Hệ thống pháp luật
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG
TỈNH QUẢNG NINH
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 63/2024/DS-ST

Ngày: 31 - 10 - 2024

V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng

NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG, TỈNH QUẢNG NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Cúc

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Lê Thu Thúy
  2. Ông Bùi Đức Nhân

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Lý - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên toà: Bà Trương Thị Khánh Ly - Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 10 năm 2024, tại Phòng xử án Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 253/2024/TLST-DS ngày 27 tháng 6 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 217/2024/QĐXXST-DS ngày 24 tháng 9 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 222/2024/QÐST-DS ngày 15 tháng 10 năm 2024 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần () P (OCB); địa chỉ: số D & D đường L, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Nguyễn Thế M - chức vụ: chuyên viên cao cấp thu hồi; ông Trương Tuấn H - chức vụ: chuyên viên thu hồi nợ; địa chỉ nơi làm việc: ô số C, ô số D lô A-khu nhà ở kết hợp dịch vụ thương mại thấp tầng đường 25 tháng 4, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh là người đại diện theo ủy quyền theo giấy ủy quyền số 06/2024/UQ-OCB ngày 20/5/2024; có mặt.

  1. Bị đơn: Anh Nguyễn Trung K, sinh năm 1977; nơi cư trú: tổ B, khu E, phường V, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1. Theo đơn khởi kiện; bản tự khai trong quá trình giải quyết vụ án - người đại diện hợp pháp của nguyên đơn Ngân hàng TMCP P khai:

Ngân hàng TMCP P với anh Nguyễn Trung K đã thỏa thuận ký Hợp đồng tín dụng số 0002/2022/HĐTD/OCB-CN ngày 04/01/2022 và Khế ước nhận nợ số 0002/2022/KUNN/OCB-CN ngày 04/01/2022 để vay vốn tại Ngân hàng, chi tiết như sau:

  • + số tiền vay: 520.000.000 đồng.
  • + mục đích vay: mua ô tô tiêu dùng.
  • + thời hạn vay: 96 tháng kể từ ngày tiếp theo của ngày giải ngân đầu tiên; ngày đến hạn trả nợ cuối cùng là ngày 05/01/2030.
  • + lãi suất vay trong hạn: áp dụng lãi suất cố định 10,1%/năm trong 12 tháng đầu và từ tháng 13 trở đi áp dụng lãi suất cho vay điều chỉnh định kỳ 06 tháng/lần. Kỳ điều chỉnh lần đầu tiên vào ngày 05/01/2023 với công thức tính lãi như sau: lãi suất cho vay điều chỉnh = lãi suất cơ sở + biên độ tối thiểu (lãi suất cơ sở là lãi suất cơ sở kỳ hạn 13 tháng theo biểu lãi suất được Ngân hàng TMCP P ban hành từng thời kỳ; biên độ tối thiểu: 3,9%/năm).
  • + lãi suất quá hạn: bằng 150% lãi suất vay trong hạn.
  • + trả nợ gốc: bên vay trả nợ gốc cho ngân hàng theo định kỳ hàng tháng cào ngày 05 của tháng. Số tiền trả đều mỗi kỳ là 5.416.000 đồng, riêng kỳ cuối cùng số tiền trả là 5.480.000 đồng. Kỳ trả nợ gốc đầu tiên vào ngày 05/02/2022.
  • + trả nợ lãi: bên vay trả tiền lãi vay cho Ngân hàng TMCP P theo định kỳ 01 tháng/lần vào ngày 05 của tháng theo dư nợ thực tế. Kỳ trả lãi đầu tiên vào ngày 05/02/2022.

Quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng anh Nguyễn Trung K đã chậm thanh toán cho ngân hàng. Ngân hàng đã nhiều lần làm việc, nhắc nợ nhưng anh K không thực hiện vì vậy anh K đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng tín dụng đã ký kết với Ngân hàng TMCP P.

Ngân hàng TMCP P kính khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết:

  • + Chấm dứt Hợp đồng tín dụng số 0002/2022/HĐTD/OCB-CN ngày 04/01/2022 Ngân hàng TMCP P với anh Nguyễn Trung K.
  • + buộc anh Nguyễn Trung K trả cho Ngân hàng TMCP P tổng số nợ tính đến ngày 03/6/2024 là 441.413.646 đồng, trong đó: nợ gốc là 405.508.816 đồng, lãi 35.904.830 đồng và tiền lãi phát sinh theo hợp đồng tín dụng đã ký kết cho đến khi anh K hoàn thành nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng TMCP P.
  • + Ngân hàng TMCP P không đề nghị giải quyết Hợp đồng thế chấp.

Do người đại diện hợp pháp của nguyên đơn có đơn đề nghị Toà án không tiến hành hoà giải nên căn cứ vào khoản 4 Điều 207 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Toà án lập biên bản về việc không tiến hành hoà giải được và đưa vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật.

2. Trong quá trình chuẩn bị xét xử, bị đơn anh Nguyễn Trung K đã được tòa án thông báo tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng anh K không cung cấp lời khai và không cung cấp các tài liệu chứng cứ cho Tòa án. Tòa án đã thông báo về việc kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ, đã tống đạt cho anh K nhưng anh K đều vắng mặt nên không tiến hành được.

3. Tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày: ngày 17/01/2024, Ngân hàng đã ra thông báo số 0117/2024/TB-OCB về việc chuyển nợ quá hạn và thu hồi nợ trước hạn, theo đó “ tính đến ngày 16/01/2024 dư nợ của anh Nguyễn Trung K tại Ngân hàng TMCP P như sau: dư nợ cho vay: 520.000.000 đồng; dư nợ hiện tại: 420.078.031 đồng; nợ gốc quá hạn: 15.492.816 đồng; tiền lãi quá hạn: 14.569.215 đồng; tổng số tiền quá hạn phải thanh toán: 30.062.031 đồng ... Đề nghị anh K thanh toán toàn bộ nợ quá hạn trong thời hạn 05 ngày kể từ ngày nhận được thông báo. Nếu anh K không thực hiện thì Ngân hàng sẽ chuyển toàn bộ khoản nợ thành nợ quá hạn và tiến hành các biện pháp thu hồi toàn bộ khoản nợ theo quy định”. Như vậy, theo thông báo trên Ngân hàng có quyền tính lãi quá hạn đối với toàn bộ dư nợ còn lại nhưng đến nay Ngân hàng chỉ tính nợ quá hạn đối với phần nợ gốc quá hạn theo kỳ đến hạn.

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện đối với số tiền nợ gốc của Hợp đồng tín dụng là 405.508.816 đồng, thay đổi yêu cầu về lãi tính đến ngày 31/10/2024 là: 58.296.236 đồng; trong đó: lãi trong hạn là 49.386.431 đồng, lãi quá hạn là 6.283.071 đồng, lãi chậm trả là 2.626.734 đồng. Giữ nguyên yêu cầu khởi kiện về việc không yêu cầu xử lý hợp đồng thế chấp.

4. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án như sau:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng, Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử sơ thẩm và Thư ký phiên toà đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ các quyền, nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại Điều 70, 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự; bị đơn chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo các Điều 70, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP P.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên toà, trên sơ sở kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

  • - Về quan hệ pháp luật có tranh chấp: Ngân hàng TMCP P khởi kiện yêu cầu Toà án buộc anh Nguyễn Trung K phải trả cho Ngân hàng toàn bộ nợ gốc và nợ lãi theo Hợp đồng tín dụng đã ký kết. Toà án xác định quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án là “tranh chấp hợp đồng tín dụng” là phù hợp với quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự.
  • - Về thẩm quyền giải quyết của Tòa án: bị đơn trong vụ án là anh Nguyễn Trung K; cư trú tại tổ B, khu E, phường V, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
  • - Về sự vắng mặt của bị đơn – anh Nguyễn Trung K: đối với bị đơn, sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các thủ tục tố tụng cho bị đơn theo quy định tại Chương X của Bộ luật Tố tụng dân sự như thông báo về việc thụ lý vụ án; giấy triệu tập; thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ; thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ; quyết định đưa vụ án ra xét xử; quyết định hoãn phiên tòa cho bị đơn – anh Nguyễn Trung K nhưng anh K không đến Tòa án để làm việc. Việc không đến Tòa án theo thông báo thể hiện sự cố tình không chấp hành pháp luật của anh K. Do anh Nguyễn Trung K vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai dù đã được triệu tập hợp lệ, Hội đồng xét xử căn cứ vào quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị đơn.
  • - Về phạm vi giải quyết yêu cầu của đương sự: Ngày 08/3/2024, Ngân hàng TMCP P khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng - khách hàng cá nhân số 0002/2022/HĐTD/OCB-CN ngày 04/01/2022 với anh Nguyễn Trung K, không yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp Hợp đồng thế chấp xe ô tô số 0002/2022/BĐ ngày 04/01/2022 được ký kết giữa Ngân hàng với anh K. Do đó, Tòa án chỉ giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng giữa các đương sự là phù hợp với quyền tự quyết định và định đoạt của đương sự quy định tại Điều 5 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
  • - Về việc nguyên đơn thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện: việc nguyên đơn thay đổi yêu cầu khởi kiện về phần lãi tính đến ngày xét xử sơ thẩm không vượt quá phạm vi yêu cầu khởi kiện ban đầu nên được Tòa án chấp nhận là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung:

[2.1] Về hiệu lực của hợp đồng đã giao kết giữa các bên: Hợp đồng tín dụng số 0002/2022/HĐTD/OCB-CN ngày 04/01/2022 giữa Ngân hàng TMCP P với anh Nguyễn Trung K được ký kết trên cơ sở tự nguyện, hình thức và nội dung của hợp đồng tuân thủ đúng các quy định của pháp luật nên căn cứ Điều 117 của Bộ luật Dân sự, giao dịch trên có hiệu lực pháp luật. [2.2] Xét yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP P yêu cầu trả tiền gốc và lãi còn nợ của Hợp đồng tín dụng số 0002/2022/HĐTD/OCB-CN ngày 04/01/2022 thì thấy:

Tại khoản 2 Điều 1 Hợp đồng tín dụng các bên thỏa thuận thời hạn vay là 96 tháng, tính từ ngày 05/01/2022 đến ngày 05/01/2030. Tại giấy đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ ngày 05/01/2022 thể hiện, Ngân hàng giải ngân số tiền vay 520.000.000 đồng; phương thức giải ngân một lần và chuyển khoản vào số tài khoản 0141000288999 của Công ty cổ phần C (công ty nơi anh K mua xe ô tô theo hợp đồng mua bán số 24210831) tại Ngân hàng TMCP N-CN Quảng Ninh. Các kỳ trả nợ gốc: khách hàng phải trả nợ gốc cho Ngân hàng TMCP P theo định kỳ 01 tháng/lần vào ngày 05, kỳ trả nợ gốc đầu tiên vào ngày 05/02/2022. Số tiền nợ gốc mà khách hàng phải trả mỗi kỳ là: 5.416.000 đồng, riêng kỳ cuối cùng trả 5.480.000 đồng; các kỳ trả nợ lãi: khách hàng phải trả tiền lãi cho ngân hàng theo định kỳ 01 tháng/lần, vào ngày 05 hàng tháng. Kỳ trả nợ lãi đầu tiên vào ngày 05/02/2022.

Quá trình thực hiện hợp đồng trên, anh Nguyễn Trung K đã thanh toán cho Ngân hàng TMCP P tổng số tiền là: 214.903.464 đồng, trong đó nợ gốc là: 114.491.184 đồng, nợ lãi là 100.412.280 đồng. Ngày 06/10/2023, anh K đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ. Ngày 17/01/2024, Ngân hàng đã ra thông báo số 0117/2024/TB-OCB về việc chuyển nợ quá hạn và thu hồi nợ trước hạn. Căn cứ theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 8 hợp đồng tín dụng thì Ngân hàng TMCP P có quyền khởi kiện yêu cầu anh K phải trả cả tiền gốc và tiền lãi trước thời hạn là đúng với thỏa thuận của các bên.

Tại đơn khởi kiện và tại phiên tòa, Ngân hàng TMCP P giữ nguyên quan điểm khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc anh K phải trả cho Ngân hàng TMCP P tổng số tiền tính đến ngày 31/10/2024 là: 463.805.052 đồng, trong đó: tiền gốc là 405.508.816 đồng, lãi trong hạn là 49.386.431 đồng, lãi quá hạn là 6.283.071 đồng, lãi chậm trả 2.626.734 đồng.

Hội đồng xét xử xét thấy: việc Ngân hàng khởi kiện đối với anh K, yêu cầu Tòa án giải quyết buộc phải thanh toán toàn bộ các khoản nợ phát sinh (bao gồm cả thu hồi các khoản nợ gốc trước hạn) theo Hợp đồng tín dụng số 0002/2022/HĐTD/OCB-CN ngày 04/01/2022 là phù hợp với thỏa thuận tại hợp đồng đã ký kết giữa các đương sự; phù hợp với quy định tại Điều 100, 103 Luật các tổ chức tín dụng; các Điều 463, 466, 468 Bộ luật Dân sự nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[3] Về án phí dân sự sơ thẩm: do yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP P được Toà án chấp nhận, nên anh Nguyễn Trung K phải nộp án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 1 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự, khoản 1 Điều 6 và khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Trả lại Ngân hàng TMCP P số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

[4] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm theo quy định tại Điều 271 và khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, khoản 1 Điều 244, Điều 271 và khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 117, 317, 318, 319, 463, 466, 468, 688 Bộ luật Dân sự; Điều 100, 103 Luật các tổ chức tín dụng; Điều 7, Điều 8, điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm; khoản 1 Điều 6, khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP P. Chấm dứt Hợp đồng tín dụng số 0002/2022/HĐTD/OCB-CN ngày 04/01/2022 được ký kết giữa Ngân hàng TMCP P với anh Nguyễn Trung K.

Buộc anh Nguyễn Trung K phải trả cho Ngân hàng TMCP P tổng số tiền tính đến ngày 31/10/2024 là: 463.805.052đ (bốn trăm sáu mươi ba triệu, tám trăm linh năm nghìn, không trăm năm mươi hai đồng); trong đó: nợ gốc là 405.508.816đ (bốn trăm linh năm triệu, năm trăm linh tám nghìn, tám trăm mười sáu đồng), lãi trong hạn là 49.386.431đ (bốn mươi chín triệu, ba trăm tám mươi sáu nghìn, bốn trăm ba mươi mốt đồng), lãi chậm trả là 2.626.734đ (hai triệu, sáu trăm hai mươi sáu nghìn, bảy trăm ba mươi tư đồng).

Kể từ ngày tiếp theo ngày xét xử sơ thẩm (31/10/2024) cho đến khi thi hành án xong, anh Nguyễn Trung K còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quá hạn các bên thoả thuận trong Hợp đồng tín dụng số 0002/2022/HĐTD/OCB-CN ngày 04/01/2022 được ký kết giữa Ngân hàng TMCP P với anh Nguyễn Trung K nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật.

Trường hợp trong hợp đồng cho vay các bên có thỏa thuận về điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của ngân hàng thì lãi suất mà anh Nguyễn Trung K phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng TMCP P theo quyết định của Tòa án cũng được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của ngân hàng.

2. Về án phí: Anh Nguyễn Trung K phải chịu 22.552.000đ (hai mươi hai triệu, năm trăm năm mươi hai nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

Trả lại Ngân hàng TMCP P số tiền 10.828.000đ (mười triệu, tám trăm hai mươi tám nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000971 ngày 27/6/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh.

3. Về quyền kháng cáo: Ngân hàng TMCP P có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; anh Nguyễn Trung K có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Hạ Long;
  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh;
  • - Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Thị Cúc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 63/2024/DS-ST ngày 31/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG, TỈNH QUẢNG NINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 63/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 31/10/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG, TỈNH QUẢNG NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger