|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG MỸ TỈNH HẬU GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
|
|
Bản án số: 63/2024/DS-ST Ngày: 20 – 9 – 2024 V/v Tranh chấp hợp đồng tín dụng |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG MỸ, TỈNH HẬU GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Ngọc Thới Phần.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Phạm Ngọc Anh.
- Bà Trần Thị Út .
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Huỳnh Mỹ Phương - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang tham gia phiên toà: Bà Võ Huỳnh Anh Thư - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 39/2024/TLST-DS ngày 02 tháng 5 năm 2024 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 130/2024/QĐXXST-DS ngày 28 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 117/2024/QĐST-DS ngày 11 tháng 9 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần P (Ngân hàng TMCP P).
- Bị đơn: Anh Lê Văn N, sinh năm: 1988 (vắng mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Trần Kiến T1, sinh năm: 1985 (vắng mặt).
Địa chỉ trụ sở: Số D L, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo pháp luật của nguyên đơn: Ông Trịnh Văn T – Chức vụ: Chủ tịch Hội đồng Quản trị. Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Thiệu Ánh D – Trưởng Phòng xử lý nợ.
Địa chỉ: Tầng B, Tòa nhà T, A T, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. (Theo Quyết định ủy quyền số 15/2024/UQ-CT.HĐQT ngày 06/5/2024 của Chủ tịch Hội đồng Quản trị Ngân hàng TMCP P).
Người được ông Thiệu Ánh D ủy quyền lại: Chị Lê Thị Như Q, sinh năm: 1994 (có mặt).
Địa chỉ liên hệ: Tầng B, Tòa nhà T, A T, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. (Theo giấy ủy quyền số 577.01/2024/UQ-OCB ngày 24 tháng 7 năm 2024).
Địa chỉ: Ấp B, thị trấn V, huyện L, tỉnh Hậu Giang.
Địa chỉ: Số D, ấp L, xã H, huyện Đ, tỉnh Long An.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn Ngân hàng TMCP P chị Lê Thị Như Q trình bày:
Ngân hàng TMCP P có ký kết Hợp đồng tín dụng số ST21009587/2021/PKH/HĐTD ngày 16/4/2021 và Khế ước nhận nợ số ST21009587/PKH/KUNN ngày 22/4/2021 với anh Lê Văn N cụ thể như sau:
Anh Lê Văn N vay của Ngân hàng TMCP P số tiền là 635.000.000 đồng; Mục đích vay: Vay mua bất động sản. Thời hạn vay: 240 tháng kể từ ngày 22/4/2021 đến hết ngày 22/4/2041; Lãi suất cho vay: 8,3% năm cố định trong 12 tháng đầu. Từ tháng thứ 13 trở đi, lãi suất cho vay điều chỉnh định kỳ 06 tháng/lần. Biên độ lãi suất tối thiểu 3,5%/năm; Lãi suất quá hạn là 150% lãi suất trong hạn; Thời hạn trả nợ gốc: Bên vay trả nợ gốc theo định kỳ hàng tháng vào ngày 05 của tháng, số tiền mỗi kỳ là 2.646.000 đồng, kỳ trả nợ gốc đầu tiên vào 05/6/2021; Thời hạn trả lãi: Trả định kỳ 01 tháng/lần vào ngày 05 của tháng theo dư nợ thực tế, kỳ trả nợ lãi đầu tiên vào ngày 05/6/2021; Số tiền gốc đã trả: 52.920.000 đồng; lãi trong hạn đã trả 101.489.951 đồng; Khoản vay trên đã chuyển quá hạn kể từ ngày 05/02/2023.
Để đảm bảo cho khoản vay trên thì anh Lê Văn N đã thế chấp quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở thuộc thửa đất số 751, tờ bản đồ số 19, phần đất tại ấp L, xã H, huyện Đ, tỉnh Long An theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CX 307364, số vào sổ cấp GCN: CS 05016 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L cấp ngày 29/7/2020, cập nhật thông tin chuyển nhượng ngày 24/3/2021.
Tài sản bảo đảm đã được thế chấp theo hợp đồng thế chấp số ST21009587/2021/PKH/HĐTC ngày 16/4/2021 tại Văn phòng C, tỉnh Long An số công chứng 4196, quyển số: 04/2021TP/CC-SCC/HĐGD đã được đăng ký thế chấp theo quy định.
Trong quá trình thực hiện hợp đồng anh N đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng tín dụng và khế ước nhận nợ. Ngân hàng đã nhiều lần đôn đốc, nhắc nhở anh Lê Văn N trả nợ nhưng anh không thực hiện nghĩa vụ trả nợ.
Dư nợ tạm tính đến ngày 06/11/2023 là 652.474.073 đồng, trong đó:
- Nợ gốc: 582.080.000 đồng.
- Nợ lãi là: 70.394.000 đồng.
Dư nợ tạm tính đến ngày xét xử là ngày 20/9/2024 là 723.398.910 đồng, trong đó:
- Nợ gốc: 582.080.000 đồng.
- Lãi trong hạn: 127.913.648 đồng.
- Lãi quá hạn: 13.405.262 đồng.
Nay ngân hàng yêu cầu anh Lê Văn N trả cho Ngân hàng số tiền còn nợ tạm tính đến ngày 20/9/2024 là 723.398.910 đồng. Đồng thời yêu cầu tính lãi suất phát sinh theo hợp đồng tín dụng trên tổng số nợ gốc cho đến ngày anh N thanh toán dứt nợ. Trong trường hợp anh N không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng được quyền yêu cầu phát mãi tài sản thế chấp để thu hồi nợ.
Trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn Lê Văn N đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt không có lý do nên không ghi nhận được lời trình bày của anh N.
Trong quá trình giải quyết vụ án người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Trần Kiến T1 trình bày:
Do là bạn bè nên anh Trần Kiến T1 có vay của anh Lê Văn N số tiền 250.000.000 đồng, lãi suất 2%/tháng, khi vay không thỏa thuận thời hạn trả và cũng không có làm hợp đồng. Khi vay tiền anh N có yêu cầu anh T1 chuyển nhượng phần đất tại thửa đất số 751, tờ bản đồ số 19, phần đất tại ấp L, xã H, huyện Đ, tỉnh Long An do anh T1 đứng tên sang cho anh N thì anh N mới cho vay tiền. Khi đó anh T1 cũng đồng ý nên đã thực hiện thủ tục chuyển nhượng phần đất sang cho anh N đứng tên. Anh T1 và anh N thỏa thuận khi nào anh T1 trả tiền thì báo cho anh N trước 01 tháng để anh N thực hiện thủ tục sang tên phần đất lại cho anh T1. Sau khi sang tên phần đất qua cho anh N thì anh N sử dụng phần đất này thế chấp để vay của Ngân hàng TMCP P thì anh T1 không hay biết. Trong vụ kiện này anh T1 không có yêu cầu độc lập. Anh T1 sẽ liên hệ với anh N để thỏa thuận. Trường hợp không thỏa thuận được anh sẽ khởi kiện anh N thành vụ kiện khác.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang trình bày quan điểm như sau:
Về thủ tục tố tụng:
Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký, các đương sự đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ Luật tố tụng dân sự. Bị đơn anh Lê Văn N và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Trần Kiến T1 vắng mặt không có lý do nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 227, 228 xét xử vắng mặt đối với anh N và anh T1.
Về nội dung vụ án:
Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Buộc bị đơn anh N có nghĩa vụ trả cho ngân hàng số tiền là 710.794.625 đồng. Trong đó, nợ gốc là 582.080.000 đồng, lãi trong hạn là 127.913.648 đồng và lãi quá hạn là 800.977 đồng. Không chấp nhận yêu cầu về tiền lãi chậm trả là 12.604.286 đồng. Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, anh N phải tiếp tục trả lãi cho ngân hàng theo mức lãi quy định trong hợp đồng tín dụng cho đến khi thanh toán dứt nợ. Trong trường hợp anh N không trả nợ cho ngân hàng hoặc trả nợ không đầy đủ thì ngân hàng có quyền yêu cầu xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
- [1]. Về thủ tục tố tụng:
- [1.1]. Nguyên đơn Ngân hàng TMCP P khởi kiện yêu cầu anh N trả nợ theo hợp đồng tín dụng đã ký kết. Xác định đây là quan hệ pháp luật “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”. Bị đơn anh Lê Văn N có nơi cư trú tại ấp B, thị trấn V, huyện L, tỉnh Hậu Giang. Căn cứ theo quy định tại Điều 26; Điều 35 và Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang.
- [1.2]. Anh N và anh T1 đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ vào quy định tại Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt họ nhưng vẫn đảm bảo quyền, nghĩa vụ của họ theo quy định pháp luật.
- [2].Về nội dung vụ án:
- [2.1]. Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP P, Hội đồng xét xử xét thấy:
- [2.2]. Đối với yêu cầu tính lãi của Ngân hàng TMCP P, xét thấy: Theo Hợp đồng tín dụng số ST21009587/2021/PKH/HĐTD ngày 16/4/2021 và Khế ước nhận nợ số ST21009587/PKH/KUNN ngày 22/4/2021 thỏa thuận lãi suất cho vay: 8,3% năm cố định trong 12 tháng đầu. Từ tháng thứ 13 trở đi, lãi suất cho vay điều chỉnh định kỳ 06 tháng/lần. Biên độ lãi suất tối thiểu 3,5%/năm; Lãi suất quá hạn là 150% lãi suất trong hạn. Anh N đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên Ngân hàng yêu cầu anh N phải trả lãi theo hợp đồng đã thỏa thuận là phù hợp với quy định tại Điều 91 và Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 và khoản 2 Điều 210 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2024.
- [2.3]. Xét thấy, sự thỏa thuận của các bên trong hợp đồng tín dụng là hoàn toàn tự nguyện, không trái với quy định của Luật các tổ chức tín dụng và pháp luật khác có liên quan. Anh N đã vay tiền của Ngân hàng thì phải có nghĩa vụ trả tiền vay theo hợp đồng tín dụng đã ký kết. Việc anh N chậm thực hiện nghĩa vụ thanh toán nợ đã làm ảnh hưởng đến quyền lợi của Ngân hàng. Vì vậy, Ngân hàng TMCP P khởi kiện yêu cầu anh N trả tổng số tiền còn nợ của hợp đồng tín dụng là 723.398.910 đồng là có căn cứ chấp nhận.
- [2.4]. Từ đó, có cơ sở buộc anh N có trách nhiệm trả cho Ngân hàng TMCP P số tiền vay còn nợ tổng cộng 723.398.910 đồng; trong đó vốn gốc là 582.080.000 đồng, lãi trong hạn là 127. 913.648 đồng, lãi quá hạn là 13.405.262 đồng.
- [2.5]. Xét hợp đồng thế chấp tài sản: Để đảm bảo nghĩa vụ trả nợ vay cho Ngân hàng nên bên vay là anh N có ký kết hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số ST21009587/2021/PKH/HĐTC ngày 16/4/2021.
- [2.6]. Đối với việc anh T1 trong vụ kiện này không có yêu cầu độc lập nên không xem xét. Trường hợp anh T1 và anh N có tranh chấp thì anh T1 có quyền khởi kiện thành vụ kiện khác.
Căn cứ vào lời khai của người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án có cơ sở xác định: Giữa Ngân hàng TMCP P và anh Lê Văn N có ký kết Hợp đồng tín dụng số ST21009587/2021/PKH/HĐTD ngày 16/4/2021 và Khế ước nhận nợ số ST21009587/PKH/KUNN ngày 22/4/2021. Căn cứ hợp đồng ngân hàng đã giải ngân cho anh N với số tiền vốn là 635.000.000 đồng. Sau khi nhận nợ thì anh N đã vi phạm nghĩa vụ trả vốn và lãi cho ngân hàng theo như thỏa thuận trong hợp đồng. Tính đến thời điểm xét xử sơ thẩm thì anh N còn nợ Ngân hàng TMCP P số tiền vốn là 582.080.000 đồng. Do anh N đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên Ngân hàng yêu cầu trả số tiền còn nợ theo hợp đồng tín dụng đã ký kết là phù hợp với quy định pháp luật.
Hợp đồng thế chấp tài sản được công chứng và được đăng ký giao dịch bảo đảm theo quy định của pháp luật, nhằm để đảm bảo khả năng trả nợ của anh N cho Ngân hàng TMCP P. Các bên cam kết thế chấp toàn bộ hiện trạng và giá trị đất để đảm bảo cho toàn bộ dư nợ theo hợp đồng tín dụng đã ký kết với Ngân hàng TMCP P. Hợp đồng thế chấp trên do chủ thể luật định ký kết xác lập, tài sản thế chấp đúng chủ sở hữu, có giấy tờ chứng nhận quyền sử dụng đất hợp pháp. Tại thời điểm ký kết đăng ký giao dịch bảo đảm các chủ thể có đầy đủ năng lực hành vi dân sự và có đăng ký giao dịch bảo đảm tại các cơ quan có thẩm quyền nên hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số ST21009587/2021/PKH/HĐTC ngày 16/4/2021 có hiệu lực.
Như vậy, trong trường hợp anh N không thanh toán hết nợ thì Ngân hàng TMCP P có quyền yêu cầu phát mãi tài sản theo hợp đồng thế chấp tài sản đã ký kết để thu hồi nợ theo quy định pháp luật.
- [3]. Về án phí:
- [4]. Chi phí tố tụng:
- [5]. Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Mỹ về nội dung vụ án:
Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; anh N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là: 20.000.000 đông + 4% trên tổng số tiền phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ vượt quá 400.000.000 đồng được tính cụ thể như sau: 20.000.000 đồng + (323.398.910 đồng x 4%) = 32.935.956 đồng. Ngân hàng TMCP P được nhận lại số tiền tạm ứng án phí là 15.000.000 đồng theo lai thu số 0010037 phiếu lập ngày 02/5/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Long Mỹ.
Căn cứ Điều 158 Bộ luật tố tụng dân sự buộc anh Lê Văn N phải nộp số tiền 5.000.000 đồng để hoàn trả cho Ngân hàng TMCP P.
Hội đồng xét xử thống nhất chấp nhận một phần đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, buộc anh N phải trả cho ngân hàng số nợ gốc là 582.080.000 đồng, lãi trong hạn là 127.913.648 đồng và lãi quá hạn là 800.977 đồng. Tuy nhiên, đối với đề nghị không chấp nhận yêu cầu về tiền lãi chậm trả là 12.604.286 đồng là chưa phù hợp với quy định của pháp luật, nên Hội đồng xét xử không chấp nhận. Vì giữa anh N và ngân hàng đã ký kết Hợp đồng tín dụng số ST21009587/2021/PKH/HĐTD ngày 16/4/2021 và Khế ước nhận nợ số ST21009587/PKH/KUNN ngày 22/4/2021. Theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 8 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạm vi phạm quy định: “b.Trường hợp khách hàng không trả đúng hạn tiền lãi trên nợ gốc theo thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng, thì phải trả lãi chậm trả theo mức lãi suất do tổ chức tín dụng và khách hàng thỏa thuận nhưng không vượt quá mức lãi suất giới hạn mà pháp luật quy định tương ứng với thời gian chậm trả lãi trên nợ gốc trong hạn”. Tại điểm b khoản 4 Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng N1 quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng quy định: “b. Trường hợp khách hàng không trả đúng hạn tiền lãi theo quy định tại điểm a khoản này, thì phải trả lãi chậm trả theo mức lãi suất do tổ chức tín dụng và khách hàng thỏa thuận nhưng không vượt quá 10%/năm tính trên số dư lãi chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả”. Tại khoản 2 Điều 5 của hợp đồng tín dụng các bên có thỏa thuận “Trường hợp bên vay không thanh toán lãi đúng hạn thì Bên vay phải chịu phạt chậm trả lãi với số Tiền lãi chậm trả bằng (=) Số tiền lãi chậm trả nhân (x) Số ngày chậm trả lãi (x) lãi suất chậm trả (%/năm) chia cho (:) 365. Lãi chậm trả là 10%/năm...”. Như vậy, thỏa thuận giữa ngân hàng và anh Nghĩa L phù hợp với quy định của pháp luật nên có cơ sở để Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 26, 35, 39, 147, 227, 228 và 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Áp dụng Điều 91, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 và khoản 2 Điều 210 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2024.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần P đối với anh Lê Văn N.
- Buộc anh Lê Văn N có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần P số tiền vay còn nợ tổng cộng 723.398.910 đồng; trong đó vốn gốc là 582.080.000 đồng, lãi trong hạn là 127.913.648 đồng, lãi quá hạn là 13.405.262 đồng.
- Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, khách hàng vay còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
- Trong trường hợp anh Lê Văn N không thanh toán hoặc thanh toán không hết nợ thì Ngân hàng thương mại cổ phần P có quyền yêu cầu xử lý tài sản mà anh N đã thế chấp theo hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số ST21009587/2021/PKH/HĐTC ngày 16/4/2021. Tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở thuộc thửa đất số 751, tờ bản đồ số 19, phần đất tại ấp L, xã H, huyện Đ, tỉnh Long An theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CX 307364, số vào sổ cấp GCN: CS 05016 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L cấp ngày 29/7/2020, cập nhật thông tin chuyển nhượng ngày 24/3/2021.
- Án phí dân sự sơ thẩm: Buộc anh Lê Văn N phải chịu là 32.935.956 đồng. Ngân hàng Thương mại Cổ phần P được nhận lại số tiền tạm ứng án phí là 15.000.000 đồng theo lai thu số 0010037 phiếu lập ngày 02/5/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Long Mỹ.
- Chi phí tố tụng: Buộc anh Lê Văn N phải nộp số tiền 5.000.000 đồng để hoàn trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần B.
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
- Nguyên đơn được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (20/9/2024). Bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết, tống đạt hợp lệ.
Nơi nhận:
- - TAND tỉnh Hậu Giang;
- - VKSND huyện Long Mỹ;
- - Chi cục THADS huyện Long Mỹ;
- - Các đương sự;
- - Lưu hồ sơ.
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Ngọc Thới Phần |
Bản án số 63/2024/DS-ST ngày 20/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG MỸ, TỈNH HẬU GIANG về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 63/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG MỸ, TỈNH HẬU GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng O khởi kiện anh N yêu cầu trả số tiền vay theo hợp đồng tín dụng
