Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ SA ĐÉC

TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 63/2024/DS-ST

Ngày: 23-7-2024

V/v Tranh chấp đòi lại tài sản.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Minh Trí

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Ngô Thị Mỹ Lợi

Bà Nguyễn Thị Nhàn

Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Kim Kiều - Cán bộ Tòa án.

Đại diện Viện Kiểm sát Nhân dân thành phố Sa Đéc tham gia phiên tòa:

Ông Lê Tiến Trung - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc, tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 161/2024/TLST-DS ngày 22 tháng 5 năm 2024 về việc “Tranh chấp đòi lại tài sản” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 84/2024/QĐXXST-DS ngày 02 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Huỳnh Hữu K, sinh năm 1969;

Địa chỉ: Số C P, khóm C, phường C, thành phố S, tỉnh Đ.

Bị đơn: Ông Nguyễn Đắc L, sinh năm 1957;

Địa chỉ: Số C P, khóm C, phường C, thành phố S, tỉnh Đ.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Đặng Thị Hồng H, sinh năm 1973;

Địa chỉ: Số C P, khóm C, phường C, thành phố S, tỉnh Đ.

(Các đương sự có mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, các lời khai trong quá trình giải quyết cũng như tại phiên tòa nguyên đơn ông Huỳnh Hữu K trình bày:

Từ năm 1999 vợ chồng ông K, bà H có thuê nhà của bà Dương Thị C tại địa chỉ số C P, khóm C, phường C, thành phố S để ở trọ, hợp đồng thuê nhà không lập thành văn bản mà chỉ thỏa thuận miệng, giá thuê 400.000đ/1 tháng, không thỏa thuận thời gian thuê. Khi vào thuê trọ nhà bà C thì ông K có biết phần đất cất nhà là do ông Nguyễn Đắc L đứng tên quyền sử dụng đất.

Theo thỏa thuận bà C cho ông K thuê phần nhà phía sau, còn phần nhà phía trước để bà C ở. Trong thời gian ở trọ nhà bà C thì ông K và bà C có kết nghĩa chị em. Do ở chung nhà, bà C thường xuyên bị bệnh nên vợ chồng ông K có chăm sóc cho bà C lúc bệnh từ năm 1999 đến khi bà C chết năm 2017.

Sau khi bà C chết, do ông Nguyễn Đắc L là em chồng bà C và phần đất cất nhà do ông L đứng tên QSDĐ nên ông K có thỏa thuận với ông Nguyễn Đắc L thuê tiếp căn nhà trên để ở trọ với giá là 500.000đ/1 tháng và đóng tiền thuê trọ hàng tháng cho ông L từ năm 2017 cho tới nay.

Trước đó, khi bà C còn sống có thu tiền thuê nhà hàng tháng của ông K thời gian khoảng 3 năm đầu, sau đó đến khoảng năm thứ tư do thấy ông K bỏ công chăm sóc mỗi khi bà C bị bệnh nên bà C cho ở mà không lấy tiền trọ để bù lại công ông K chăm sóc cho bà C. Khi đó bà C có nói cho ông K ở không lấy tiền.

Quá trình ở trọ do thấy căn nhà xuống cấp nên ông K có nói bà C cho ông K sửa nhà thì bà C nói bà C cho ở không lấy tiền, nhà hư có tiền thì sửa để ở. Cho nên vào năm 2010 ông K có xuất tiền để sửa nhà như thay thế khung gỗ, thay mái tol, lót gạch tàu, sửa lại nhà tắm, chi phí tổng cộng 19.000.000đ. Ngoài ra, không còn sửa chữa gì khác. Ông K xác định việc sửa nhà không có chứng từ gì.

Hiện nay dự án nhà ở xã hội và Trung tâm thương mại P1 có giải tỏa, đền bù căn nhà mà ông K ở trọ nên ông K có thỏa thuận với ông L về việc tiền bồi thường đất do ông L nhận; còn tiền bồi thường nhà, vật kiến trúc và tiền chính sách hỗ trợ đời sống, thuê chỗ ở tạm do ông K nhận, nhưng thỏa thuận để cho ông L nhận xong rồi đưa lại cho ông K. Việc thỏa thuận trên hai bên chỉ nói miệng, không có lập thành văn bản, cũng không có người nào khác chứng kiến. Tuy nhiên, ông L đã không thực hiện như đã thỏa thuận, mà sau khi nhận toàn bộ tiền nhà nước bồi thường xong, ông L không đưa lại cho ông K.

Hiện hợp đồng thuê nhà giữa ông K và ông L hai bên đã thỏa thuận chấm dứt kể từ thời điểm nhà nước giải tỏa nhà, thu hồi đất. Ông K không có tranh chấp về hợp đồng thuê nhà, cũng không có tranh chấp gì về nhà, đất với ông L vì nhà nước đã bồi thường xong. Hiện nay gia đình ông K đã di dời tài sản đến nơi khác để sinh sống.

Trong đơn khởi kiện ông Huỳnh Hữu K yêu cầu ông Nguyễn Đắc L trả lại cho ông K số tiền nhà nước đền bù nhà 50.508.080đ; vật kiến trúc 33.814.846đ; và tiền hỗ trợ 21.280.000đ, tổng cộng 105.602.926đ. Nay ông K thay đổi yêu cầu khởi kiện đối với số tiền hỗ trợ 21.280.000đ, cụ thể trong số tiền hỗ trợ 21.280.000đ có 4.000.000đ hỗ trợ di dời mồ mã của người thân ông L nên ông K không yêu cầu. Do đó, tiền hỗ trợ ông K yêu cầu còn lại là 17.280.000đ. Nay ông K yêu cầu ông L trả lại số tiền 101.602.926đ (Một trăm lẽ một triệu sáu trăm lẽ hai ngàn chín trăm hai mươi sáu đồng), không yêu cầu tính lãi. Ngoài ra, ông K không có yêu cầu gì thêm.

Bị đơn ông Nguyễn Đắc L trình bày:

Căn nhà mà ông K ở trọ là nhà của ông L, phần đất cất nhà do ông L đứng tên quyền sử dụng đất thuộc thửa 56, tờ bản đồ 11, do Ủy ban nhân dân thị xã S (Nay là thành phố S) cấp cho ông L ngày 09/7/2004. Trước đó căn nhà do vợ chồng người anh của ông L (ông Nguyễn Tấn P) ở, năm 1999 ông P chết, đến năm 2000 thì bà C là vợ thứ của ông P có nói với ông L cho ông K ở trọ để lấy tiền nhang khói cho ông P nên ông L đồng ý cho ông K thuê ở trọ. Đến năm 2017 bà C chết, ông L tiếp tục cho ông K thuê mỗi tháng 400.000đ, sau tăng lên 500.000đ cho đến khi nhà nước thu hồi đất của ông L.

Trong suốt thời gian ông K thuê việc ông K có sửa nhà hay không thì ông L không biết vì ông K không có nói với ông L. Ông K là người thuê nhà để ở nếu muốn sửa chữa gì phải báo với ông L, phải được sự đồng ý của ông L nhưng ông K không có nói với ông L về việc sửa nhà. Ông L cũng không có hứa hẹn hay thỏa thuận gì với ông K về việc nhận tiền bồi thường của nhà nước rồi đưa lại ông K như ông K đã trình bày. Hiện hợp đồng thuê nhà giữa ông K và ông L hai bên đã thỏa thuận chấm dứt kể từ thời điểm nhà nước thu hồi đất. Các bên không có tranh chấp về hợp đồng thuê nhà. Theo ông L thừa nhận toàn bộ số tiền bồi thường 979.830.026đ (trong đó: Đất: 866.131.100đ; Nhà ở: 50.508.080đ; Vật kiến trúc: 33.814.846đ; Cây trồng: 8.096.000đ; Chính sách hỗ trợ: 21.280.000₫) ông L đã nhận xong.

Nay ông L không đồng ý toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông K, không đồng ý đưa lại số tiền 101.602.926đ như ông K đã yêu cầu. Ông L tự nguyện cho ông K toàn bộ xác nhà cùng toàn bộ vật dụng trong nhà. Ngoài ra, ông L không có yêu cầu hay ý kiến gì thêm.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Đặng Thị Hồng H trình bày:

Bà H là vợ ông K, bà H cùng ở trọ tại nhà bà C với ông K. Bà H thống nhất với yêu cầu của ông K. Bà H không có yêu cầu gì trong vụ kiện.

* Ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa:

  • - Về việc chấp hành pháp luật tố tụng: Kể từ khi thụ lý vụ án cho đến khi xét xử và tại phiên tòa hôm nay, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa cũng như các đương sự đều thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự (BLTTDS).
  • - Về nội dung vụ án: Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX) không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
  • - Về án phí: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên đương sự chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Căn cứ nội dung khởi kiện của ông Huỳnh Hữu K yêu cầu ông Nguyễn Đắc L trả lại số tiền nhà nước bồi thường tài sản mà ông L đã nhận nên xác định quan hệ pháp luật là “Tranh chấp đòi lại tài sản”; vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc theo quy định tại khoản 2 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm c khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung vụ án:

Qua chứng cứ thấy rằng: cả nguyên đơn và bị đơn đều thừa nhận ông K là người ở trọ nhà của bà C từ năm 1999, sau khi bà C chết (năm 2017) thì ông K tiếp tục thỏa thuận với ông L thuê căn nhà để tiếp tục ở trọ và đóng tiền thuê trọ hàng tháng cho ông L từ năm 2017 cho đến khi nhà nước thu hồi đất, hai bên thỏa thuận chấm dứt hợp đồng thuê vào năm 2023. Căn nhà mà ông K thuê trọ cất trên thửa đất 56, tờ bản đồ 11 do ông L đứng tên quyền sử dụng đất. Đây là tình tiết, sự kiện các bên cùng thừa nhận nên không cần chứng minh theo Điều 92 của BLTTDS.

Ông K trình bày quá trình ở trọ bà C có cho ông K sửa nhà, tuy nhiên ông K không có tài liệu, chứng cứ để chứng minh về việc chi phí sửa nhà 19.000.000₫ như ông K trình bày. Mặt khác, việc ông K có sửa nhà như ông K thừa nhận là để phục vụ cho việc ở trọ của ông K, bà C không có yêu cầu ông K sửa nhà, đây hoàn toàn là sự tự nguyện của bên ông K, bà C cũng không hứa hẹn sẽ trả lại chi phí sửa nhà cho ông K.

Ngoài ra, ông K và ông L cùng thừa nhận phần đất cất nhà do ông L đứng tên QSDĐ hiện nay nhà nước đã thu hồi toàn bộ để đầu tư xây dựng dự án Trung tâm thương mại dịch vụ và kết hợp nhà ở bến phà S. Theo Quyết định số 71/QĐ-UBND-HC ngày 07/4/2023 của UBND thành phố S đã thu hồi 614,7m² đất thuộc thửa 56, tờ bản đồ 11, đất cây lâu năm tọa lạc tại phường C, thành phố S của hộ ông Nguyễn Đắc L. Tại Quyết định số 92/QĐ.HĐ BTHT&TĐC ngày 30/5/2023 của Hội đồng bồi thường hỗ trợ và tái định cư thành phố S đã quyết định bồi thường cho hộ ông Nguyễn Đắc L các khoản: Đất: 866.131.100đ; Nhà ở: 50.508.080đ; Vật kiến trúc: 33.814.846đ; Cây trồng: 8.096.000đ; Chính sách hỗ trợ: 21.280.000đ, tổng cộng 979.830.026đ. Theo ông L thừa nhận toàn bộ số tiền bồi thường trên (979.830.026đ) ông L đã nhận xong. Bản chính giấy chứng nhận QSDĐ ông L cũng đã giao nộp lại cho cơ quan có thẩm quyền để thu hồi.

[3] Tại Điều 91 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 quy định:

Nghĩa vụ chứng minh: “1. Đương sự có yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình phải thu thập, cung cấp, giao nộp cho Tòa án tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu đó là có căn cứ và hợp pháp...”.

................

Hội đồng xét xử xét thấy: ông K không có chứng cứ gì chứng minh căn nhà bị nhà nước giải tỏa là của ông K, cũng không chứng minh được có chi phí sửa nhà; ông K trình bày ông L có thỏa thuận nhận tiền xong đưa lại cho ông K các khoản bồi thường nhà, vật kiến trúc, tiền hỗ trợ nhưng cũng không có tài liệu, chứng cứ chứng minh; phía ông L cũng không thừa nhận. Trong khi ông K thừa nhận thuê nhà để ở trọ và đóng tiền thuê hàng tháng cho bà C sau là ông L, quyền sử dụng đất là do ông L đứng tên. Do đó, Hội đồng xét xử không có sơ sở xem xét để chấp nhận yêu cầu của ông K.

Đối với hợp đồng thuê nhà trọ các bên xác định đã chấm dứt, không có tranh chấp nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[4] Từ những phân tích trên, HĐXX không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Huỳnh Hữu K về việc yêu cầu ông Nguyễn Đắc L trả lại cho ông K số tiền nhà nước đền bù nhà 50.508.080đ; vật kiến trúc 33.814.846đ; tiền hỗ trợ 17.280.000đ. Tổng cộng 101.602.926đ (Một trăm lẽ một triệu sáu trăm lẽ hai ngàn chín trăm hai mươi sáu đồng).

[5] Qua ý kiến của đại diện Viện kiểm sát: Về nội dung vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn là phù hợp với quy định của pháp luật; đúng tình tiết, nội dung vụ án nên Hội đồng xét xử thống nhất.

[6] Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Huỳnh Hữu K chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm do yêu cầu khởi kiện không được chấp nhận theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 2 Điều 26; khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; các điều 91, 92, 147 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 166 Bộ luật dân sự năm 2015;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Tuyên xử:

  1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Huỳnh Hữu K về việc yêu cầu bị đơn ông Nguyễn Đắc L trả lại cho ông K số tiền nhà nước đền bù nhà 50.508.080đ; vật kiến trúc 33.814.846đ và tiền hỗ trợ 17.280.000đ. Tổng cộng 101.602.926đ (Một trăm lẽ một triệu sáu trăm lẽ hai ngàn chín trăm hai mươi sáu đồng).
  2. Về án phí: Ông Huỳnh Hữu K nộp 5.080.000₫ (lấy số tròn) án phí dân sự sơ thẩm, được trừ vào tiền tạm ứng án phí ông K đã nộp 2.640.000đ theo biên lai số 0004199 ngày 22/5/2024 của Chi cục Thi hành án thành số Sa Đéc. Sau khi khấu trừ ông K còn phải nộp tiếp 2.440.000đ án phí dân sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Trong hạn 15 ngày, kể từ ngày hôm nay tuyên án, các đương sự được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp.

Nơi nhận:

- Đương sự;

- Viện Kiểm sát TP. Sa Đéc;

- Tòa án Tỉnh;

- Chi cục Thi hành án TP Sa Đéc;

- Lưu văn thư, hồ sơ vụ án;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Trần Minh Trí

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 63/2024/DS-ST ngày 23/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC, TỈNH ĐỒNG THÁP về tranh chấp đòi lại tài sản

  • Số bản án: 63/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp đòi lại tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/07/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC, TỈNH ĐỒNG THÁP
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: yêu cầu bên a trả lại số tiền đền bù
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger