
[3] Về án phí: Chị Lê Thị Hồng Đ phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng.
Xét thấy quan điểm và đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa sơ thẩm là phù hợp với quy định của pháp luật nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 28, Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điểm b Khoản 2 Điều 227 và các khoản 1 và 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Áp dụng các điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 và 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ Điểm a Khoản 1 Điều 24 và Điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/ UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Lê Thị Hồng Đ.
Chị Lê Thị Hồng Đ được ly hôn với anh Nguyễn Văn T. Các đương sự không có yêu cầu cấp dưỡng giữa vợ chồng.
- Về con chung:
Chị Lê Thị Hồng Đ được quyền trực tiếp nuôi con tên Nguyễn Thiên K, sinh ngày 24/01/2015, hiện con chung đang sống chung với chị Đ.
Ghi nhận việc chị Đ không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.
Sau khi ly hôn, cha, mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình và các luật khác có liên quan. Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu người không trực tiếp nuôi con thực hiện các nghĩa vụ theo quy định tại Điều 82 Luật Hôn nhân và Gia đình, yêu cầu người không trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình tôn trọng quyền được nuôi con của mình. Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức quy định tại Khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con.
- Tài sản chung và nợ chung: không có nên không xem xét.
- Về án phí: Chị Lê Thị Hồng Đ phải nộp án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng nhưng được khấu trừ vào 300.000 đồng tạm ứng án phí mà chị Đ đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số: 0005271, ngày 22 tháng 3 năm 2024 của Chi cục thi hành án huyện Mỏ Cày Nam là đủ.
- Các đương sự đều vắng mặt tại phiên tòa, có quyền làm đơn kháng cáo Bản án trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ Bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre xét xử phúc thẩm.
|
Các Hội thẩm nhân dân |
Thẩm phán – chủ tọa phiên tòa |
|
Phan Văn Sơn – Sử Văn Trai Em |
Lê Chí Nhân |
Bản án số 63/2024/HNGĐ-ST ngày 03/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỎ CÀY NAM, TỈNH BẾN TRE về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 63/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 03/06/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỎ CÀY NAM, TỈNH BẾN TRE
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp Ly hôn
