TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ KIẾN TƯỜNG TỈNH LONG AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 63/2024/DS-ST Ngày: 17-9-2024 V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ KIẾN TƯỜNG, TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Phương
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Phan Văn Truyện;
- Bà Nguyễn Thị Hiền.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Thanh Dung – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Kiến Tường, tỉnh Long An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Kiến Tường tham gia phiên tòa:
Bà Nguyễn Thị Mỹ Tiên – Kiểm sát viên.
Trong ngày 17 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Kiến Tường, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 93/2024/TLST-DS ngày 12 tháng 6 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 76/2024/QĐXXST-DS ngày 14 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 67/2024/QĐST-DS ngày 29 tháng 8 năm 2024; giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP B (gọi tắt: Ngân hàng);
Người đại diện theo pháp luật: Ông Hồ Nam T– Tổng Giám đốc; địa chỉ trụ sở: LBP T, số B, T, phường T, quận H, Thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Tấn T1 – Phó Giám đốc - Ngân hàng TMCP B – Chi nhánh L; địa chỉ: Số A, H, Phường B, thành phố T, tỉnh Long An.
Người đại diện theo ủy quyền lại của ông T1: Ông Nguyễn Văn T2 – Giám đốc Phòng G - Chi nhánh L - Ngân hàng TMCP B; địa chỉ: Số A, Đường C, Phường A, thị xã K, tỉnh Long An.
(Theo Giấy ủy quyền số 363/2024/UQ-LPBank ngày 16/4/2024)
- Bị đơn: Ông Võ Minh D, sinh năm 1968; địa chỉ: Khu phố E, Phường B, thị xã K, tỉnh Long An.
2
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Võ Triều V, sinh năm 1997;
- Ông Võ Triều N, sinh ngày 31/11/2005;
Cùng địa chỉ: Khu phố E, Phường B, thị xã K, tỉnh Long An.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 14/5/2024 và trong quá trình xét xử, nguyên đơn Ngân hàng TMCP B do người đại diện trình bày:
Ông Võ Minh D và vợ là bà Lê Thị Kiều N1 (đã chết ngày 17/6/2022) có vay tại Ngân hàng số tiền 200.000.000 đồng, phương thức cho vay từng lần, mục đích vay để tiêu dùng cá nhân, thời hạn vay 60 tháng (từ ngày 22/02/2020 đến ngày 21/02/2025); lãi suất trong hạn 11,4%/năm và theo phương thức thả nổi, điều chỉnh lãi suất 03 tháng/lần, theo hợp đồng tín dụng kiêm khế ước nhận nợ số HD012102200416D ngày 21/02/2020. Tính đến ngày 03/5/2024, ông D và bà N1 nợ Ngân hàng số tiền tổng cộng là 80.325.044 đồng; trong đó, tiền gốc là 67.934.996 đồng; tiền nợ lãi là 8.054.357 đồng; tiền nợ lãi chậm trả gốc là 3.925.010 đồng và tiền nợ lãi chậm trả lãi là 410.681 đồng; khoản vay không có tài sản bảo đảm. Quá trình sử dụng vốn ông D và bà N1 không thực hiện đúng như cam kết đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng nên khoản vay đã chuyển sang nợ quá hạn ngày 25/5/2023.
Ngân hàng yêu cầu ông Võ Minh D và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Võ Triều V và ông Võ Triều N thanh toán cho Ngân hàng tổng số tiền tạm tính đến ngày 03/5/2024 là 80.325.044 đồng; yêu cầu tiếp tục tính lãi quá hạn đến ngày xét xử theo quy định tại hợp đồng tín dụng số HD012102200416D ngày 21/02/2020.
Bị đơn ông Võ Minh D và ông Võ Triều V và ông Võ Triều N đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, nhưng đương sự không giao nộp tài liệu, chứng cứ nào có liên quan đến vụ án; không có yêu cầu và không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Toà án đã thông báo các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải nhưng bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đều vắng mặt nên vụ án không tiến hành hoà giải được.
Tại phiên toà, người đại diện của nguyên đơn xác định theo đơn khởi kiện thì Ngân hàng chỉ khởi kiện đối với ông Võ Minh D yêu cầu trả nợ vay; không khởi kiện đối với ông Võ Triều V và Võ Triều N.
Nguyên đơn yêu cầu bị đơn ông D trả nợ gốc 67.884.741 đồng và nợ lãi 10.646.458 đồng, lãi chậm trả gốc 12.215.692 đồng và tiền lãi chậm trả lãi 801.888 đồng tính đến ngày 17/9/2024; tổng cộng là 91.548.778 đồng và yêu cầu ông D tiếp tục trả lãi trên số tiền nợ gốc theo thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng đến khi trả xong nợ.
3
Ông Võ Triều V không có ý kiến đối với yêu cầu của nguyên đơn.
Ông Võ Minh D, ông Võ Triều N vắng mặt không lý do.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Kiến Tường phát biểu quan điểm:
Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự; các đương sự có mặt đã tuân thủ pháp luật kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án.
Về nội dung vụ án:
Theo hồ sơ vụ án và qua tranh tụng tại phiên tòa cho thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP B đối với bị đơn ông Võ Minh D là có căn cứ pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với bị đơn. Bị đơn phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thẩm quyền và quan hệ pháp luật: Ngân hàng TMCP B khởi kiện yêu cầu ông Võ Minh D trả tiền gốc và tiền lãi theo hợp đồng tín dụng số HD012102200416D ngày 21/02/2020. Căn cứ khoản 3 Điều 26, các Điều 35, 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Toà án xác định quan hệ pháp luật tố tụng là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Kiến Tường, tỉnh Long An theo thủ tục sơ thẩm.
[2] Về tư cách tố tụng: Nguyên đơn Ngân hàng không khởi kiện ông Võ Triều V và ông Võ Triều N nhưng Tòa án xác định ông V và ông N bị đơn trong vụ án là chưa đúng tư cách tố tụng. Căn cứ khoản 4 Điều 68 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử xác định ông V và ông N là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án.
[3] Về thủ tục tố tụng: Ông Võ Minh D và ông Võ Triều N đã được Toà án triệu tập hợp lệ lần thứ hai, nhưng vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Căn cứ theo các Điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Toà án vẫn tiến hành xét xử vụ án.
[4] Về phạm vi xét xử: Nguyên đơn Ngân hàng yêu cầu bị đơn ông D trả nợ. Bị đơn không có yêu cầu phản tố; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu độc lập trong vụ án. Căn cứ khoản 1 Điều 5 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử chỉ giải quyết yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và xem xét hậu quả theo quy định pháp luật.
[5] Về hợp đồng tín dụng: Hợp đồng tín dụng số HD012102200416D ngày 21/02/2020 giữa Ngân hàng với ông Võ Minh D và bà Lê Thị Kiều N1 (đã chết ngày 17/6/2022), được giao kết để thỏa thuận vay số tiền 200.000.000 đồng; thời hạn
4
vay 60 tháng (từ ngày 22/02/2020 đến ngày 21/02/2025); phương thức cho vay từng lần; mục đích vay để tiêu dùng cá nhân; lãi suất trong hạn 11,4%/năm và theo phương thức thả nổi, điều chỉnh lãi suất 03 tháng/lần. Như vậy, hợp đồng tín dụng được xác lập theo ý chí tự nguyện của các bên; mục đích, nội dung của hợp đồng không vi phạm điều cấm của pháp luật; không trái đạo đức xã hội và hình thức phù hợp với quy định tại các Điều 117, 119, 463 của Bộ luật Dân sự năm 2015; các Điều 90, 91 của Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010, sửa đổi bổ sung năm 2017, nên có hiệu lực pháp luật và phát sinh về quyền và nghĩa vụ của các bên kể từ thời điểm giao kết.
[6] Thực hiện nghĩa vụ hợp đồng, Ngân hàng đã chuyển giao cho ông D và bà N1 số tiền 200.000.000 đồng vào ngày 21/02/2020, nhưng ông D, bà N1 đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo thỏa thuận nên khoản vay đã chuyển sang nợ quá hạn ngày 25/5/2023; tính đến ngày 17/9/2024 thì tiền nợ gốc 67.884.741 đồng; tiền nợ lãi trong hạn là 10.646.458 đồng; tiền lãi chậm trả gốc 12.215.692 đồng và tiền lãi chậm trả lãi 801.888 đồng. Cho nên Ngân hàng yêu cầu ông D có nghĩa vụ trả nợ gốc và nợ lãi tổng cộng là 91.548.778 đồng và yêu cầu tiếp tục trả lãi theo thỏa thuận thuận trong hợp đồng tín dụng là có căn cứ pháp luật.
[7] Như đã phân tích trên, có căn cứ chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn đối với bị đơn. Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp là có căn cứ nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
[8] Án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn phải chịu toàn bộ án phí theo quy định pháp luật. Nguyên đơn được trả lại tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 26, 35, 39, 147, 227, 228, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ vào các Điều 463, 466 của Bộ luật Dân sự năm 2015; các Điều 90, 91 của Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 210 của Luật Các tổ chức tín dụng năm 2024 và các Điều 26, 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử;
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP B đối với ông Võ Minh D về tranh chấp hợp đồng tín dụng số HD012102200416D ngày 21/02/2020.
Buộc ông Võ Minh D phải trả cho Ngân hàng TMCP B tiền nợ gốc và tiền nợ lãi tính đến ngày 17/9/2024, tổng cộng là 91.548.778 đồng.
5
Kể từ ngày tiếp theo của ngày 17/9/2024 cho đến khi thi hành xong nghĩa vụ trả tiền, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng số HD012102200416D ngày 21/02/2020 giữa Ngân hàng TMCP B với ông Võ Minh D và bà Lê Thị Kiều N1 (đã chết).
Án phí dân sự sơ thẩm:
Buộc ông Võ Minh D phải nộp 4.577.400 đồng.
Hoàn trả cho Ngân hàng TMCP B tiền tạm ứng án phí đã nộp là 2.008.000 đồng theo biên lai thu số 0003269 ngày 10/6/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Kiến Tường, tỉnh Long An.
Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Về hướng dẫn thi hành án: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Phương |
Bản án số 63/2024/DS-ST ngày 17/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ KIẾN TƯỜNG, TỈNH LONG AN về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 63/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ KIẾN TƯỜNG, TỈNH LONG AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: LVB tranh chấp hợp đồng tín dụng với Võ Minh Dũng
